Lý thuyết chung về tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập
1.1. Tăng trưởng kinh tế
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc
quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian
nhất định.
Có thể nói bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự đảm bảo sự gia tăng cả
quy mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người.
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế ta sử dụng công thức sau:
Y
t
- Y
t-1
G
t
=
Y
t-1
Trong đó: G
t
là tốc độ tăng trưởng năm t
Y
t
là GDP (giá trị sản lượng) thực tế năm t tính theo giá năm cơ sở
Y
t-1
là GDP (giá trị sản lượng) thực tế năm t-1 tính theo giá năm cơ sở
Ta cũng có thể đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua thu nhập
bình quân đầu người
nghệ làm cho công việc của cá nhân đó không cần nữa.
Quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn cho rằng, những lao động
với trình độ học vấn cao hơn được trả lương cao hơn bởi vì học vấn làm cho
họ có năng suất cao hơn. Theo quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn,
một chính sách nhằm làm tăng trình độ học vấn của người lao động sẽ làm
tăng tiền lương của họ. Theo quan điểm phát tín hiệu về học vấn, trình độ học
vấn cao hơn không có ảnh hưởng gì đến năng suất hay tiền lương. Có bằng
chứng cho thấy rằng học vấn không làm tăng năng suất và tiền lương, do vậy
trình độ học vấn có thể chỉ là một tín hiệu phản ánh năng lực của người lao
động. Những lợi ích đem lại từ việc đi học có lẽ là một sự kết hợp giữa các
hiệu ứng phát tín hiệu và hiệu ứng tư bản con người.
Thứ hai là bất bình đẳng thu nhập từ tài sản. Nó xuất phát từ nguồn lực tự
có của mỗi người, từ những tài sản mà họ đang nắm giữ, những tài sản này có
được có thể là từ tiết kiệm tích lũy nên, có thể là do đầu tư, kinh doanh mà sinh
lời hoặc đơn giản hơn là có được từ thừa kế tài sản. Tất cả những điều này tạo
nên sự bất bình đẳng thu nhập gia tăng.
Ngoài ra, thu nhập có thể khác nhau do sự phân biệt đối xử. Sự phân biệt
đối xử là việc tạo ra các cơ hội khác nhau cho các cá nhân tương tự nhau chỉ
khác nhau về chủng tộc, sắc tộc, giới tính, tuổi tác hoặc các đặc điểm cá nhân
khác.
1.2.3. Thước đo về bất bình đẳng thu nhập
Trên thế giới có nhiều phương pháp đo lường mức độ bất bình đẳng thu
nhập, sau đây ta sẽ đi tìm hiểu về một số phương pháp đo lường
Thứ nhất là đường cong Loren và hệ số Gini
Đường cong Loren biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân số và tỷ lệ thu
nhập tương ứng của họ. Trục hoành biểu thị phần trăm cộng dồn của dân số
và được sắp xếp theo thứ tự thu nhập tăng dần. Trục tung là tỷ lệ trong tổng
thu nhập mà mỗi phần trăm trong số dân nhận được.
% thu nhập cộng dồn
N
∑
i=1
n
¿
Trong đó xi là thu nhập của người thứ i, x là thu nhập trung bình, N là số
người. Số hạng đầu bên trong dấu ngoặc là tỷ trọng của thu nhập cá nhân đó
so với thu nhập trung bình. Nếu tất cả mọi người đều có thu nhập như nhau
(bằng thu nhập trung bình) thì khi đó chỉ số này sẽ bằng 0. Nếu một người có
tất cả thu nhập thì khi đó chỉ số này bằng lnN
Một ưu điểm của chỉ số Theil là có thể phân rã được, theo nghĩa đó là
tổng bình quân gia quyền của sự bất bình đẳng trong các nhóm.
Thứ ba, tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20%
dân số nghèo nhất của một nước
Tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20% dân số
nghèo nhất của một nước là tỷ số trong đó tử số là thu nhập/tiêu dùng trên đầu
người của nhóm 20% người giàu nhất và mẫu số là thu nhập/tiêu dùng đầu
người của nhóm người nghèo nhất. Cũng có thể thay số 20% bằng một con số
phần trăm khác. Đây là một đại lượng được sử dụng rất phổ biến ở cả các
nước phát triển và đang phát triển.
Hạn chế chính của thước đo xác định sự bất bình đẳng này là bỏ qua thu
nhập/tiêu dùng của 60% dân số có mức thu nhập/tiêu dùng trung bình và nó
cũng không tính đến sự phân bố thu nhập/tiêu dùng trong các nhóm người
nghèo nhất và giàu nhất.
Thứ tư, tỷ trọng thu nhập/tiêu dùng của x% người nghèo nhất
Một điểm bất lợi của cả hệ số Gini và chỉ số Theil là chúng thay đổi khi
phân phối thu nhập thay đổi, bất kể sự thay đổi đó xảy ra ở nhóm có thu nhập
nào, nhóm có thu nhập cao nhất, trung bình hay thấp nhất (chúng thay đổi khi
có bất kỳ sự chuyển giao thu nhập nào giữa hai cá nhân). Vì vậy chỉ tiêu đo
lường tỷ trọng thu nhập của x% người nghèo nhất là một thước đo tốt hơn, nó
tăng trưởng. Khu vực này có nhiệm vụ giải quyết lao động thất nghiệp trá hình
của khu vực nông nghiệp bằng cách chuyển bộ phận này sang khu vực của
mình. Ricardor còn cho rằng do khu vực nông nghiệp dư thừa lao động vì vậy
có thể lôi kéo lao động từ nông nghiệp sang mà không phải tăng lương cho bộ
phận này. Khu vực công nghiệp sẽ có lợi nhuận biên tăng dần theo quy mô và
sẽ kéo theo sự tăng trưởng kinh tế, đi cùng với nó là sự gia tăng bất bình đẳng
thu nhập giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thêm vào đó ông ủng hộ quy luật
sắt về tiền lương, điều này sẽ dẫn đến tình trạng tăng trưởng đi đôi với bất
bình đẳng tăng cao.
1.3.2. Lý thuyết của Mac
Xác định rõ các khái niệm về phân phối kết quả sản xuất và thu nhập,
C.Mac đã chỉ ra rằng tổng sản phẩm xã hội trước hết phải bù đắp lại những tư
liệu sản xuất đã tiêu dùng, phần giá trị mới tạo ra được phân phối theo những
nguyên tắc sau:
•Để xã hội có thể tồn tại, về lượng không thể phân phối cho tiêu dùng
cá nhân vượt quá khối lượng thu nhập của xã hội
•Trong mọi chế độ xã hội, phân phối thu nhập trước hết phải có vai trò
đảm bảo tái sản xuất lại sức lao động của xã hội