MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1
VINACONEX 1
2.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG THỜI GIAN TỚI
Năm 2008 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006 - 2010 theo
tinh thần Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng, lại là năm mà tình hình kinh tế thế giới
và trong nước biến động rất phức tạp, khó lường, thậm chí vận động theo những xu
hướng trái chiều, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của ngành xây dựng
trong việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2008.
Nhìn lại năm qua, nhờ có sự cố gắng cao độ của cán bộ, công nhân viên
chức và tập thể lao động, toàn ngành xây dựng đã đạt được những thành tựu to
lớn, hoàn thành các nhiệm vụ năm 2008 trên tất cả các lĩnh vực: Quản lý Nhà
nước, dịch vụ công, sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển và phát triển nguồn
nhân lực, bảo đảm việc làm và an sinh xã hội, góp phần vào thành tựu chung
của cả nước.
Với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là xây dựng đồng bộ, đầy đủ và hoàn
chỉnh hệ thống pháp luật theo hướng phủ kín các lĩnh vực quản lý ngành, năm
2008, Bộ Xây dựng đã tích cực nghiên cứu và ban hành nhiều văn bản Quy
phạm pháp luật, trong đó có nhiều lĩnh vực trước đây chưa được đề cập, nổi bật
là Dự thảo Luật Quy hoạch đô thị đã được Chính phủ báo cáo tại kỳ họp thứ 4 -
Quốc hội khóa XII. Ðây là dự luật đầu tiên trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, sau
khi ban hành sẽ là công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà
nước trong xây dựng và phát triển đô thị; bảo đảm phát triển hệ thống các đô thị
và từng đô thị bền vững, có bản sắc, văn minh, hiện đại; đồng bộ với phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Song song với công tác nghiên cứu xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật, để kịp thời đáp ứng với tốc độ phát triển các đô thị trong cả nước, Bộ Xây
dựng cũng đã chỉ đạo hoàn thành nhiều đồ án quy hoạch xây dựng, đặc biệt là
việc nghiên cứu điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt
Nam đến năm 2025, trình Chính phủ phê duyệt..
Về hạ tầng kỹ thuật đô thị, trong năm 2008, Bộ Xây dựng đã tập trung chỉ
dựng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tháo gỡ về cơ bản những khó
khăn, vướng mắc của các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư và các nhà thầu,
góp phần thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư xây dựng công trình.
Ðiểm nổi bật trong công tác quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng là thị
trường xi-măng và vật liệu xây dựng đã được giữ vững và bình ổn trong bối
cảnh hầu hết giá cả các loại vật liệu, nguyên, nhiên liệu đều tăng cao và có
nhiều biến động. Năm 2008, sản lượng xi-măng toàn ngành đạt xấp xỉ 40 triệu
tấn, tăng 10% so với năm 2007, đáp ứng đủ nhu cầu xây dựng trong nước. Ðã
có 10 nhà máy xi-măng mới với tổng công suất gần 12 triệu tấn/năm đi vào hoạt
động. Tiếp tục tạo đà cho sự phát triển ngành vật liệu, Bộ Xây dựng đã hoàn
thành và trình Chính phủ các dự án Quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp vật
liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020, Quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây
dựng và Quy hoạch khoáng sản làm nguyên liệu cho sản xuất xi-măng đến năm
2020.
Năm 2008 đánh dấu sự nỗ lực của các doanh nghiệp thuộc Bộ, khi phải
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, do những biến động của nền kinh tế thế
giới và trong nước. Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp thuộc Bộ tiếp tục
được duy trì cao hơn năm 2007. Tổng giá trị sản xuất kinh doanh thực hiện năm
2008 đạt 105.607 tỷ đồng, bằng 105% kế hoạch năm, tăng 20% so với cùng kỳ
năm 2007. Giá trị thực hiện đầu tư là 31.570,5 tỷ đồng, đạt 91,7% kế hoạch
năm, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2007, với hơn 450 dự án đã và đang được
triển khai .
Năm 2009, trước những diễn biến mới, phức tạp, khó lường của tình hình
kinh tế thế giới và trong nước, để thực hiện nghiêm túc, toàn diện và có hiệu
quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của Ðảng, Quốc hội và
Chính phủ đã đề ra, toàn ngành xây dựng tập trung thực hiện các nhóm nhiệm
vụ trọng tâm sau đây:
Tập trung hoàn chỉnh Luật Quy hoạch đô thị để trình Quốc hội thông qua;
nghiên cứu, sửa đổi Luật Nhà ở; rà soát, nghiên cứu sửa đổi một số Luật liên
quan đầu tư xây dựng cơ bản và các văn bản dưới Luật, theo hướng đơn giản,
khoáng sản làm xi-măng đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành
vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và Quy hoạch thăm dò, khai thác,
chế biến khoáng sản làm VLXD đến năm 2020.
