ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VĨNH PHÚC
Mã số
Chuyên ngành : Tài chính Ngân hàng
: 603420
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai
2.3.3. Nguyên nhân ................................................................................ 70
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại
chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Vĩnh Phúc ........................... 75
3.1. Định hướng phát triển cho vay đối với DNNVV tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Vĩnh Phúc ..................................................................................... 75
3.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNVV
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Vĩnh Phúc ............................................. 83
3.3. Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, Ngân hàng Nhà
nước và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ..................................... 94
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 102
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nội dung
1
BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2
CV
Doanh số cho vay
8
DSTN
Doanh số thu nợ
9
NHTM
Ngân hàng thương mại
10
TCKT
Tổ chức kinh tế
11
TT
Tăng trưởng
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
45
triển Vĩnh Phúc
Bảng 2.4
6
trang
phát triển Vĩnh Phúc
Bảng 2.3
5
Tên bảng
Số
Hoạt động dịch vụ của ngân hàng Đầu tư và phát
46
triển Vĩnh Phúc
Bảng 2.5
Doanh số cho vay – thu nợ DNNVV
52
Bảng 2.6
11
Bảng 2.11
Số lượng khách hàng
64
9
ii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNNVV) thường chiếm
tỷ
trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh
nghiệp (Theo Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở Việt
Nam hiện có 495.128 DNNVV, chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp trên cả
nước). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng
kể (25% tổng đầu tư xã hội và thu hút khoảng 77% lực lượng lao động phi
nông nghiệp), DNNVV luôn được xác định có vai trò rất quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân. Phát triển DNNVV có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện
các mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả kinh tế xã hội một cách tổng thể. Tuy
cũng như tiềm lực hoạt động tín dụng đối với DNNVV còn chưa thực sự xứng
tầm với quy mô và sự phát triển của chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng Đầu
tư Phát triển Việt Nam cũng như các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Vì vậy tác giả đã chọn đề tài: “Chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Vĩnh Phúc” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề hoạt động tín dụng của NHTM cũng như vấn đề Doanh nghiệp
và việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp luôn được quan tâm và đã có nhiều bài
viết, công trình khoa học đã được công bố, đây là nguồn tư liệu quý giá cho
việc nghiên cứu luận văn. Có thể kể đến một số nghiên cứu dưới đây:
Giáo trình Tín dụng ngân hàng do PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn chủ biên
(2004) hay cuốn Tiền tệ tín dụng và Ngân hàng của GS. TS Lê Văn Tư (Nhà
xuất bản Thống kê 1997), các tác giả đã đưa ra những khái niệm cơ bản về
hoạt động tín dụng của NHTM, làm rõ bản chất của tín dụng, đặc điểm của
tín dụng, các loại hình tín dụng, quy trình và nguyên tắc cho vay, tác giả cũng
phân loại tín dụng theo tiêu thức thời gian thành 2 nhóm: tín dụng ngắn hạn
2
và tín dụng trung, dài hạn, ngoài ra còn có thể phân loại theo hình thức cho
vay hoặc đối tượng vay vốn....
Tác giả Vương Liêm với nghiên cứu Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Nhà
xuất bản Giao Thông, 2000) đã làm rõ khái niệm DNNVV và đặc điểm của
loại hình DN này trong nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu cũng đã phân tích
và chỉ ra khó khăn mà DNNVV gặp phải và đưa ra những giải pháp, đề xuất
để phát triển DNNVV trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề tăng
khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển DNNVV cũng đã được tác
giả đề cập đến xong còn ở mức hạn chế, hơn nữa, nghiên cứu được thực hiện
từ năm 2000 trở về trước nên thông tin thiếu tính cập nhật.
đánh giá tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng và khó khăn trong việc tiếp
cận vốn của DNNVV mà chưa đưa ra được giải pháp cho vấn đề đó.
“ Giải pháp nâng cao chất lượng trong hoạt động tín dụng” của 2 tác giả
Hoàng Văn Hoa và Tôn Thị Nga đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng số 4 (năm 2009), đã khái quát tình hình chung về hoạt động
tín dụng của NHTM, chỉ ra những điểm còn hạn chế và nguyên nhân từ đó đề
xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Tuy nhiên bài
viết không hướng đến một đối tượng cụ thể mà là những giải pháp nâng cao
chất lượng hoạt động tín dụng nói chung. Vì vậy, rất cần có những nghiên cứu
để đưa ra giải pháp phù hợp cho từng đối tượng tín dụng.
