ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Đề tài Kinh tế học Quốc tế
Ngoại thương Việt Nam từ năm 2000 đến nay
GVHD : TS Hoàng Vĩnh Long
Thành phố HCM , ngày 25 tháng 4 năm 2010
i
Danh sách phân công nhóm 2
K08402A
1. Lê Xuân Tú K084020210 : Giai đoạn 2006-2008
2. Lê Thị Ngọc Hậu K084020131 : Tổng hợp, bổ sung
3. Phan Hoàng Diệu K084020118 : Giai đoạn 2006-2008
4. Phùng Ngọc Phương Khanh K084020144 : Giai đoạn 2009-2010
5. Đoàn Thảo Ly K084020152 : Tổng hợp, bổ sung
6. Hoàng Mai K084020155 : Chương 1+2+3
7. Lê Thị Thục Quyên K084020178 : Giai đoạn 2000-2002
8. Trần Phương Thảo K084020187 : Giai đoạn 2000-2002
9. Từ Huyền Trang K084020200 : Giai đoạn 2003-2005
10.Lê Thị Trang K084020201 : Giai đoạn 2003-2005
11.Đỗ Hồng Tú Trinh K084020206 : Giai đoạn 2009-2010
12.Huỳnh Phương Tuấn K084020212 : Giai đoạn 2003-2005
13.Nguyễn Thị Ngọc Yến K084020224 : Giai đoạn 2006-2008
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu.................................................................................................................1
Chương 1: KHÁI NIÊM NGOẠI THƯƠNG...........................................................2
1.1. Khái niệm..........................................................................................................2
1.2. Vì sao lại có ngoại thương.................................................................................3
1.3. Vai trò của NT đối với nền kinh tế.....................................................................3
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM ..............................6
quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng
cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo việc làm, tăng
thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động… Như vậy, hoạt động ngoại thương
đóng một vai trò không thể thiếu trong tiến trình vực dậy nền kinh tế Việt Nam kể từ
ngày mở cửa
Trong phạm vi hẹp của đề tài tiểu luận này, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ thực
trạng hoạt động Ngoại thương Việt Nam trong thế kỷ 21 ( từ năm 2000 đến nay ), thời
kỳ có rất nhiều biến chuyển trong hoạt động Ngoại thương cũng như những bước phát
triển nhảy vọt của kinh tế nước nhà, từ đó có giải pháp hữu hiệu thúc đẩy hoạt động
ngoại thương thời gian tới.
1
Chương 1
KHÁI NIỆM NGOẠI THƯƠNG
1.1.Khái niệm
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời: Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ
và tiếp đó là chế độ phong kiến. Trong các xã hội nô lệ và phong kiến, do kinh tế tự
nhiên còn chiếm địa vị thống trị, nên ngoại thương chỉ phát triển với quy mô nhỏ bé.
Lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia chỉ dừng lại ở một phần nhỏ sản phẩm sản xuất ra
và chủ yếu là để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trị đương thời.
Ngoại thương chỉ thực sự phát triển trong thời đại tư bản chủ nghĩa. Ngoại
thương trở thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Ngày nay sản xuất đã được quốc tế hoá. Không một quốc gia nào có thể tồn tại
và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi
hàng hoá với bên ngoài.
Như vậy, Ngoại thương là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hóa và các
dịch vụ kèm theo, lấy tiền tệ làm môi giới giữa các nước khác nhau.
Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hoá và dịch vụ được đi kèm việc trao đổi
các yếu tố sản xuất (ví dụ lao động và vốn), nhất là ngoại thương trong điều kiện hội
nhập khu vực và quốc tế.
+ Giảm rủi ro do không có nguồn cung cấp.
1.3.Vai trò ngoại thương đối với nền kinh tế
- Giúp thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân tính theo đầu người
- Phân phối hợp lý thu nhập quốc dân, tạo thêm nhiều việc làm mới.
- Sử dụng tốt nhất mọi khả năng, tiềm năng sản xuất trong nước.
- Bảo vệ và cải thiện môi trường góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
- Nâng cao vị thế kinh tế, chính trị của nước ta trên thị trường.
- Cán cân thanh toán lành mạnh.
