Ứng dụng mô hình DEA và mô hình hồi quy tobit để kiểm định các nhân tố tác động đến mức độ hiệu quả của các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HỒ MINH NHỰT

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DEA VÀ MÔ HÌNH
HỒI QUY TOBIT ĐỂ KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN
TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ
CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh -2016


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HỒ MINH NHỰT

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DEA VÀ MÔ HÌNH
HỒI QUY TOBIT ĐỂ KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN
TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ
CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:


1.2.

Mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: ................................... 2

1.2.1.

Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................... 2

1.2.2.

Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu ............................................. 3

1.3.

Kết cấu bài nghiên cứu ....................................................................................... 3

Chƣơng 2.LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH DEA, ĐỊNH NGHĨA HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
TIỄN ............ .......................................................................................................... 4
2.1.

Lý thuyết về mô hình DEA: ............................................................................... 4

2.2.

Lý thuyết hiệu quả hoạt động của các NHTM: .................................................. 8

2.3.




3.2.1.2.
3.2.2.

3.3.

Nhân tố chủ quan: ...................................................................................... 24

3.2.2.1.

Năng lực tài chính: .............................................................................. 24

3.2.2.2.

Năng lực quản trị, điều hành: .............................................................. 26

3.2.2.3.

Năng lực công nghệ: ........................................................................... 26

3.2.2.4.

Nguồn nhân lực: .................................................................................. 27

Chỉ định mô hình bài nghiên cứu: .................................................................... 27

3.3.1.
3.4.



Kết quả mô hình DEA:........................................................................ 36

4.1.2.

Mô hình hồi quy Tobit: .............................................................................. 53

4.1.2.1.
4.1.3.

Kết quả mô hình: ................................................................................. 53

Những hạn chế của mô hình và định hƣớng nghiên cứu: .......................... 62

Chƣơng 5. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM:.................. 63
5.1.

Giải pháp từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc ............................................ 63

5.1.1.

Các giải pháp từ chính phủ ........................................................................ 63

5.1.2.

Các giải pháp từ ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam ....................................... 63

5.2.


Biểu đồ 4.1 Hệ số hiệu quả kỹ thuật của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn
2007 - 2014 ........................................................................................................ 40
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi hiệu quả kỹ thuật của các nhóm
ngân hàng ........................................................................................................ 44
Biểu đồ 4.3: Biểu đồ thể hiện phần trăm thay đổi công nghệ của các nhóm
ngân hàng ........................................................................................................ 45
Biểu đồ 4.4: Biểu đồ thể hiện phần trăm thay đổi hiệu quả kỹ thuật theo quy
mô của các nhóm ngân hàng ................................................................................ 46
Biểu đồ 4.5: Biểu đồ thể hiện phần trăm thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp
của các nhóm ngân hàng ...................................................................................... 47
Biểu đồ 4.6: Biểu đồ thể hiện thay đổi hiệu quả kỹ thuật tổng thể của Ngân
hàng SHB qua các năm ........................................................................................ 51
Biểu đồ 4.7: Biểu đồ thể hiện thay đổi hiệu quả kỹ thuật tổng thể của Ngân
hàng HDB qua các năm........................................................................................ 52
Biểu đồ 4.8: Biểu đồ thể hiện thay đổi hiệu quả kỹ thuật tổng thể của Ngân
hàng BIDV qua các năm ...................................................................................... 52
Biểu đồ 4.9: Biểu đồ thể hiện thay đổi hiệu quả kỹ thuật tổng thể của Ngân
hàng CTG qua các năm ........................................................................................ 53
Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dƣ nợ tín dụng......................................... 58
Biểu đồ 4.11: Thống kê tổng tài sản các nhóm ngân hàng của Việt Nam thời
điểm 31/12/2014................................................................................................... 59


DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Kết quả Spearman chỉ định mô hình ................................................... 35
Bảng 4.2: Bảng thống kê hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần
(PE), hiệu quả quy mô (SE) của các loại hình ngân hàng trong thời kì 20072014.
36
Bảng 4.3: Bảng thống kê số lƣợng các ngân hàng có hiệu suất giảm(DRS),

