Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam chi nhánh phú thọ trong giai đoạn hiện nay , luận văn thạc sĩ - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
------------------

NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHÚ THỌ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – ngân hàng
Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: NGND TS.NGUYỄN VĂN HÀ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2009


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu, biểu đồ
Lời mở đầu...........................................................................................................................
1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu ...............................................................
2. Mục tiêu nghiên cứu .........................................................................................................
3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................................

4
4
4
4
8
11
13
13
14
14
15
17
18
19
20
25
25
25
28
30

1.3.1. Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn
nhiều rủi ro............................................................................................................................ 30
1.3.2. Hiệu quả kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro ................................. 30
1.3.3. Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động kinh
doanh của NHTM .................................................................................................................


31
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương

3.1.3. Định hướng và mục tiêu kinh doanh của NHNT Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay......................................................................................................................................... 68
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNT Phú Thọ.................................. 70
3.3. Một số kiến nghị với ngân hàng nhà nước................................................................. 78


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

- NHNN: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
- NHNT: Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
- NHNT Phú Thọ: Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi
nhánh Phú Thọ
- NHTM: Ngân hàng thương mại
- NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
- TCTD: Tổ chức tín dụng
- TMCP: Thương mại cổ phần


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Trang
1. Bảng biểu:
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn .......................................................................... 39
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn và dư nợ tín dụng ............................................. 44
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay theo loại tiền tệ................................................................ 46
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay theo thời hạn ................................................................... 47
Bảng 2.5: Dư nợ cho vay theo mục đích vay ........................................................... 48
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay theo hình thức đảm bảo................................................... 49
Bảng 2.7: Tình hình nợ quá hạn tại NHNT Phú Thọ ............................................... 57
Bảng 2.8: Số liệu phân loại nợ tại NHNT Phú Thọ ................................................. 58
2. Biểu đồ:

Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” để làm
luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào 3 nội dung chính sau:


2

- Hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về tín dụng, chất lượng tín dụng
cũng như các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng…
- Nghiên cứu hiệu quả của hoạt động tín dụng, thực trạng chất lượng hoạt
động tín dụng tại NHNT Phú Thọ để thấy được những mặt đạt được, những mặt còn
tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đưa ra được các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHNT Phú Thọ.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nội dung luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các lý luận về tiền tệ, tín
dụng ngân hàng; cũng như quán triệt những tư tưởng, đường lối của Đảng, Nhà
nước về đổi mới quản lý kinh tế và phát triển hệ thống ngân hàng theo cơ chế thị
trường trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển và trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và TP.HCM nói riêng trong điều kiện hiện nay.
- Bên cạnh đó, để luận văn mang tính khoa học và thực tiễn cao, tôi cũng đã
sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để làm cơ sở lý luận.
- Về phương pháp phân tích, luận văn áp dụng phương pháp so sánh và phân
tích các chỉ tiêu kinh tế để đo lường kết quả kinh doanh của Ngân hàng. Luận văn
nghiên cứu, xem xét các sự kiện trong một phạm vi nhất định; đặt các sự kiện vào
trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với các hiện tượng kinh
tế khác và xuất phát từ thực tế khách quan của nền kinh tế.
- Về dữ liệu, luận văn tiến hành thu thập thông tin, dữ liệu từ các nguồn như:

(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và
các chủ thể khác), trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Như vậy, bản chất của tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và
có các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức
là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển vay tài
sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả nợ đúng
hạn. Thực tế một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở
đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính
quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
- Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Hay nói cách khác, người
vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý được thể hiện ở những văn bản xác định
quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước… trong đó, bên vay cam kết hoàn
trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
Kinh tế thị trường càng phát triển, thì các ngân hàng càng phải nghiên cứu
đưa ra các hình thức tín dụng đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách
hàng, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, phân


5

tán rủi ro và nâng cao vị thế cạnh tranh. Chính vì vậy, ngân hàng cung cấp rất nhiều
loại tín dung, cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác
nhau.

- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm (Việt Nam) và trên
7 năm đối với các nước trên thế giới.
Tín dụng dài hạn nhằm đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng cơ
bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng
biển, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư
thường kéo dài nên tín dụng dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần
theo tiến độ dự án.
1.1.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Tín dụng không đảm bảo: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân
khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả
năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
- Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng được ngân hàng cung ứng phải có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng không
có uy tín cao, hay đối với trường hợp cho vay với mức độ rủi ro cao, khi vay vốn
đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm
nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn, tạo áp lực
buộc người vay phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
1.1.2.4. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng:
- Tín dụng bằng tiền: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó được cung
cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của ngân hàng và thực hiện bằng các kỹ
thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng trả góp….
- Tín dụng bằng tài sản: là hình thức tín dụng mà hình thái giá trị của nó là
bằng tài sản. Riêng đối với ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến
đó là tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này, ngân hàng hoặc các công ty


7


8

Ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
- Chiết khấu thương mại: người thụ hưởng hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn
trong hạn thanh toán có thể nhượng lại cho ngân hàng. Trong trường hợp này ngân
hàng cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa
hồng phí. Khi các chứng từ này đến hạn thanh toán người thụ lệnh hối phiếu hoặc
người phát hành lệnh phiếu có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng. Trong nghiệp
vụ chiết khấu thương mại người được cấp tín dụng và người chịu trách nhiệm thanh
toán chính cho ngân hàng là hai người khác nhau.
- Mua các khoản nợ của doanh nghiệp (nghiệp vụ factoring)
1.1.3. Các hình thức cấp tín dụng:
Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo
quy định của NHNN. Trong đó, hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lợi
chủ yếu của các NHTM. Hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú. Một số loại
hình tín dụng chủ yếu hiện nay như sau:
1.1.3.1. Cho vay ứng trước:
Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cung cấp cho người đi vay một
khoản tiền vay nhất định để sử dụng trước. Người đi vay phải trả lãi vào lúc hoàn
trả vốn gốc. Cho vay ứng trước có hai loại:
* Cho vay ứng trước có bảo đảm:
- Bảo đảm bằng các động sản như hàng hóa, tài sản hay chứng từ có giá: là
cho vay dựa trên cơ sở cầm cố tại ngân hàng các tài sản, có thể là hiện vật như vật
tư hàng hóa, hoặc giấy sở hữu hàng hóa, các chứng từ thanh toán, chứng từ có giá,
vàng bạc đá quý, ngoại tệ…. Số tiền cho vay bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị tài
sản cầm cố, tỷ lệ này cao hay thấp là tùy vào quan hệ của ngân hàng và khách hàng,
uy tín của khách hàng. Ngân hàng sẽ quản lý tài sản cầm cố trong suốt thời gian vay
và chỉ hoàn trả lại khi thu đủ nợ gốc và lãi. Trong trường hợp người đi vay không
có khả năng trả nợ khi đến hạn, ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố để thu nợ.

hàng sử dụng (thấu chi) thì mới được coi là tín dụng được cấp phát và bắt đầu tính


10

lãi. Hình thức cho vay này thường chỉ áp dụng cho những khách hàng có khả năng
tài chính tốt và có uy tín.
1.1.3.4. Cho vay chiết khấu:
Là cho vay dưới hình thức ngân hàng thương mại mua lại các thương phiếu
chưa đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghi trên thương phiếu. Khi đến hạn,
ngân hàng sẽ đòi toàn bộ số tiền ghi trên thương phiếu từ người trả tiền thương
phiếu. Phần lãi của ngân hàng là chệnh lệch giữa giá mua và số tiền ghi trên thương
phiếu.
1.1.3.5. Bao thanh toán:
Là nghiệp vụ trong đó công ty factor – công ty con của ngân hàng cam kết
mua lại các khoản thanh toán chưa tới hạn phát sinh từ những hoạt động xuất khẩu,
cung ứng hàng hóa dịch vụ.
1.1.3.6. Tín dụng thuê mua:
Là hình thức tín dụng trung dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê
tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác. Trong thức tế,
ngân hàng thường thành lập công ty con chuyên trách nghiệp vụ này – công ty tài
chính thuê mua. Công ty sẽ dùng vốn của mình để mua tài sản theo yêu cầu của
người thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài
sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được hai bên thỏa thuận. Khi
hết thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua tại hoặc tiếp tục thuê
tài sản đó tùy theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng. Số tiền thuê phải bù
đắp được chi phí khấu hao, chi phí tài chính (ứng với lãi của số vốn bỏ ra mua tài
sản), chi phí quản lý, lãi của người cho thuê.
1.1.3.7. Tín dụng bằng chữ ký:
Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực tiếp cho khách hàng