Xây dựng Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm
2020; tổ chức và tập hợp lực lượng cơ khí trong việc chế tạo thiết bị đồng bộ
cho dây chuyền xi-măng 2.500 tấn clanh-ke/ngày và các dây chuyền có công
suất lớn hơn, thiết bị cho ngành điện và các loại máy xúc, đào, máy thi công...
Ðể tiếp tục hội nhập sâu và rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, chủ động
đối phó với những khó khăn, thách thức chung của nền kinh tế nước ta và trên
thế giới trong năm 2009, từng doanh nghiệp ngành xây dựng phải nắm bắt và
nhận thức rõ những ảnh hưởng, cơ hội và thách thức do sự biến động của nền
kinh tế thế giới mang lại, để từ đó xây dựng, điều chỉnh chiến lược, kế hoạch
phát triển sản xuất kinh doanh của đơn vị mình cho phù hợp với tình hình mới.
Năm 2009, các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng phấn đấu giá trị sản xuất kinh
doanh đạt 118.588,4 tỷ đồng, tăng 12,3% so với năm 2008; giá trị thực hiện đầu
tư đạt 34.684 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2008.
2.2 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY TRONG
THỜI GIAN TỚI
Hướng tới trở thành công ty lớn mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, chất
lượng là một trong những yếu tố được cán bộ công nhân viên Công ty hết sức
coi trọng, nó thể hiện khả năng thực hiện công trình cũng như đạo đức kinh
doanh của công ty, điều đó thể hiện rõ qua chính sách chất lượng của công ty:
• Liên tục cải tiến hệ thống quản lý chất lượng, áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
• Không ngừng nâng cao năng lực quản lý và điều hành sản xuất,
điều chỉnh kịp thời cơ chế quản lý để phù hợp với lực lượng sản
xuất phát triển.
• Thường xuyên tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao
động, không ngừng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho
cán bộ công nhân viên
hiện nay là làm thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng; Công ty luôn xác định
con người là yếu tố quan trọng cho sự phát triển. Vì thế luôn có những chính
sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, kỹ sư; Xây dựng
lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, có tính kỷ luật và tác phong công
nghiệp.
Trong giai đoạn hiện nay, đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm số một, là cơ hội
để phát triển Công ty cả về chất và lượng, tạo điều kiện để nâng cao năng lực
sản xuất kinh doanh, thúc đẩy và chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Công ty đã, đang
và sẽ triển khai các dự án phát triển đô thị tại Quận Cầu Giấy, Hà nội; D9A
Thanh xuân bắc, Hà nội; Dự án Khu đô thị Lê Trọng Tấn (Hà đông, Hà tây); Dự
án Hà Khánh (Hạ Long, Quảng Ninh); Dự án Vĩnh Điềm Trung (Nha Trang,
Khánh Hòa) và một số dự án khác…
Về đầu tư chiều sâu nâng cao năng lực sản xuất, tập trung hướng vào đầu
tư thiết bị, phương tiện sản xuất công nghệ mới, hiện đại và đồng bộ, tạo điều
kiện để Công ty phát triển trở thành một nhà thầu xây dựng dân dụng và công
nghiệp có trình độ công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và
quốc tế.
Đổi mới sắp xếp cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, áp
dụng triệt để và không ngừng cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 :
2000, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành. Tiếp tục xây dựng, kiện
toàn tổ chức Công ty hướng tới hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con.
Tiếp tục thực hiện đa sở hữu nguồn vốn, năng động và linh hoạt trong
hoạt động tài chính để thu hút thêm nguồn vốn từ các cổ đông của Công ty, từ
các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước cùng với các nguồn vốn hợp
pháp khác. Sử dụng có hiệu quả vốn của Công ty vào sản xuất kinh doanh nhằm
tạo ra lợi nhuận cao.
2.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
2.2.1 Giải pháp huy động vốn
hơn khi kinh doanh độc lập. Tuy nhiên có nhiều ưu điểm các công ty thường thu
được khi liên danh, liên kết như: tận dụng và phát huy được điểm mạnh, lợi thế
của mỗi bên qua đó nâng cao chất lượng, tiến độ, sức cạnh tranh khi tham gia
dự thầu, chia sẻ gánh nặng về vốn trong đầu tư phát triển, áp dụng những
phương pháp quản lý thi công tân tiến dựa trên đội ngũ nhân lực trình độ cao
của mỗi công ty, …
Không chỉ vậy, với sự liên danh, liên kết trong sản xuất kinh doanh, các
công ty còn tăng được hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, trong hoạt
động nhờ được hợp sức cộng tác bởi các đội ngũ nhân lực tốt của cả hai bên, có
sự giám sát nghiêm túc hơn của cả hai bên và quan trọng hơn là sự chuẩn bị, hai
bên do liên danh cùng nhau nên sẽ phải chuẩn bị rất cẩn thận để lựa chọn ra dự
án nào đủ hiệu quả để đầu tư cùng nhau.