- v..v
3
• Vai trò nhập khẩu
- Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá đất nước.
- Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối
và ổn định.
- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Ở đây, nhập khẩu
vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào
cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ
nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc
xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
Hàng cấm nhập khẩu (Xem Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4 tháng 4
năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ)
1/ Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ.
2/ Các loại ma tuý.
3/ Các hoá chất độc.
4/ Sản phẩm văn hoá đồi trụy, phản động, đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục
nhân cách và trật tự, an toàn xã hội.
5/ Pháo các loại (trừ pháo hiệu).
6/ Thuốc lá điếu, xì gà và các loại thuốc lá thành phẩm khác.
phạm vi bảo vệ bí mật Nhà nước.
5
Chương 2
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Ngoại thương nước ta trong thời gian qua đã thực sự giúp cho nền kinh tế đất
nước khai thác thế mạnh trong sản xuất hàng hóa hướng về xuất khẩu. Ngoại thương
đóng góp rất lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp,
dịch vụ và cả trong sản xuất nông nghiệp. Cùng xem xét những điều kiện thuận lợi và
bất lợi để hiểu rõ hơn về lợi thế so sánh của nước ta.
2.1.Lợi thế về vị trí địa lý
Việt Nam có hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá chằng chịt, khí hậu nhiệt đới gió
mùa cũng tác động sâu sắc tới hoạt động kinh tế, nhất là nông nghiệp. Việt Nam nằm
trong vùng Đông Nam Á, là vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Bình
quân mỗi nước ở khu vực này mức tăng trưởng kinh tế đạt 6-7% / năm. Có biên giới đất
liền với Trung Quốc, Lào, Campuchia và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc
Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan. Việt Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải
quốc tế, ven biển, nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu tàu bè dễ cập bến
an toàn quanh năm. Sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lí tưởng, cách đều thủ đô các
thành phố quan trọng khu vực Đông Nam Á. Vị trí địa lý thuận lợi cho phép ta mở rộng
quan hệ kinh tế ngoại thương và thu hút đầu tư nước ngoài.
2.2.Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên
• Về đất đai : Diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363 km2 trong đó có tới
50% là đất nông nghiệp và ngư nghiệp. Khí hậu nhiệt đới mưa nắng điều
hòa cho phép chúng ta phát triển nông lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao
như gạo, cao su và các nông sản nhiệt đới. Chiều dài bờ biển 3260km, diện
tích sông ngòi và ao hồ hơn 1 triệu ha cho phép phát triển ngành thủy sản
xuất khẩu và phát triển thủy lợi, vận tải biển và du lịch.
• Về khoáng sản : Dầu mỏ hiện nay là tài nguyên mang lại nguồn thu ngoại tệ
đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng. Than đá trữ lượng cao,
khoảng 3.6 tỷ tấn; mỏ săt với trữ lượng vài trăm triệu tấn, cả 3 miền Bắc –
Những năm đầu thế kỷ 21, trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam có điều kiện
thuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế ngoại thương, tạo điều kiện cho đất nước hòa
nhập với nền kinh tế thế giới.
7
Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh. Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn
ra càng ngày càng nhanh và càng sâu. Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã
tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế
đa phương. Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87
hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh
thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song
phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, còn về hợp tác kinh tế
đa phương là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn
“WTO Plus”, nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch
vụ), đầu tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn kiện
có hiệu lực đang áp dụng của WTO.
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 60 trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ Tiền
tệ Quốc tế xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2009 và đứng thứ 133
xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Đây là nền kinh tế hỗn
hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việt Nam là quốc gia
thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế,
Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do
đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã
ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương.
8
Chương 3
SƠ LƯỢC NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Xuất khẩu chủ yếu của nước ta trong thời kỳ này là nông sản và khoáng sản với
ba mặt hàng chủ yếu là gạo, cao su và than đá.