Đề tài “ Đẩy mạnh cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi
nhánh ngân hàng Đầu tư và phát triển Phúc Yên” của tác giả Hoàng Thị
Thu Hằng khá gần với vấn đề mà luận văn đang nghiên cứu. Tác giả của đề
tài này đã nêu lên những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với
DNNVV, phân tích và chỉ ra những mặt còn hạn chế trong hoạt động cho vay
đối với DNNVV tại chi nhánh ngân hàng Đầu tư và phát triển Phúc Yên. Từ
đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vay vốn đối với
DNNVV tại chi nhánh này. Tuy nhiên đề tài mới chỉ quan tâm tới mặt số
4
lượng mà chưa chú ý nhiều tới chất lượng tín dụng. NHTM là đơn vị kinh
doanh mà hoạt động tín dụng được coi là sản phẩm của ngân hàng, vì thế
ngoài số lượng thì chất lượng tín dụng là vấn đề sống còn của một ngân hàng.
Trong điều kiện hệ thống NHTM Việt Nam hội nhập ngày càng sâu
rộng với khu vực và thế giới, tự do hóa tài chính đang từng bước thực hiện
theo các lộ trình đã cam kết, vấn đề chất lượng tín dụng trong hoạt động tín
dụng luôn được các cán bộ khoa học, các NHTM quan tâm, nghiên cứu để có
biện pháp quản trị tốt. Tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Vĩnh Phúc những
nghiên cứu nâng cao chất lượng tín dụng mới chỉ dừng lại ở những tư vấn từ
b. Phạm vi: đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu chất lượng tín dụng
trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Vĩnh
Phúc, số liệu nghiên cứu được giới hạn trong giai đoạn 2008- 2010
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu từ tư duy lý luận về
vấn đề chất lượng tín dụng đối với DNNVV, thống kê, kiểm nghiệm qua thực
tiễn hoạt động tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Vĩnh Phúc giai
đoạn 2008-2010 đến so sánh, phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng đối với
DNNVV tại chi nhánh từ đó tìm ra các nguyên nhân, giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng tín dụng đối với DNNVV của đơn vị trong giai đoạn tới.
6. Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây,
đề tài tiếp tục nghiên cứu thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại
chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Vĩnh Phúc với những đóng góp
chủ yếu sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNNVV
tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và Phát triển tỉnh Vĩnh Phúc, để thấy được
những thành tựu, hạn chê và nguyên nhân.
6
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín
dụng đối với DNNVV tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và Phát triển Vĩnh
Phúc.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chất lượng tín dụng của ngân
hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2 : Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi
nghĩa là Ngân hàng cho vay.
8
Ngoài ra, phần lớn các khoản tín dụng của ngân hàng có nguồn gốc từ
cảc khoản tiền gửi của dân cư, Ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian
chuyển vốn từ người gửi tiền sang người vay vốn. Từ những đặc điểm này
của tín dụng ngân hàng cho nên hoạt động tín dụng của ngân hàng bắt buộc
phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả
năng sinh lời. Đó là:
Khách hàng có phương án kinh doanh khả thi và có nhưng thiếu vốn để
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi khách hàng vay vốn Ngân hàng
phải cam kết sử dụng vốn đúng theo mục đích đã được thỏa thuận trong Hợp
đồng tín dụng đã ký kết và mục đích sử dụng vốn vay không được trái với
các quy định của pháp luật đã đặt ra và phải phù hợp với quy định chung về
đối tượng cho vay của ngân hàng. Đây là nguyên tắc cơ bản và quan trọng
nhất trong khi tiến hành cho vay của Ngân hàng. Vì nguồn trả nợ cho Ngân
hàng là lợi nhuận đem lại từ phương án sản xuất kinh doanh đó. Do đó, nếu
quá trình cho vay không được thẩm định một cách chính xác và vốn vay
không được sử dụng vào mục đích ban đầu khi ký kết hợp đồng thì rủi ro tín
dụng xảy ra là rất cao, Ngân hàng gặp khó khăn rất nhiều trong vấn đề thu
hồi lại gốc vay.
Khách hàng phải cam kết trả vốn và lãi đúng thời hạn đã cam kết. Với
vai trò là một trung gian tài chính, Ngân hàng tiến hành đi vay để cho vay.