tổ chức, cá nhân nước ngoài.
1.1.4. Vai trò của tín dụng
1.1.4.1. Đối với nền kinh tế:


12

- Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển vốn
từ những người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư
đến những người thiếu hụt. Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư kinh doanh mà
còn dùng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng không giới hạn chỉ trong chức năng truyền
thống là luân chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn giúp phân bổ hiệu quả
các nguồn lực trong nền kinh tế. Thông qua tín dụng ngân hàng mà vốn từ những
người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án
đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn. Kết quả là kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn
việc làm, và nâng cao năng suất lao động.
- Thứ ba, thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành nghề, khu
vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề đó, hình thành
nên cơ cấu hiện đại, hợp lý và hiệu quả.
- Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết
thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng. Các NHTM
khi thực hiện cấp tín dụng cho nền kinh tế, tức là đã tạo ra khả năng cung ứng tiền
tệ. Ngược lại, khi NHNN thu hẹp tín dụng tức làm giảm lượng tiền trong lưu thông.
NHNN sử dụng tín dụng như một công cụ điều tiết lưu thông tiền tệ qua việc thực
hiện chính sách tiền tệ như dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, hạn mức tín
dụng, công cụ thị trường mở,…. Hơn nữa, quá trình hoạt động tín dụng ngân hàng
gắn liền việc thanh toán không dùng tiền mặt góp phần giảm bớt lượng tiền mặt lưu
thông trên thị trường nhằm mục đích ổn định lưu thông tiền tệ.
Do đó, trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát, tín dụng được xem như là một

danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro.
- Thứ ba, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng mở rộng được các loại
hình dịch vụ khác như thanh toán, thu hút tiền gởi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn….
1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.2.1. Chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung trong đó
có nội dung quan trọng và có tính lượng hóa nhất là phản ánh mức độ rủi ro và sinh


14

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Để phản ánh chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng người ta
thường quan tâm đến hệ thống các chỉ tiêu định lượng sau:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn:
Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả
được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay. Nợ quá hạn thường là biểu hiện
yếu kém về tài chính của khách hàng và là dấu hiệu rủi ro cho ngân hàng. Trong
hoạt động tín dụng ngân hàng nợ quá hạn phát sinh là không thể tránh khỏi, nhưng
nếu nợ quá hạn vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán của
ngân hàng. Có các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn sau:
• Tỷ lệ nợ quá hạn:
Số dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =

x 100%
Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi
được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện tại có bao nhiêu đồng đã

quá hạn để biết nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng lớn hay khách hàng
nhỏ.
• Chỉ tiêu khả năng thu hồi nợ quá hạn:
Để đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng, người ta còn phân loại nợ
quá hạn theo hai tiêu chí sau:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu:
Để hình thành chỉ tiêu phản ánh nợ xấu, chúng ta phải căn cứ vào việc phân
loại nợ của các NHTM. Hiện nay theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22/04/2005 (gọi tắt là QĐ 493) và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày
25/04/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam “v/v sửa đổi, bổ sung một số điều của