Dong A
SHB
STB
TCB
KLB
MSB
VCB
VIB

Viết đầy đủ Tiếng Việt
Ngân hàng Nhà nƣớc
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Nhà
nƣớc
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần
Tổ chức Tín dụng
Chính sách Tiền tệ
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần An
Bình
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á
Châu
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công
Thƣơng Việt Nam
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Phát
Triển Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân
Đội
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Phát
Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long

tfpch
TE
PE
SE
irs
drs
cons

Tế Việt Nam
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Xăng
Dầu Petrolimex
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Sài
Gòn Công Thƣơng
Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Phát
Triển Mekong
Thay đổi hiệu quả kỹ thuật
Thay đổi tiến bộ công nghệ
Thay đổi hiệu quả thuần
Thay đổi hiệu quả quy mô
Thay đổi năng suất nhân tố
tổng hợp
Hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả thuần
Hiệu quả quy mô
Tăng theo quy mô
Giảm theo quy mô
Không đổi theo quy mô


1

kém về quản trị và khả năng quản lý rủi ro. Vì vậy, để có thể là một biện pháp phát
hiện tạo tiền đề để đánh giá và đi sâu vào các ngân hàng đang có mức độ hoạt động


2

kém hiệu quả từ đó đƣa ra giải pháp để khắc phục sớm những nhân tố tạo nên sự
kém hiệu quả của ngân hàng. Do đó, việc đánh giá, phát hiện và khắc phục các nhân
tố tác động đến hiệu quả của các NHTM hiện nay là một điều cần thiết và đƣợc đƣa
lên hàng đầu.
Xuất phát từ thực tiễn và đòi hỏi cấp thiết trên , đề tài “Ứng dụng mô hình DEA
và mô hình Hồi quy Tobit để kiểm định các nhân tố tác động đến mức độ hiệu quả
của các NHTM Việt Nam” đƣợc lựa chọn nhằm đóng góp thêm những hiểu biết sâu
sắc về tình hình hoạt động của các NHTM hiện nay, từ đó có những gợi ý về giải
pháp nhằm mang lại một chiếc “xƣơng sống” thật sự vững chắc cho nền kinh tế
quốc gia.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
1.2.1.

Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu này muốn kiểm định lại mức độ hiệu quả mà hệ thống ngân hàng
trong thời gian qua (giai đoạn 2007 – 2014), bên cạnh đó xác định các nhân tố hiện
đang tác động đến mức độ hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Từ đó, tìm ra các
phƣơng hƣớng để cải thiện các nhân tố gây ra tác động lớn đến hiệu quả của ngân
hàng. Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu đặt ra một số câu hỏi
để dẫn dắt nhƣ sau:
-

Mức độ hiệu quả của hệ thống ngân hàng là nhƣ thế nào trong giai đoạn năm

theo niên độ của các ngân hàng thƣơng mại và từ báo cáo thƣờng niên của ngân
hàng nhà nƣớc. Tiêu chí chọn lựa mẫu các ngân hàng là phải đa dạng về quy mô
nhằm phản ánh toàn diện và đầy đủ thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Bài nghiên cứu này tiếp cận phân tích định lƣợng hiệu quả hệ thống ngân hàng
thƣơng mại Việt Nam thông qua mô hình kiểm định hai bƣớc. Đầu tiên, thông qua
cách tiếp cận trung gian, mô hình DEA cho ra kết quả hệ số hiệu quả kỹ thuật TE
của các ngân hàng và dựa trên kết quả đó, mô hình hồi quy Tobit kiểm định những
nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Kết quả mô hình DEA cho thấy trong giai đoạn 2007-2014, các ngân hàng
trong mẫu nghiên cứu chỉ đạt đƣợc hiệu quả kỹ thuật là 0,88. Điều này chỉ ra rằng
các ngân hàng đang lãng phí 0,12 nguồn lực của mình. Ngoài ra kết quả mô hình
DEA còn chỉ ra rằng nhóm NHTMCP hoạt động hiệu quả hơn so với nhóm
NHTMCPNN. Bên cạnh đó so sánh hiệu quả của các NHTM trƣớc và sau khi sáp
nhập cho thấy hiệu quả hoạt động chƣa đƣợc cải thiện. Tuy nhiên vì giai đoạn kiểm
định còn quá ngắn nên chƣa thể xác định rõ hiệu quả này.
Mô hình Tobit cho kết quả các biến TCTR, LOANTA, ETA, FATA, NIM,
DLR có ảnh hƣởng đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu.
Tuy nhiên mức độ tác động này không đáng kể ngoại trừ biến FATA và NIM.
1.3. Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu này đƣợc triển khai làm 5 phần:
Chƣơng 1: Phần mở đầu.
Chƣơng 2: Lý thuyết về mô hình DEA và các nghiên cứu thực tiễn.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu.