Do đó, việc khách hàng hoàn trả gốc và lãi là vấn đề đặc biệt quan trọng với
Ngân hàng. Nếu khách hàng vay vốn không hoàn trả khoản vay theo đúng
thời hạn đã ký kết trong hợp đồng thì Ngân hàng rất có khả năng rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán. Bởi vì phần lớn các khoản tiền Ngân hàng
tiến hành cho vay là từ các khoản tiền gửi của người dân hoặc của các tổ
cho tài sản cố định như: sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải
tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng
những công trình loại nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
10
- Tín dụng dài hạn: Thời gian của một khoản tín dụng được xếp vào
loại dài hạn khi thời gian tài trợ trên 5 năm. Hoạt động tín dụng dài hạn tài trợ
chủ yếu cho công trình xây dựng cơ bản như nhà, sân bay, cầu, đường, máy
móc thiết bị có giá trị lớn, thời gian sử dụng thường kéo dài.
* Phân theo tài sản đảm bảo.
Phân loại tín dụng theo tài sản thì có tín dụng cần có tài sản đảm bảo và
tín dụng không cần có tài sản đảm bảo (tín chấp):
- Tín dụng không cần tài sản đảm bảo là hình thức khách hàng không
cần đưa tài sản đảm bảo khi vay ngân hàng nhưng phải được đảm bảo bằng uy
tín của chính khách hàng đó hoặc của người thư ba đứng ra bảo đảm. Đối
tượng khách hàng được áp dụng trong trường hợp này thường là những khách
hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng rất tốt, làm ăn thường xuyên có lãi,
tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa hoặc món
vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay.
- Tín dụng cần có tài sản đảm bảo: Đây là loại hình áp dụng phổ biến
trong ngân hàng, là điều kiện không thể thiếu khi khách hàng đến vay ngân
hàng vì về nguyên tắc mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều cần có đảm bảo
bằng tài sản như cầm cố hoặc thế chấp.
* Phân theo mức độ rủi ro:
Các khoản tín dụng có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp trong đó:
- Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
- Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có những dấu hiệu không
lành mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ hàng hoá, khách hàng gặp thiên tai,
và lượng. Vậy thế nào khoản cho vay tốt, thế nào là khoản cho vay xấu?
Dường như rất khó để trả lời một cách chính xác cho câu hỏi này bởi vì hiện
nay có nhiều quan điểm về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
* Chất lượng tín dụng theo quan điểm của khách hàng.
12
Một khoản vay có chất lượng không chỉ là sự nỗ lực của phía ngân hàng
mà khách hàng là người quyết định chính, là nhân tố quyết định quan trọng
cho chất lượng tín dụng. Theo quan điểm của khách hàng, chất lượng tín dụng
là sự thoả mãn yêu cầu khách hàng về một khoản tín dụng với mức lãi suất,
kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản thuận tiện nhanh chóng…, quy mô, phương
thức giải ngân và thu nợ phù hợp...
Ngoài ra, thông qua quan hệ tín dụng lâu dài với khách hàng, sự am hiểu
về khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiều rõ nhu cầu tín dụng của khách
hàng, đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho họ. Trong môi trường
cạnh tranh gay gắt hiện nay, chất lượng yêu cầu hàng đầu trong cạnh tranh.
Do vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng như
lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, điều này thu hút khách mà
vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp với tốc độ
phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng, góp
phần làm lành mạnh tổ chức của DN.
Tóm lại, chất lượng tín dụng xét từ góc độ khách hàng chính là sự thoả
mãn kịp thời nhu cầu về vốn cho khách hàng, giúp khách hàng mau chóng và
kịp thời sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh của mình, ngoài ra chất lượng
tín dụng có được đảm bảo hay không là còn phụ thuộc vào sự hợp tác của
khách hàng là sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả.
* Chất lượng tín dụng theo quan điểm của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân
Khả năng sinh lời của ngân hàng: thể hiện ở số dư nợ, tỷ lệ nợ quá
hạn… số dư tín dụng tăng, chất lượng tín dụng đảm bảo, thu nhập từ hoạt
động tín dụng của ngân hàng tăng, tỷ lệ nợ quá hạn giảm, rủi ro tín dụng
giảm, ngân hàng tránh được những tổn thất do hoạt động tín dụng mang lại....
14
Tóm lại, đối với NHTM chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp,
nó phản ánh khả năng thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường
bên ngoài, nó thể hiện năng lực cạnh tranh của một ngân hàng. Chất lượng tín
dụng là một phạm trù lớn. Để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng
phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và
uy tín trong hoạt động. Chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin
cậy trong hoạt động tín dụng. Hiểu đúng bản chất chất lượng tín dụng, phân
tích và đánh giá đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính
xác nguyên nhân tồn tại của chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tìm
được biện pháp quản lý thích hợp để nâng cao chất lượng tín dụng.
