THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG
KHOÁN TỰ DO Ở VIỆT NAM
2.1. Khái quát về TTCK Việt Nam
TTCK trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn
ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán
này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần
đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán
lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.
TTCK VN đang trong quá trình phát triển. Tuy TTCK đã có sự phát triển
nóng, có những bước tiến nhảy vọt trong thời gian vừa qua, nhưng trước mắt vẫn là
những thách thức không nhỏ, cần được sự chỉ đạo đúng đắn của các cơ quan quản
lý cấp trên mà trực tiếp là UNCKNN kèm theo là sự nỗ lực, nhất trí của các đối
tượng tham gia thị trường.
2.1.1.Quá trình hình thành của TTCKVN
Xây dựng và phát triển TTCK là mục tiêu đã được Đảng và Chính phủ Việt
Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20) nhằm xác lập một kênh
huy động vốn mới cho đầu tư phát triển. Việc nghiên cứu, xây dựng đề án thành
lập TTCK đã được nhiều cơ quan Nhà nước, các Viện nghiên cứu phối hợp đề xuất
với Chính phủ.
Một trong những bước đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây dựng
TTCK ở Việt Nam là việc thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và phát triển thị
trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước (Quyết định số 207/QĐ-TCCB ngày
6/11/1993 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) với nhiệm vụ nghiên cứu, xây
dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập TTCK theo bước đi thích hợp.
Tháng 9/1994, Chính phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo Pháp lệnh về chứng
khoán và TTCK do một đồng chí Thứ trưởng Bộ Tài chính làm Trưởng Ban, với
các thành viên là Phó Thống đốc NHNN, Thứ trưởng Bộ Tư pháp. Trên cơ sở Đề
án của Ban soạn thảo kết hợp với đề án của NHNN và ý kiến của các Bộ, ngành
liên quan, ngày 29/6/1995, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 361/QĐ-TTg
thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị
các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam. Đây là bước đi có ý
tp Hồ Chí Minh hiện nay, tạo ra nơi giao dịch cho các công ty không đủ điều kiện
niêm yết tại TTGDCK tp Hồ Chí Minh (do các công ty này có quy mô vốn và cơ
sở người đầu tư nhỏ cũng như khả năng đáp ứng các yêu cầu về công bố thông tin
thấp hơn), tạo ra sự đa dạng về cơ hội đầu tư, từ đó thu hút thêm sự quan tâm và
tham gia của các tổ chức phát hành tiềm năng cũng như công chúng đầu tư.. Chính
vì vậy, mô hình thị trường phi tập trung được áp dụng nhằm tạo ra một cơ chế giao
dịch linh hoạt, bảo đảm tính thanh khoản cho các chứng khoán đăng ký tham gia
thị trường. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm quốc tế, mô hình giao dịch này cũng
phù hợp hơn với đặc điểm hoạt động giao dịch trái phiếu. Vì vậy, khi được phát
triển đầy đủ, hoạt động TTGDCK Hà Nội sẽ là một động lực thúc đẩy thị trường
trái phiếu trong tương lai
Mặc dù trong thời gian đầu hình thành TTCKVN, quy mô thị trường còn bé,
song bước đầu đã thu hút được sự quan tâm của công chúng đầu tư trong nước
cũng như ngoài nước.
2.1.2. Quá trình phát triển của TTCK VN từ khi thành lập đến nay.
TTCKVN trải qua 7 năm đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là
trong năm 2006. Có thể nói năm 2006 là năm đánh dấu sự phát triển vượt bậc của
TTCK VN trên nhiều phương diện cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng
-Hàng hoá và quy mô giao dịch thị tr ường
Sự ra đời của TTCKVN vào ngày 20/07/2000 là một sự kiện quan trọng
trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước. Khi mới đi vào hoạt động, tại
TTGDCK TP.HCM chỉ có 02 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng
và một vài lọai trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.. Từ đó cho đến 2005,
thị trường luôn ở trong trạng thái “yên tĩnh” (loại trừ cơn sốt vào năm 2001) thì
trong năm năm chỉ số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất
xuống đến130 điểm. Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng
nhỏ, không nổi tiếng, không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước. Mặc dù vậy số lượng