Trong 50 năm, từ 1890 đến 1939, ba nước Đông Dương, trong đó chủ yếu là Việt
Nam, xuất khẩu 57.788.000 tấn gạo, trung bình mỗi năm 1,15 triệu tấn (chiếm 20% tổng
sản lượng gạo sản xuất), 397 ngàn tấn cao su (gần như toàn bộ lượng sản xuất), 28 triệu
tấn than (trên 65% sản lượng than sản xuất). Hai mặt hàng gạo và cao su chiếm 70 - 80%
kim ngạch xuất khẩu. Hàng tiểu thủ công chiếm tỷ trọng không đáng kể trong kim ngạch
xuất khẩu.
Nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng và một số nguyên liệu như xăng dầu, bông,
vải. Nhập máy móc thiết bị cũng có, nhưng chiếm tỷ lệ thấp, từ 1,4% (năm 1915) đến
8,8% (năm cao nhất - 1931) trong tổng kim ngạch nhập khẩu.
3.2.Ngoại thương Việt Nam sau CMT 8 1945-1975
* Bối cảnh: Đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, ngoại thương nhằm mục tiêu vừa
đấu tranh chống âm mưu bao vây và phong tỏa của các đế quốc Pháp vừa duy trì và mở
rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài.
Thời kỳ 1955 - 1975 là thời kỳ cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá
theo CNXH ở miền Bắc, vừa phải tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
Từ năm 1955, Chính phủ ta đã ký với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN
khác các hiệp định về viện trợ hàng hoá và kỹ thuật nhằm giúp nhân dân ta khắc phục
hậu quả của chiến tranh, mở đầu sự hợp tác toàn diện giữa ta với các nước XHCN anh
em.
Đối với các nước ngoài hệ thống XHCN, Chính phủ ta ký Hiệp định thương mại
với Chính phủ Pháp (cuối năm 1955), ấn độ (1956), Inđônêxia (1957) và những năm sau
đó với Cộng hoà ả-Rập thống nhất, Campuchia, Irăc. Song song với việc thiết lập quan
hệ kinh tế thương mại, về mặt Nhà nước ta cũng đặt quan hệ buôn bán với một số thị
trường trong khu vục Châu Á - Thái Bình Dương. Từ năm 1955, các tổ chức kinh tế Việt
Nam đã đặt quan hệ buôn bán với các công ty Nhật Bản, Hồng Kông, Xingapo, Xrilanca,
CHLB Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Anh, Thuỵ Sĩ, Thụy Điển v.v... Đến năm 1964, miền Bắc
đã có quan hệ thương mại với 40 nước (năm 1955 mới có 10 nước).
* Tình hình ngoại thương
Tổng số 18.773.0 4.423.5 14.349.5 -9.926.0 30.80%
Hầu hết các loại hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu
toàn bộ hay một phần do sản xuất trong nước không đảm bảo.
11
Ngoài sắt thép, xăng dầu, máy móc, thiết bị còn nhập khẩu cả hàng tiêu dùng. Kể
cả những loại hàng hoá lẽ ra sản xuất trong nước có thể đáp ứng được như lúa gạo, vải
mặc. Trong những năm 1976 – 1985 đã nhập khẩu 60 triệu mét vải các loại và gần 1,5
triệu tấn lương thực quy gạo.
Xuất khẩu tuy có tăng nhưng trị giá xuất khẩu quá thấp.
3.4.Ngoại thương Việt Nam từ 1986 đến 1999
* Bối cảnh :
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986. Kể
từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế,
chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng
hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc
tế.
Chính sách đổi mới, mở cửa và công nghiệp hóa đã mở ra cho Việt Nam những
cơ hội mới để phát huy những lợi thế so sánh vốn có về tài nguyên thiên nhiên và nguồn
lao động dồi dào, giá rẻ, sử dụng những lợi thế đó vào việc phát triển các nguồn hàng
xuất khẩu ngày càng lớn, tiêu thụ tại thị trường các nước, mang lại một nguồn thu ngoại
tệ ngày càng cao phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa.
Trong giai đoạn này, Việt Nam đã gia nhập những tổ chức khu vực như: Việt
Nam trở thành thành viên ASEAN(năm 1995), ký hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại
với EU(năm 1995), bắt đầu tham gia Chương trình Thuế quan ưu đãi có Hiệu lực chung
(CEPT) từ năm 1996, gia nhập APEC (năm 1998). Từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đến ngoại
thương Việt Nam.