Như vậy, ta thấy quan điểm về chất lượng tín dụng dưới góc độ ngân
hàng, khách hàng và xã hội có sự mâu thuẫn. Ngân hàng luôn mong muốn có
thu nhập cao từ khoản vay, do vậy muốn duy trì mức lãi suất cho vay cao, thu
được khoản vay đúng hạn… Ngược lại, khách hàng muốn mức lãi suất thấp,
thuận lợi trong thủ tục vay… cũng xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận. Do vậy,
hoạt động của ngân hàng phải đáp ứng và dung hoà các mục tiêu trên.
Để đánh giá chất lượng tín dụng đối với DN một cách chính xác, đầy
đủ chúng ta phải xem xét và phân tích kỹ lưỡng các chỉ tiêu định tính và chỉ
tiêu định lượng trên giác độ của NHTM, DNNVV.
1.1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng
* Chỉ tiêu định tính:
Quan điểm về chất lượng tín dụng dưới góc độ ngân hàng, khách hàng là
Như vậy, với mỗi khoản cho vay, tính hiệu quả chỉ đạt được khi DN sử
dụng vốn vay đúng mục đích đã ký, trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho Ngân
hàng nghĩa là tuân thủ theo nguyên tắc tín dụng. Nghiệp vụ tín dụng tuy đem
16
lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Do
vậy, việc tuân thủ chặt chẽ các quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng vừa là điều
kiện cần thiết, vừa là biểu hiện chất lượng tín dụng Ngân hàng tốt.
fCác chỉ tiêu định tính đánh giá chất lượng tín dụng nói chung là khá
phức tạp, khó xác định chính xác đồng thời cũng chỉ đem lại cái nhìn khái
quát về chất lượng tín dụng. Để đánh giá chất lượng tín dụng chính xác hơn,
cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét tổng hợp các chỉ tiêu định lượng trên góc độ
Ngân hàng và khách hàng như sau.
* Chỉ tiêu định lượng:
Chỉ tiêu về doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ đối với DN:
Đây là chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng đầu tiên khi đánh giá hoạt
động tín dụng của một NHTM đối với một đối tượng khách hàng nhất định.
Hai chỉ tiêu này không trực tiếp phản ánh chất lượng tín dụng nhưng là cơ sở
để xác định các chỉ tiêu khác trong quá trình đánh giá hoạt động tín dụng.
- Doanh số cho vay trong kỳ đối với DN: là tổng số tiền mà Ngân hàng đã
cho các DN vay trong một kỳ (thường là một năm). Đây là chỉ tiêu phản ánh
quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng của Ngân hàng với các DN.
Khi xem xét doanh số cho vay người ta thường tính tỷ lệ tăng trưởng doanh
số cho vay đối với DN để đánh giá khả năng mở rộng quy mô cho vay tới DN
qua các thời kỳ.
Tỷ lệ tăng trưởng
doanh số CV
tổng doanh số thu nợ
Tổng doanh số thu nợ
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ doanh số thu nợ từ DN trong tổng doanh số thu nợ
của ngân hàng.
- Dư nợ tín dụng đối với DN: Dư nợ của DN là số tiền mà ngân hàng hiện
đang còn cho DN vay tại một thời điểm nhất định, thường xem xét ở thời
điểm cuối kỳ. Đây là số tuyệt đối thể hiện quy mô cho vay tới các DN tại một
thời điểm nhất định. Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ quy mô cho vay càng lớn, ngân
hàng đang mở rộng cho vay đối với DN.
Tổng dư nợ thấp chỉ ra rằng ngân hàng không có khả năng mở rộng
hoạt động cho vay, khả năng tiếp thị kém, trình độ nguồn nhân lực không
cao... Tuy nhiên không phải bất kỳ thời điểm nào chỉ tiêu này cao cũng là tốt
và ngược lại.
Xét về số tương đối, tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với
DN phản ánh mức độ cho vay của Ngân hàng đối với DN qua các kỳ là nhanh
hay chậm.
18
Tỷ lệ tăng
(DN năm nay – DN năm trước) đối với DN
trưởng tín dụng = ------------------------------------------------------- x100
Tuy nhiên, khi đánh giá chất lượng tín dụng, không thể chỉ thông qua
việc phân tích hoạt động tín dụng về mặt lượng mà cần xem xét tới các yếu tố
phản ánh khả năng an toàn và lành mạnh của các khoản tín dụng đó.
Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu của DN
19