4

Chƣơng 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu đạt đƣợc.
Chƣơng 5: Định hƣớng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
ngân hàng thƣơng mại Việt Nam.


5

đi thẳng vào đánh giá chƣơng trình giáo dục cho những học sinh kém (chủ yếu là
học sinh da màu và học sinh gốc Tây Ban Nha) với một số lƣợng lớn các học sinh
của các trƣờng cộng đồng ở Mỹ với hỗ trợ của Chính phủ liên ban. Chú ý cuối cùng
cũng đƣợc tập trung vào Chƣơng trình “Follow Through”- một nỗ lực lớn bởi Bộ
Giáo dục Mỹ để áp dụng các nguyên tắc về thiết kế thống kê của các thí nghiệm với
một tập hợp các trƣờng học phù hợp trong một nghiên cứu trên toàn quốc. Rhodes
truy cập bảo mật đến dữ liệu đang đƣợc xử lý bởi bài nghiên cứu của Abt
Associates. Mặc dù số lƣợng lớn các biến đầu vào đầu ra đƣợc sử dụng nhƣng do bộ
dữ liệu đã đủ lớn nên các vần đề về mức độ tự do... không phải là vấn đề quan
trọng. Tuy nhiên, các kết quả không đạt yêu cầu và thậm chí còn khá vô lý đƣợc bảo
đảm từ tất cả phƣơng pháp thống kê kinh tế mà Rhodes đã cố gắng sử dụng.
Trong khi cố gắng giải quyết tình huống này, Rhodes kéo sự chú ý của
Cooper đến với bài nghiên cứu của M.J Farrell “Đo lƣờng hiệu quả sản xuất”trên
tạp chí Royal Statistical Society năm 1957. Trong nghiên cứu, Farrell sử dụng “khái
niệm phân tích hoạt động”để điều chỉnh những gì tác giả tin là còn thiếu sót khi sử
dụng phƣơng pháp chỉ số trong việc đo lƣờng năng suất sản xuất.
Cooper đã từng làm việc với A.Charnes để đƣa ra mẫu có tính toán có thể sử
dụng cho “khái niệm phân tích hoạt động” của Tjalling Koopmans. Do đó, dựa vào
phát biểu của Farrell, Cooper và Rhodes đã tạo ra những gì liên quan đến định nghĩa
về mô hình DEA.
Kể từ khi DEA đƣợc giới lần đầu vào năm 1978, nhiều nhà nghiên cứu trong
nhiều lĩnh vực đã nhánh chóng nhận ra rằng đây là một phƣơng pháp khá tốt và dễ
sử dụng để mô hình hóa quy trình hoạt động cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động.
Mô hình này đƣợc đi với những phát triển khác. Ví dụ, Zhu (2002) đã đƣa ra một số
mô hình DEA dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động và tạo lập tiêu chuẩn. Định
hƣớng thực nghiệm của DEA và quá ít nhu cầu về các giả định ƣu tiên đi kèm với
các phƣơng pháp khác (nhƣ các dạng thức tiêu chuẩn của phân tích hồi quy thống

Định nghĩa 1.2 (Mức độ hiệu quả tƣơng đối): một DMU đƣợc cho là hiệu
quả toàn bộ (100%) trên cơ sở các bằng chứng sẵn có nếu và chỉ nếu các mức độ
hoạt động của các DMU khác không cho thấy rằng một vài đầu vào và đầu ra của