* Tình hình ngoại thương
Bàng 2 :Cơ cấu xuất khẩu phân theo nhóm hàng 1986-1999
Đơn vị tính %
Đơn vị: Triệu USD
1986 1990 1995
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Xuất
khẩu
Nhập khẩu
Xuất
khẩu
Nhập khẩu
Tổng số 798.100 2.155.100 2.404.000 2.752.400 5.448.900 8.155.400
1. Châu Á 177.957 227.972 1.040.401 1.009.438 3.944.725 6.318.156
2. Châu Âu 446.911 1.645.581 1.215.138 1.604.409 938.033 1.088.860
3. Châu Mỹ 14.234 6.398 15.722 11.761 238.335 169.714
4. Châu Phi 40 399 4.178 2.413 38.094 22.659
5. Châu ĐD 3.607 9.688 7.701 10.694 56.909 103.912
6.Tchức LHQ 31.154 1.781 23.971 539 21.588
7. Tchức qtế 355 11.577 - 1.316 2.912
8.Khu chế
xuất
225 2.625
9.Tgiá không
phân tổ chức
145.950 163.326 118.769 88.403 87.091 424.990
(Nguồn: Thương mại thời mở cửa, NXB Thống kê, 1996)
Bảng 5: Tổng mức lưu chuyển ngoại thương và cân đối thương mại năm
1986,1990, 1995,1999
Đơn vị tính: Triệu USD
% tăng
trưởng
Trị giá
năm cuối
% tăng
trưởng
Trị giá
năm cuối
% tăng
trưởng
Trị giá
năm cuối
% tăng
trưởng
Trị giá
năm cuối
2001-2005 16% 28,4 15% 4,0 15% 29,2 11% 2,02
2006-2010 14% 54,6 15% 8,1 13% 53,7 11% 3,4
( Nguồn: Chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27/10/2000 của Thủ tướng chính phủ về
Chiến lược phát triển xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001-2010)
Căn cứ vào đường lối kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm
2001-2010, xu hướng phát triển nền kinh tế và thị trường thế giới thập niên đầu thế kỷ
XXI, cũng như từ thực tiễn của các nước và của bản thân Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề
ra những định hướng lớn cho hoạt động ngoại thương cho thời kỳ năm 2001-2010 như
sau:
* Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và
đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA,
APEC, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, tiến tới ra nhập WTO…..
công nghệ cao, chú trọng xuất khẩu dịch vụ. Chủ trương này tạo đà cho xuất khẩu tăng
tốc và đạt hiệu quả.
Thực hiện chiến lược này là giải pháp "mở cửa" nền kinh tế để thu hút các nguồn
lực bên ngoài vào khai thức tiềm năng lao động và tài nguyên đất nước.
4.2.Thực tiễn ngoại thương Viêt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Nước ta đã có quan hệ buôn bán với trên 160 quốc gia và khu vực. Việt Nam thực
hiện đường mở cửa và hội nhập với bên ngoài đúng vào thời kỳ mà thế giới chuyển từ
đối đầu sang đối thoại. Sự phát triển của kinh tế thế giới đã đạt tới mức biên giới các
quốc gia chỉ còn mang ý nghĩa về mặt hành chính. Sự giao lưu kinh tế đã liên kết các
quốc gia có chế độ khác nhau thành một thị trường thống nhất.
17
Trên ý nghĩa đó mà xem xét thì bối cảnh quốc tế trên đường tiến vào thế kỷ 21
của Việt Nam chứa đựng nhiều thuận lợi hơn khó khăn, thời cơ lớn hơn thách đố.
4.2.1. Giai đoạn 2000-2002
Trong giai đoạn này, sư kiện Việt Nam và Hoa Kỳ ký Hiệp định thương mại Việt
Nam- Hoa Kỳ vào tháng 7-2000 và Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 10-12-2001 đã tạo
nhiều thay đổi trong ngoại thương Việt Nam vì Hoa Kỳ là một thị trường lớn của thế
giới và là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Hơn nữa, Trung Quốc gia nhập
WT0 cuối năm 2001 cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ngoại thương Việt Nam.
