ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------oOo----------
HÀ THỊ THU HƢỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2014
1
Hà Nội - Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------oOo----------
HÀ THỊ THU HƢỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hoạt động dạy nghề và vai trò của hoạt động dạy nghề trong nền
kinh tế quốc dân
6
1.1.1 Khái niệm, các hình thức và đặc điểm hoạt động dạy nghề
6
1.1.2 Vai trò của hoạt động dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân
10
1.2
11
Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề
1.2.1 Khái niệm và nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động
dạy nghề
11
1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề
15
1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề
2.1.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động
dạy nghề ở Thái Nguyên
31
2.1.2 Hoạt động dạy nghề ở Thái Nguyên trong thời gian qua
38
3
2.2
Tình hình quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở
Thái Nguyên
43
2.2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy
nghề ở Thái Nguyên
43
2.2.2 Tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, kế hoạch
phát triển dạy nghề trên địa bàn
45
2.2.3 Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao chất lượng đội
63
3.1
Định hướng chung tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt
động dạy nghề ở Thái Nguyên
63
3.1.1 Bối cảnh mới tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động
dạy nghề ở Thái Nguyên
63
3.1.2 Định hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy
nghề ở Thái Nguyên trong thời gian tới
76
3.2
Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động
dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 –
2015
78
3.2.1 Tổ chức xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, xây
dựng mục tiêu và kế hoạch thực hiện các hoạt động dạy nghề
Phụ lục
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CĐN
Cao đẳng nghề
2
CSDN
Cơ sở dạy nghề
3
CSXH
Chính sách xã hội
9
LĐTBXH
Lao động Thương binh và Xã hội
10
UBND
Ủy ban Nhân dân
11
TCN
Trung cấp nghề
12
TH
Thực hiện
13
TTDN
Trung tâm dạy nghề
Lao động làm việc trong các ngành tạo việc
làm mới
34
Các Trường Đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp
34
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu chủ yếu giai
đoạn 2006 – 2010
36
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đào
tạo nghề của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2006 – 2010
41
Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2006 – 2010
42
Tổng hợp đội ngũ giáo viên dạy nghề của
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
nghề có vai trò rấ t quan tro ̣ng đố i với phát triể n kinh tế - xã hội. Hàng năm, nhà
nước đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng cho công tác dạy nghề và hoạt động này
đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Kết quả của hoạt động dạy nghề những
năm qua đã và đang ta ̣o nên sự chuyể n biế n to lớn chất lượng nguồn nhân lực
phục vụ trực tiếp cho sản xuất
, đóng goṕ đáng kể vào công cuô ̣c phát triể n kinh tế
- xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiê ̣n công nghiê ̣p hoa
, hiê
́ ̣n đa ̣i hoá đấ t nướ.c
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, việc triển khai hoạt
động dạy nghề trên các tỉnh, các thành phố của cả nước cũng không ngừng được
đổi mới, đa dạng hóa các hình thức dạy và học để đạt được hiệu quả cao nhất
trong công tác đào tạo. Trong thời gian qua, quản lý của nhà nước về dạy nghề ở
Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu nhất định: Hệ thống cơ sở dạy nghệ
được phát triển mạnh mẽ, quy mô đào tạo có sự gia tăng đáng kể, các nhân tố đảm
bảo chất lượng đào tạo được tăng cường khiến chất lượng dạy nghề cũng dần
được cải thiện
Tuy nhiên, hoạt động dạy nghề tại tỉnh Thái Nguyên đã và đang bộc lộ
nhiều vấn đề bất cập như: đầu tư dàn trải, quản lý lỏng lẻo, lãng phí vốn đầu tư,
hiệu quả dạy nghề thấp…mà nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là những yếu
kém trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề. Từ thực tế đó,
nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay là nghiên cứu những giải pháp để hoàn
thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề để từ đó đảm bảo tính
8
kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của vốn đầu tư và thực hiện được mục tiêu tạo sự thay
đổi mang tính đột phá về chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp
hoá – hiện đại hoá đất nước. Đó cũng là lý do chủ yế u của viê ̣c lựa cho ̣n đề tài:
triển đào tạo nghề của nước ta;
- Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam, tác giả Bùi Đức
Tùng, luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị (năm 2007), Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở, lý luận
và thực tiễn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề;
- Quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Tuyết
Mai, luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị (năm 2011), Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở, lý luận và
thực tiễn về quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Hà Nội;
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên cứu
khác được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn. Những nghiên
cứu trên có các cách tiếp cận khác nhau về dạy nghề và quản lý nhà nước về dạy
nghề. Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thái
Nguyên hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Do vậy, đề tài: “Quản
lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” là một đề tài mới, chưa
được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam. Trong quá trình thực hiện đề
tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả
cũng tham khảo, kết hợp việc khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là về lý
luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dạy nghề. Từ đó tác giả đề xuất các giải
pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thái Nguyên trong thời
gian tới. Những câu hỏi nghiên cứu mà đề tài đặt ra là: Cơ sở lý luận của công tác
quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ? Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên,
trong giai đoạn 2006 - 2010, công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động dạy
nghề diễn ra như thế nào? Có tồn tại nào không? Nguyên nhân và cách khắc phục
những tồn tại đó?