7

DMU đó có thể đƣợc cải thiện mà không cần làm giảm một vài đầu vào và đầu ra
khác.
Chú ý rằng định nghĩa này tránh nhu cầu trông cậy vào giá hoặc các giả định
khác về tỷ trọng mà phản ánh mức độ quan trọng tƣơng đối của các đầu vào và đầu
ra khác. Định nghĩa này cũng tránh sự cần thiết trong việc làm rõ mối quan hệ chính
thống mà đƣợc cho là tồn tại giữa đầu vào và đầu ra. Loại hiệu quả cơ bản này, là
“hiệu quả kỹ thuật” tuy nhiên trong kinh tế có thể đƣợc mở rộng ra các loại hiệu quả
khác nếu nhƣ các dữ liệu nhƣ giá, đơn giá,… có sẵn để sử dụng mô hình DEA.
Những năm gần đây có thể thấy rất nhiều ứng dụng mô hình DEA đƣợc sử
dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau
có cách thức hoạt động khác nhau trong các trƣờng hợp khác nhau tại các quốc gia
khác nhau. Những ứng dụng của DEA đã sử dụng nhiều dạng thức khác nhau của
các DMU để đánh giá hoạt động khác nhau của các chủ thể nhƣ các bệnh viện, các
hãng máy bay của Mỹ, các trƣờng đại học, các thành phố, các tòa án, các công ty
kinh doanh, ngân hàng và các dạng thức khác bao gồm hiệu quả hoạt động các quốc
gia, khu vực… Bởi vì mô hình DEA yêu cầu rất ít các giả định, DEA cũng có thể
sử dụng rộng hơn cho các trƣờng hợp mà không phù hợp với các phƣơng pháp khác
bởi vì tính chất phức tạp (thƣờng là không biết) về mối liên hệ giữa nhiều đầu vào
và nhiều đầu ra liên quan đến DMUs.
Nhƣ đƣợc chỉ ra trong nghiên cứu của Cooper, Seiford và Tone (2000), DEA
gần đây cũng đƣợc sử dụng để cung cấp những hiểu biết mới trong các hoạt động
(các chủ thể) mà trƣớc đó đã đƣợc đánh giá bằng các phƣơng pháp khác. Ví dụ,
nghiên cứu về điểm chuẩn bằng DEA đã chỉ ra rất nhiều nguồn không đạt hiệu quả

Theo Perter S.Rose giáo sƣ kinh tế học và tài chính trƣờng đại học Yale thì
về bản chất NHTM cũng có thể coi nhƣ một doanh nghiệp kinh doanh vì lợi nhuận
với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu đƣợc các ngân
hàng quan tâm hơn vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng
khả năng mở rộng thị phẫn, thu hút vốn đầu tƣ.
Mục tiêu nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách
đạt đƣợc đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hóa sử dụng
đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Trong trƣờng hợp đó, khái niệm hiệu quả
tƣơng ứng với cái gọi là hiệu quả kỹ thuật . Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà
sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng
các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào, đầu ra
sao cho cực đại hóa lợi nhuận. Trong các trƣờng hợp này hiệu quả tƣơng ứng đƣợc
gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối
thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lƣợng nhất định), và mục tiêu của các


9

nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu
nhƣ chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận).
Nhƣ vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết
hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình
độ quản lý...nó phản ánh quan hệ so sánh đƣợc giữa kết quả kinh tế và chi phí
bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại có thể
đƣợc chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng đối:
-

Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh
tế - chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả

hoạt động của ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu là khả năng biến các đầu vào
thành các đầu ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
2.3. Các nghiên cứu thực tiễn:
Trên thế giới có nhiều phƣơng pháp khác nhau đƣợc sử dụng để đánh giá
hiệu quả hoạt động của các tổ chức doanh nghiệp. Phƣơng pháp phổ biến và đƣợc
áp dụng thƣờng xuyên nhất là phƣơng pháp phân tích tỷ suất. Một phƣơng pháp
khác là hồi quy kinh tế lƣợng dựa trên cơ sở biên trung bình. Tuy nhiên, kể từ khi
Farrell (1957) đƣa ra phƣơng pháp đánh giá hiệu quả dựa trên đƣờng biên sản xuất
thì gần đây ngƣời ta đã phát triển và áp dụng các phƣơng pháp phân tích biên tham
số hoặc phi tham số. Các phƣơng pháp này, điển hình là phân tích biên ngẫu nhiên
(SFA) và phân tích bao dữ liệu (DEA), thiết lập nên một đƣờng giới hạn biên dựa
trên cơ sở dữ liệu của những doanh nghiệp, tổ chức đang hoạt động. Điểm khác
nhau cơ bản của các phƣơng pháp này là những giả định khác nhau về dạng thức
của hàm sản xuất và dạng thức phân phối các sai số ngẫu nhiên và tính phi hiệu quả
khả thi.
Cả 2 phƣơng pháp này đều đƣợc sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực để
nghiên cứu hiệu quả của các tổ chức và công ty. Tính hiệu quả và chính xác trong
việc ứng dụng 2 phƣơng pháp này cũng đã đƣợc chứng minh qua nhiều công trình
nghiên cứu khác nhau. Humphrey (1997) nhận ra rằng các ƣớc tính hiệu quả của mô
hình DEA cho kết quả tƣơng tự nhƣ mô hình SFA. Ondrich và Ruggiero (2001)
cũng kết luận cả 2 phƣơng pháp này đều đƣợc xếp hạng là hiệu quả nhƣ nhau. Tuy
nhiên, bài nghiên cứu của Banker et al. (1986) cho rằng mô hình DEA rất hữu dụng
trong việc đánh giá các công ty với nhiều mục tiêu khác nhau, bởi vì mô hình DEA
xử lý đƣợc nhiều nguồn dữ liệu đầu vào và đầu ra. Kết luận này cũng tƣơng tự với
các nghiên cứu của Rangan et al. (1988), Vassiloglou và Giokas (199), Hassan et al.


11

(1990), Camanho và Dyson (1999). Khi một công ty sử dụng nhiều nguồn lực và

12

hiệu quả biên về lĩnh vực tài chính đối với 21 quốc gia. Tác giả nhận ra rằng có
nhiều thƣớc đo về mức độ hiệu quả khác nhau không nhất thiết phải cho ra cùng
một hiệu quả nhƣ nhau và đề xuất một số cách để làm cho phù hợp hơn.
Mansoury và Salehi (2011) sử dụng phƣơng pháp DEA trong việc đánh giá
xếp hạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Iran. Với cách thức tiếp cận theo
yếu tố sản xuất, ba biến đầu vào đƣợc chọn bao gồm: số nhân viên, chi phí hoạt
động, chi phí phi hoạt động, bốn biến đầu ra gồm tài sản cố định ròng, các khoản
thanh toán, thu nhập từ hoạt động, thu nhập ngoài hoạt động ở mỗi ngân hàng. Với
đánh giá của tác giả thì phƣơng pháp DEA đƣợc xem là phƣơng pháp có ý nghĩa
hơn, nó thống kê tất cả các dữ liệu và quyết định nhân tố nào ảnh hƣởng đến năng
suất. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy các ngân hàng ở Iran hiệu quả kỹ thuật
đạt ở mức khá tốt, nhƣng hiệu quả quy mô thì tƣơng đối thấp. Và giải pháp đƣa ra
để giải quyết cho vấn đề này là cải thiện chất lƣợng dịch vụ, nguồn nhân lực, hiệu
quả đầu tƣ, ngoài ra công tác quan hệ khách hàng phải làm vừa lòng tất cả các
khách hàng.
Bài nghiên cứu của A.R.Jayaraman và M.R.Srinivasan (2014) đánh giá
mức độ hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Ấn Độ trong giai đoạn 2005 – 2012
bằng ba mô hình DEA tiếp cận theo ba hƣớng khác nhau là chi phí, doanh thu và lợi
nhuận với cách tiếp cận Shannon. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng bằng cách phối hợp ba
mô hình này sẽ cho ra các chỉ số hiệu quả hoạt động và xếp hạng các ngân hàng tốt
nhất.
Trong nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, việc xác định các
yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng đóng một vai trò rất quan
trọng. Chuyên đề của Hicks (1935) dẫn chứng khá tốt về việc sức mạnh thị trƣờng
càng lớn thì liên quan đến tới việc mức độ hiệu quả sẽ trở nên xấu đi. (với những
chứng cứ của Casu và Girardone, 2006; Berger và Hanna, 1997; Delis and Tsionas,
2009; Fenn et al., 2008; Turk-Ariss, 2010). Theo lý thuyết “Quiet life” của Hicks
(1935) cho rằng dƣới sự độc quyền, các nhà lãnh đạo có xu hƣớng tận hƣởng (relax)

