Chơng VII
Địa vị pháp lý của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng
dân c và cơ sở tôn giáo sử dụng đất
I. Các khái niệm.
1. Khái niệm hộ gia đình.
Từ lâu, trong quan hệ huyết thống của cộng đồng ngời Việt Nam, gia đình là
tổ ấm, nơi mỗi con ngời đợc sinh ra và lớn lên trong tình thơng của cả cộng
đồng. Mỗi gia đình truyền thống thờng có 2 đến 3 thế hệ cùng chung sống, cùng gắn
bó với nhau lúc khó khăn cũng nh những niềm vui. Tất cả họ cùng chung sống
trong một mái nhà, có cùng huyết tộc.
Tuy nhiên, khái niệm hộ gia đình đợc đề cập ở đây với tính pháp lý của nó là
một đơn vị sử dụng đất đợc Nhà nớc giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử
dụng đất hoặc đợc công nhận quyền sử dụng đất. Họ là một tế bào kinh tế của đất
nớc, là đơn vị tự chủ trong sản xuất và kinh doanh.
Thực chất của kinh tế hộ gia đình gắn liền với các chính sách khoán, từ khoán
100 theo chỉ thị của Ban bí th ngày 13/1/1981 đến khoán 10 theo Nghị quyết số
10/BCT ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ơng Đảng cộng sản
Việt Nam. Vấn đề giao đất cho hộ gia đình, cá nhân xuất phát từ đây và sau đó đợc
cụ thể hoá bằng các quy định của Luật đất đai năm 1993.
Bộ luật dân sự đầu tiên của Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
hiệu lực pháp lý từ 1/7/1996 cũng đã xác định rõ địa vị pháp lý của hộ gia đình là:
các thành viên của một gia đình, có tài sản chung để hoạt động sản xuất kinh doanh
chung. Theo đó, quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình là tài sản chung của
họ.
Các Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001 và Luật đất đai năm 2003 cũng
tiếp tục sử dụng khái niệm hộ gia đình với tính cách là một chủ thể sử dụng đất quan
trọng đợc Nhà nớc giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc đợc
công nhận quyền sử dụng đất. Hộ gia đình là đối tợng đợc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, là chủ thể đợc hởng quyền và có các nghĩa vụ theo quy định của
Luật đất đai.
nhóm nào? Luật đất đai năm 1993 không phúc đáp đợc vấn đề này. Cho nên, trong
thực tế khi có tranh chấp về quyền sử dụng đất của cộng đồng dân c thì cơ chế pháp
lý cần giải quyết nh thế nào? Cơ quan Nhà nớc nào cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho họ? để trả lời các khúc mắc trên chúng ta tìm thấy trong quy định của
Bộ luật Dân sự quy định về sở hữu chung của cộng đồng. Cụ thể khoản 1 Điều 234
của Bộ luật Dân sự quy định nh sau: Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của
dòng họ, thôn, ấp, làng, bản, cộng đồng tôn giáo và các cộng đồng dân c khác đối
với tài sản đợc hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng
120
cùng nhau đóng góp, quyên góp, đựơc tặng cho chung... nhằm thoả mãn lợi ích chung
hợp pháp của cả cộng đồng.
Nh vậy, quyền sử dụng đất hình thành do tập quán lâu đời cũng nh việc xây
dựng các công trình đền, đình, miếu am, nhà thờ họ và các công trình tín ngỡng
dân gian khác là tài sản chung của dòng họ, của một cộng đồng dân c nhất định.
Vậy, việc định đoạt các tài sản này nh thế nào? Khoản 3 Điều 234 của Bộ luật Dân
sự quy định: Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân
chia.
Theo các quy định trên, tài sản chung của cộng đồng trong đó có quyền sử dụng
đất cần phải có cơ chế pháp lý rõ ràng để tránh việc định đoạt trái với ý muốn của
cộng đồng và đạo đức xã hội.
Cho nên, lần đầu tiên quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đợc
xác định tại Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ về thi hành
Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998. Theo đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho cộng đồng dân c tại đô thị do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện và
cộng đồng dân c sử dụng đất tại nông thôn do Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định.
Nh vậy, cho đến thời điểm năm 2000, khái niệm cộng đồng dân c sử dụng đất mới
đợc nói tới trong các quy định của pháp luật đất đai, nhng mới liên quan một vấn đề
quan trọng là công nhận quyền sử dụng đất của họ, những vấn đề khác nh: họ có phải
là đối tợng đợc giao đất, cho thuê đất không? Ai thực tế là ngời đợc trao giấy chứng
của các nhà chùa, thánh thất tôn giáo đợc Nhà nớc bảo hộ trên cơ sở diện tích hiện
nay mà họ đang sử dụng. Đất tôn giáo bao gồm: Đất nhà chùa, nhà thờ, tu viện,
trờng đào tạo riêng của tôn giáo, thánh thất dùng vào việc thờ cúng, lễ bái, nhà,
sân, ruộng, vờn, cây cối, ao ở trong và ngoài khu nội tự, khuôn viên đất tôn giáo
(1)
.
Nh vậy, các cơ sở tôn giáo đang sử dụng các loại đất nêu trên phải là cơ sở tôn
giáo đợc Nhà nớc cho phép hoạt động và phục vụ tín ngỡng cho nhân dân. Đất
của các cơ sở tôn giáo đang sử dụng ổn định đợc Nhà nớc xem xét công nhận
quyền sử dụng đất. Nếu cơ sở tôn giáo có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích phi nông
nghiệp không thu tiền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sở tại căn cứ vào
chính sách tôn giáo của Nhà nớc, giao đất để cơ sở tôn giáo hoạt động trong khuôn
khổ của pháp luật.
II. Các quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo và
cộng đồng dân c sử dụng đất.
Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, các quyền của từng chủ thể sử dụng
đất nh: hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân c cũng đợc phân chia thành từng
nhóm và thụ hởng các quyền khác nhau. Cụ thể: quyền và nghĩa vụ của hộ gia
đình, cá nhân sử dụng không phải đất thuê; quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất thuê; quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục
đích từ loại đất không thu tiền sử dụng đất sang có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê
đất; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân c sử dụng đất. (1)
Xem Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trờng đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản
Công an nhân dân, 1999, trang 29.
122
1. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải
kiện theo quy định của Chính phủ.
Đối với quyền năng này, trớc đây có sự tách bạch các điều kiện chuyển nhợng
quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp với điều kiện chuyển nh
ợng quyền sử
dụng đất ở. Trong khi điều kiện chuyển nhợng quyền sử dụng đất ở khá thông
thoáng, thì việc chuyển nhợng quyền sử dụng nhóm đất nông nghiệp đợc quy định
cho cả hai bên, bên chuyển nhợng và cả bên nhận chuyển nhợng. Ngời nhận
chuyển nhợng đất trồng lúa chỉ là hộ nông dân đang sử dụng dới hạn mức mà Nhà
123