10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
11
dụng phương pháp chuẩn tắc để đánh giá thực trạng và xác định nguyên nhân làm
cơ sở để đề xuất các giải pháp.
- Phương pháp thống kê, so sánh: sử dụng các số liệu thống kê để phân tích,
so sánh rút ra các kết luận làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề ở tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia: trong quá trình thực hiện
đề tài, tác giả tham khảo ý kiến của các nhà quản lý có kinh nghiệm đã trực tiếp
quản lý hoạt động dạy nghề của địa phương để thu thập thông tin nhiều chiều
phục vụ các nội dung nghiên cứu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa có bổ sung cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dạy nghề;
- Đưa ra cái nhìn tổng quan và đầy đủ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
dạy nghề ở Thái Nguyên, những việc làm được, đặc biệt là những hạn chế, thiếu
sót, những bất cập, lỗ hổng trong quản lý.
- Đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thái
Nguyên trong thời gian tới
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kế t luâ ̣n và tài liê ̣u tham khảo , đề tài đươ ̣c kế t cấ u
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt
động dạy nghề
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối
với hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
12
Thông thường, có các cách phân loại các hoạt động dạy nghề như sau:
- Theo trình độ đào tạo: Dạy nghề chia thành 3 trình độ đào tạo là sơ cấp
nghề, TCN, CĐN.
- Theo hình thức đào tạo: Dạy nghề chia thành 2 loại là dạy nghề chính quy
và dạy nghề thường xuyên.
- Theo hình thức và tính chất sở hữu của cơ sở đào tạo: Dạy nghề chia làm
3 loại là dạy nghề của các cơ sở công lập, dạy nghề của các cơ sở tư thục và dạy
nghề của cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.
- Theo nghề đào tạo đối với người học: Dạy nghề chia làm 3 loại là đào tạo
mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao.
1.1.1.3 Đặc điểm chung của hoạt động dạy nghề
* Dạy nghề là hình thành nhân cách người lao động mới.
Khác với giáo dục phổ thông, dạy nghề là đào tạo cho người học có được
các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định để
có thể làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh
những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ
chức, kỷ luật trong lao động sản xuất. Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên
nhân cách người lao động mới mà hoạt động dạy nghề phải mang lại cho người
học trong quá trình đào tạo nghề.
* Dạy nghề gắn liền với quá trình sản xuất
Đặc thù cơ bản của dạy nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình
sản xuất. Mối liên quan này chặt chẽ hơn nhiều so với mối liên quan giữa dạy
khoa học cơ bản với quá trình nhận thức khoa học. Để nắm vững được nội dung
khoa học cơ bản không đòi hỏi phải lặp đi lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức khoa
học đã hình thành ra nội dung này. Còn muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì
phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó
(thiết bị luyện tập). Những mặt cơ bản của quá trình sản xuất gồm: đối tượng lao
15
cấu trúc khoa học bao gồm: mục tiêu đào tạo, đặc điểm nghề, nội dung lao động
phản ánh đúng trình độ sản xuất hiện tại và danh mục nghề đào tạo quy định.
Ngày nay khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh làm thay đổi công nghệ sản
xuất và nội dung lao động nghề nghiệp của người công nhân. Vì thế trong vòng 5
-7 năm cần thiết phải xây dựng lại danh mục nghề đào tạo một lần. Đó cũng là
điểm khác biệt của đào tạo nghề với giáo dục phổ thông.