Hơn thế nữa, Barth et al. (2004) đã cho thấy rằng ảnh hƣởng của việc giám
sát là yếu, và chỉ những quy định đảm bảo việc công bố thông tin chính xác thì có
ảnh hƣởng. Họ cho rằng thất bại trong thị trƣờng ngân hàng là một sự kiện ít xảy ra,
và rằng sự thất bại của chính phủ để sửa chữa là không thể tránh khỏi. Chứng cứ


14

thực tiễn cũng cho thấy sự nhất quán với lý thuyết, và họ kết luận rằng trao quyền
kiểm soát riêng, và kỷ luật thị trƣờng sẽ có hiệu quả hơn là việc dựa vào sự can
thiệp của chính phủ. Những luận văn hỗ trợ cho những phát hiện này bao gồm Barth
et al. (2006, 2007), Pasiouras (2008a, b), Delis et al. (2009), Pasiouras et al. (2009),
Uchida and Satake (2009), LozanoVivas và Pasiouras (2010), và Barth et al. (2013).
Mặt khác, trong luận văn của Beck et al. (2003, 2006), cho rằng thực hiện
giám sát tăng cƣờng quản trị doanh nghiệp và gia tăng hiệu quả. Ngƣợc với giả
thuyết của họ, kết quả thực nghiệm của Beck et al. (2003, 2006) chỉ ra rằng mối liên
hệ giữa giám sát và mức độ hiệu quả là yếu. Tuy nhiên, một vài chứng cứ hỗ trợ cho
lý luận của họ đƣợc tìm thấy ở Pasiouras (2008a, b), Chortareas et al. (2012), và
Barth et al. (2013).
Ngoài nhân tố pháp lý, một nhân tố khác đang thu hút sự quan tâm trong
những năm gần đây đó là nhân tố chấp nhận rủi ro. Mối liên hệ giữa việc chấp nhận
rủi ro của ngân hàng và mức độ hiệu quả đƣợc Berger and DeYoung (1997) quan
tâm. Với giả thuyết quản lý kém, chi phí giám sát tăng thêm sẽ dẫn đến việc gia
tăng áp lực rủi ro của ngân hàng làm giảm mức độ hiệu quả. Tƣơng tự, giả thiết may
rủi cho rằng hiệu quả sẽ bị giảm là kết quả của các cú sốc kinh tế vì những nổ lực
quản lý không tập trung và những khoản nợ có vấn đề. Bằng chứng của các tác
động của rủi ro lên hiệu quả có thể đƣợc tìm thấy trong nghiên cứu của Berger và
De Young (1997), Berger và Mester (1997), Kwan and Eisenbeis (1997), Sun và
Chang (2011), Fiordelisia et al. (2011), và Chortareas et al. (2011). Trong những
nghiên cứu này, mối quan hệ phủ định là rất rõ, và có thể đƣợc giải thích rằng hiệu

quả của các độ đo hiệu quả ƣớc lƣợng đƣợc các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy
Tobit để xem xét ảnh hƣởng của các biến: loại hình sở hữu, quy mô, các biến giả
phản ánh những ảnh hƣởng của quá trình tham gia WTO, khủng hoảng tài chính
Châu Á đến hiệu quả hoạt động của 12 ngân hàng đƣợc lựa chọn trong nghiên cứu.
Bài nghiên cứu của Sunil Kumar và Rachita Gulati (2008) về kiểm nghiệm
mức độ hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (PE) và hiệu quả kỹ thuật
theo quy mô (SE) của 27 ngân hàng ở Ấn Độ bằng cách sử dụng mô hình DEA
trong giai đoạn 2004 - 2005. Kết quả của bài nghiên cứu là mức độ không hiệu quả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status