4.2.1.1 Năm 2000:
Xuất Khẩu
Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh: Cả nước đã đạt kim
ngạch xuất khẩu trên 14,3 tỉ USD, tăng 24% so với năm 1999. Các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đạt kim ngạch xuất khẩu trên 6,9 tỉ USD, và các doanh nghiệp trong
nước xuất khẩu đạt trên 7,4 tỉ USD.
Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của nước ta đạt 180
Đôla/năm, mức chuẩn quốc gia có nền ngoại thương phát triển bình thường.
● Các mặt hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với năm 1999 là:
+ Hàng rau quả đạt 205 triệu USD, tăng 95,2%.
+ Hải sản gần 1,48 tỉ USD, tăng 52%.
trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu trên 2,5 tỉ USD.
4.2.1.2.Năm 2001:
Xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt 15,1 tỷ USD, tăng 4,5% so với năm
2000.Trong đó:
● Khu vực kinh tế trong nước đạt 8,35 tỷ USD (tăng 9,3%) và khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài (không kể dầu thô) 3,75 tỷ USD (tăng 8%).
● Các mặt hàng xuất khẩu :Trong số 15 mặt hàng xuất khẩu chính yếu, có 12 mặt
hàng đạt giá trị xuất khẩu 100 triệu USD trở lên, trong số đó có 4 mặt hàng là dầu thô,
thủy sản, dệt may, giày dép đạt từ 1,52 tỷ đến 3,17 tỷ USD.
Trong năm 2001, có 3 mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng cao là:
+ Hàng thủy sản đạt 1,8 tỷ USD, tăng 21,7% so với năm 2000.
+ Rau quả 305 triệu USD, tăng 42,9%.
+ Than đá 4 triệu tấn, đạt 108 triệu USD, tăng 23% về số lượng và 15,3% về giá trị.
19
+Ngoài ra có hai mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao là hàng dệt may 1,8 tỷ USD, tăng
5,7%, giày dép 1,52 tỷ USD, tăng 3,8%.
●Thị trường xuất khẩu:
+ Tỷ trọng của Hoa Kỳ trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam còn nhỏ, chỉ khoảng
7% với gần 1 tỷ USD năm 2001.
+ Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta. Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật
Bản đã tăng bình quân 22%/năm trong giai đoạn 1996 - 2000 từ 950 triệu USD lên 2,6 tỷ
USD, riêng năm 2001 giảm 3% so với năm 2000.
+ Kim ngạch xuất khẩu vào Nga đạt trên 200 triệu USD.
+ Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Irăc này đạt trên 300 triệu USD. Chủ trương của
Bộ Thương mại là cần tìm mọi cách để duy trì và gia tăng sự có mặt, đồng thời chuẩn bị
chỗ đứng lâu dài ở thị trường này.
+ Indonesia: Kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng từ 520 triệu USD
năm 2000 lên gần 600 triệu trong năm 2001.
+ Kim ngạch xuất nhập khẩu chính ngạch qua các khu kinh tế cửa khẩu giữa các tỉnh
nhất, vượt ngưỡng 2 tỷ USD là dầu thô trên 3,2 tỷ USD, may mặc 2,7 tỷ USD và thủy
sản trên 2 tỷ USD.
● Thị trường xuất khẩu:
+ Trong số 23 thị trường có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD, có 10 thị trường
đạt mức tăng trưởng xuất khẩu từ 10% trở lên. Một số thị trường mới, tuy kim ngạch
xuất khẩu chưa cao nhưng mức tăng rất đáng khích lệ như Đan Mạch, Phần Lan, Thổ
Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.
+ Riêng thị trường Mỹ, sau một năm thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ,
kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD. Có thể thấy rõ điều này qua bảng sau:
Bảng 7 :Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ
năm 2000 và 2002
Đơn vị : Triệu USD
Mặt hàng 200
0
200
2
Mặt hàng 200
0
2002
Thủy sản 301 616 Hạt các loại 51 71
Quần áo cotton 34 547 Giày dép 39 65
Quần áo khác 12 349 Cà phê 112 52
Đồ may mạc dã ngoại 89 189 Đồ chơi 3 32
Dầu thô 88 181 Thực phẩm khác 5 24
21