* Phương pháp dạy nghề
Trong khi dạy lý thuyết nghề người ta sử dụng những phương pháp như
dạy phổ thông: phương pháp thuyết trình: thầy nói – trò nghe; phương pháp đàm
thoại: thầy hỏi – trò đáp; phương pháp trực quan: thầy chỉ - trò xem. Nếu nói theo
nguồn gốc tri thức thì có các phương pháp: Diễn đạt bằng lời (thuyết trình, đàm
thoại, nêu vấn đề); phương pháp trực quan (giới thiệu, quan sát thí nghiệm). Các
phương pháp này phần lớn chỉ có tác dụng bên ngoài chứ chưa kính thích được
tính tích cực bên trong của người học. Để điều khiển hoạt động nhận thức, hoạt
động thực hành và phát huy năng lực độc lập sáng tạo của người học cần phải thay
đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với bản chất của quá trình điều khiển,
với quy luật khách quan của quá trình đó. Dạy nghề nêu vấn đề đáp ứng được yêu
cầu này.
Phương pháp dạy nghề nêu vấn đề cũng sử dụng tốt tất cả các phương pháp
kể trên đồng thời đưa vào những tiến bộ mới dựa trên thành quả của tâm lý học
dạy học và lý luận dạy học. Tuy các phương pháp sử dụng ở phổ thông được áp
dụng khi đưa vào các trường nghề vẫn có dấu hiệu riêng do tính đa dạng của sản
xuất. Các panô, bản vẽ, các thiết bị được mổ xẻ, các máy luyện tập mẫu...dùng
trong dạy lý thuyết đều là mô hình của quá trình sản xuất thực. Hơn nữa việc dạy
lý thuyết luôn luôn được luân phiên với dạy thực hành sản xuất và học sinh làm ra
sản phẩm ngay từ những ngày đầu học nghề.
17
luôn là một yếu tố quan trọng trong việc táI sản xuất sức lao động vì thế mà
công tác đó là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội .
Vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khoá VII) đã khẳng định sự nghiệp đổi mới có thành công hay không,
đất nước bước vào thế kỉ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới
hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng
rèn luyện thế hệ thanh niên, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân
tộc, là một trong yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng
Như vậy, có thể thấy rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), đặc
biệt là trong bối cảnh đang tiến hành xây dựng và hoàn thiện một nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN từng bước hội nhập với nền kinh tế khu
vực và thế giới như ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề con người là vấn đề chủ
chốt. Một trong những công tác hàng đầu để hình thành con người mới
XHCN đó chính là đào tạo nghề cho người lao động.
1.2 Quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động dạy nghề
1.2.1 Khái niệm và nội dung của quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động
dạy nghề
1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu. Ngay từ khi xã hội loài người
xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển
đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến
phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào
đó. Một cách chung nhất, quản lý có thể được hiểu là: Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý
nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự
vận động của sự vật [5,tr.26].
triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và đào
20
tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao dựa
trên nền học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp.
Thứ ba, Nhà nước huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát
triển hoạt động dạy nghề
Muốn phát triển công tác dạy nghề cần có nhiều yếu tố, trong đó có vốn
đầu tư. Ngân sách quốc gia là nguồn cung cấp tài chính lớn nhất cho giáo dục –
đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêng. Tuy nhiên, do đất nước còn nghèo nên tỷ lệ
chi cho phát triển hoạt động dạy nghề trong tổng chi ngân sách quốc gia còn ở
mức hạn chế. Số chi này cũng chỉ mới tập trung được cho việc trang bị cơ sở vật
chất, máy móc, thiết bị, đồ dùng dạy học và trả lương cho giáo viên và đội ngũ
cán bộ quản lý. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã đầu tư nhiều hơn cho
công tác dạy nghề thông qua kinh phí của các chương trình mục tiêu quốc gia, các
dự án… Việc huy động thêm từ các nguồn lực ngoài ngân sách (cả trong và ngoài
nước) cũng đã có tác dụng đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả công tác dạy
nghề. Nhà nước quy định về quản lý tài chính, tài sản, đầu tư phát triển dạy nghề
(quy định về quản lý chi tiêu công, quy định cấp đất, cho thuê đất, chính sách
thuế, học bổng, học phí, kinh phí đào tạo…). Bên cạnh đó, Nhà nước tổ chức chỉ
đạo nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đối với hoạt
động dạy nghề.