16

Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005”, thì dư nợ cho vay của các TCTD được
chia làm 5 nhóm:
+ Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): gồm các khoản nợ trong hạn mà các TCTD
đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; các khoản nợ
quá hạn dưới 10 ngày được các TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đúng hạn; các
khoản nợ gốc và lãi quá hạn đã được trả đầy đủ, đồng thời các khoản nợ gốc và lãi
đến hạn tiếp theo được khách hàng trả nợ đúng hạn trong vòng 3 tháng đối với
khoản nợ ngắn hạn, 6 tháng đối với các khoản nợ trung dài hạn.
+ Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến
90 ngày; các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
+ Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91
ngày đến 180 ngày; các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ

quá trình tiếp cận an toàn vốn, không chỉ nhằm mục đích phân loại nợ, mà còn
nhằm đánh giá rủi ro khoản vay, quản lý chất lượng tín dụng.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng:
• Tỷ lệ lợi nhuận từ tín dụng:
Lãi từ tín dụng
Tỷ lệ lợi nhuận từ tín dụng =

x 100%
Tổng lợi nhuận

Xét cho cùng, ngoài các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu,… thì chất lượng tín
dụng phải được phản ánh bởi tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Chỉ tiêu này cho
biết, cứ trong 100 đồng tổng lợi nhuận thì có bao nhiêu đồng là do tín dụng mang
lại. Lợi nhuận do hoạt động tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay không những
thu hồi được vốn gốc mà còn cả lãi, đảm bảo an toàn cho vốn vay.
• Tỷ lệ sinh lời của tín dụng:
Lãi từ tín dụng
Tỷ lệ sinh lời của tín dụng =

x 100%
Tổng dư nợ bình quân


18

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, nó cho biết
số tiền lãi thu được trên 100 đồng dư nợ là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng cao chứng
tỏ chất lượng tín dụng càng tốt.
• Chênh lệch đầu vào đầu ra:
Thu lãi tín dụng – Chi lãi vốn huy động


- Thứ nhất, tại địa bàn hoạt động, nhu cầu vay vốn đầu tư là rất lớn trong khi
khả năng huy động vốn là rất khó. Để giải quyết mâu thuẫn này buộc ngân hàng phải
đi vay từ các ngân hàng khác hoặc từ trung ương để cho vay lại. Trong trường hợp
này thì hệ số H lớn hơn 100% nhiều. Do phải đi vay với chi phí cao nên có thể làm
cho hiệu quả hoạt động của tín dụng giảm.
- Thứ hai, tại địa bàn hoạt động nhu cầu vay vốn là rất ít, trong khi đó khả
năng huy động vốn lại rất cao. Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc ngân hàng phải cho
các ngân hàng khác vay lại hoặc gởi tiền về trung ương. Trong trường hợp này thì hệ
số H nhỏ hơn 100% rất nhiều. Do phải cho vay lại nguồn vốn huy động với lãi suất
thấp hoặc gởi tiền tại ngân hàng trung ương, các TCTD khác với lãi suất thấp nên có
thể làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Do đó, nếu chỉ nhìn vào kết quả của tỷ lệ này thì chưa thể khẳng định được là
tốt hay xấu. Chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp chúng ta so sánh khả năng cho
vay và huy động vốn của ngân hàng.
1.2.2.5. Các chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro tín dụng:
• Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:
DPRR tín dụng trích lập
Tỷ lệ trích lập DPRR tín dụng =

x 100%
Dư nợ bình quân

Tùy theo cấp độ rủi ro mà tổ chức tín dụng phải trích lập DPRR từ 0 đến
100% giá trị của từng khoản cho vay (sau khi trừ giá trị tài sản bảo đảm đã được định
giá lại). Như vậy, nếu một ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì tỷ lệ trích
lập dự phòng cũng sẽ càng cao.
• Tỷ lệ xóa nợ:
Xóa nợ
Tỷ lệ xóa nợ =

- Công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính: 30%
- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 20%
Thông tư này thay thế các quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn
được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn của tổ chức tín dụng theo Quyết định số
457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. So với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status