Thứ tư, Nhà nước tổ chức bộ máy quản lý về dạy nghề, hoàn thiện cơ
chế quản lý
Bộ máy quản lý Nhà nước về dạy nghề bao gồm từ Bộ LĐTBXH, Tổng
cục Dạy nghề đến các cơ quan quản lý hoạt động dạy nghề tại địa phương (thành
phố, tỉnh, huyện, xã). Đồng thời, Nhà nước tiến hành phân cấp quản lý giữa trung
ương và địa phương. Hiện nay, Nhà nước đang xúc tiến đổi mới cơ chế quản lý,
việc tái sản xuất sức lao động và luôn là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền
sản xuất xã hội. Vì vậy, Nhà nước cần phải quản lý hoạt động dạy nghề để thực
hiện được các mục tiêu vĩ mô về phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
22
1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý Nhà nƣớc về dạy nghề
* Nhu cầu của thị trường tác động đến QLNN về dạy nghề
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO. Vì vậy đào
nguồn nhân lực chất lượng cao đối với Việt Nam chính là chìa khóa để phát triển
kinh tế. Đây là một nhiệm vụ rất lớn đặt ra cho ngành giáo dục Việt Nam. Vấn đề
nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay đã trở thành yếu tố cơ bản
trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm
gần đây, thực tế từ nhu cầu của thị trường lao động của một số địa phương cho
thấy nhu cầu lao động có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm 20% đến 25%; nhu
cầu lao động có trình độ trên đại học chỉ chiếm 2% - 5%, nhưng nhu cầu lao động
có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề lại cần tới 35% đến 40%.
Điều này là một sự chuyển biến về nhu cầu lao động thể hiện sự phát triển hội
nhập của đất nước, thời gian tới sẽ còn tiếp tục dịch chuyển mạnh mẽ, mà thấy rõ
nhất là nhu cầu lao động kỹ thuật.
Bản chất của dạy nghề là đáp ứng nhu cầu xã hội, mục tiêu của dạy nghề là
cung cấp nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; đáp ứng nhu
cầu thị trường lao động. Tuy nhiên, từ trước đến nay, về cơ bản, các cơ sở dạy
nghề chủ yếu chỉ đào tạo “cái mình có” theo chương trình mà chưa chú trọng đến
nhu cầu từng ngành nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy,
một trong những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu đội ngũ
lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Vai trò của các cơ sở dạy nghề trong việc đào tạo
và cung ứng lao động đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp là điều rất cần thiết
chất… Việc dạy nghề chính là đào tạo lao động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp
được thụ hưởng kết quả, sản phẩm của quá trình dạy nghề. Do vậy, doanh nghiệp
phải tham gia vào dạy nghề. Để tạo ra sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy
nghề cần xác định rõ cơ chế lợi ích cho doanh nghiệp. Lợi ích sẽ tạo động lực cho
doanh nghiệp chủ động tham gia vào hoạt động dạy nghề mà không cần đến chế
24
tài bắt buộc. Có như vậy, công tác dạy nghề mới đảm bảo đáp ứng và phù hợp với
nhu cầu của thị trường.
* Nhận thức của xã hội tác động đến QLNN về dạy nghề
Luật Dạy nghề đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/6/2007. Với sự chủ động tích cực của toàn ngành và sự phối hợp tham
gia của các Bộ, ngành, địa phương, Luật Dạy nghề đã thực sự đi vào thực tiễn, là
cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển dạy nghề, nâng cao chất lượng, hiệu quả
dạy nghề, góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật trực tiếp
cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế không thể phủ nhận là đa số người dân
không muốn học nghề mà chỉ muốn học đại học. Cánh cửa các trường đại học
ngày một rộng mở với nhiều hệ đào tạo, nhiều loại hình, tạo cơ hội tốt nhất để mọi
người có thể đến với các giảng đường đại học. Và hệ lụy tất yếu, số người đến với
học nghề thì ngày càng ít đi, trong khi đó, lao động qua đào tạo nghề lại là lực
lượng lao động chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để khắc phục vấn đề này, Nhà nước đã có nhiều chính sách để tạo sự phân
luồng học nghề. Tuy nhiên, các chính sách phân luồng nêu trên đều chưa thực
hiện được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên
nhân từ những chính sách quy định trong các văn bản luật không cụ thể.Với nhận
thức không đúng của xã hội về việc học nghề, làm nghề nên trong nhưng năm