chứng khoán niêm yết vẫn tăng dần qua các năm. Năm 2005, TTGDCK Tp HCM
tăng thêm 07 công ty niêm yết. Và đến năm 2006, TTCK Việt Nam đã có những
bước tiến nhảy vọt. Đặc biệt là trong năm 2006, số lượng công ty niêm yết trên
3. Công ty cổ phần Hacinco
4. Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa
5. Công ty cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh
6. Công ty cổ phần Thăng Long
Năm 2006, trên sàn thứ cấp TTGDCK HN đã tổ chức thành công 212 phiên
giao dịch. Kết thúc phiên giao dịch ngày 29/12/2006, chỉ số HasTC- Index đạt
242,89 điểm, tăng 146,65 điểm so với phiên giao dịch ngày 1/1/2006. Năm 2006 là
một năm ghi nhận sự lớn mạnh vượt bậc của Trung tâm, từ quy mô giao dịch nhỏ
với 9 công ty đăng kí giao dịch, giá trị đăng kí giao dịch chỉ đạt 1500,6 tỷ đồng
năm 2005, đã tăng lên 87 doanh nghiệp (tăng gấp 10 lần), với tổng giá trị đăng kí
giao dịch là 11201 tỷ đồng. Tính đến phiên giao dịch ngày 31/12/06, tổng khối
lượng giao dịch cổ phiếu toàn thị trường tại TTGDCK HN đạt 98.561.526 cổ
phiếu, tương đương giá trị 4.039,71 tỷ đồng, tổng khối lượng giao dịch trái phiếu
đạt 73.093.370 trái phiếu, tương ứng giá trị 7.463,64 tỷ đồng
Như vậy đến 31/12/06 đã có 193 công ty niêm yết/đăng kí giao dịch tại các
TTGDCK, tổng giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt 221.156 tỷ đòng, chiếm
22.7%GDP 2006 (tăng 20 lần so với cuối năm 2005). Có gần 400 loại trái phiếu
chính phủ, trái phiếu đô thị và trái phiếu ngân hàng niêm yết với tổng giá trị trên
70.000 tỷ đồng, bằng 7.7%GDP 2006.
Năm Khối lượng giao dịch Giá trị giao dịch (triệu đồng)
Cổ phiếu Trái phiếu Chứng chỉ quỹ Cổ phiếu Trái phiếu Chứng chỉ
quỹ
2000 3641000 21790 90215 2143
2001 19028200 693730 964020 70702
2002 35715939 1292710 959330 121561
2003 28074150 25801840 502022 2496299
2004 72894288 17169232 3498720 1970969 17883282 32899
2005 94846187 232110.825 26113.610 2784291 23837589 25079
2006 538536869 477500447 104744380 35472342 48654249 2702683
Bảng 2.1: Quy mô giao dịch thị trường qua các năm.
đó các nhà đầu tư là tổ chức là 502.
Sự nổi dậy của TTCK ở Việt Nam có hai mặt. Mặt cơ bản và quan trọng nhất
là dân chúng đã biết thêm một cửa ngõ dùng tiền dư, thay vì chỉ bỏ tiền vào ngân
hàng hay mua trái phiếu (bonds) để nhận một lãi suất nhiều khi thấp hơn cả lạm
phát; họ có thể tham gia gián tiếp vào đầu tư, làm chủ doanh nghiệp bằng cách bỏ
vốn mua cổ phiếu, lời ăn lỗ chịu mà không phải tự đứng lập doanh nghiệp.
Bảng dưới đây cho thấy ở Việt Nam tổng số tiền để dành (ngắn, trung và dài
hạn) trong ngân hàng hiện lên tới trên 15 tỷ đô la Mỹ năm 2006 và tăng rất nhanh
(coi biểu đồ 1). Điều này cho thấy TTCK có cơ hội phát triển vì nguồn vốn sẵn có
trong nền kinh tế tăng mạnh.
Biểu đồ 2.2: Tài khoản để dành của Việt Nam
Nguồn: Số liệu tài khoản để dành từ Asian Development Bank, Key Indicators 2006. GDP từ Liên Hợp
Quốc. Thời giá chứng khoán từ US Bureau of Census, Statistical Abstract of the US.
Cùng với sự tăng lên đáng kể của nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước
ngoài đang ngày càng quan tâm đến thị trường Việt Nam. Trong những tháng cuối
năm 2006 - đầu 2007, giá trị cổ phiếu Việt Nam tăng 19%. Đó là mức tăng ngoạn
mục mà các nhà đầu tư nước ngoài không thể không quan tâm. Cổ phiếu ở Việt
Nam nhìn chung không quá đắt, mà quản trị của các doanh nghiệp hàng hiệu trên
TTCK lại tốt hơn các công ty trong khu vực như ở Trung Quốc. Đó là chưa kể tỉ lệ
cổ phiếu của một công ty niêm yết mà nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm giữ ở
Việt Nam tối đa tới 49%, trong khi của Trung Quốc chỉ 30%. Đây chính là một lợi
thế của TTCK Việt Nam.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn rất hấp dẫn trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài,
thể hiện ở: Môi trường chính trị xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng mạnh; cam kết
hoàn thiện môi trường đầu tư của Chính phủ nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn
đầu tư từ nước ngoài cũng như nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường đầu tư;
đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực ngân hàng, điện lực,
viễn thông......Và sức hấp dẫn thực sự của chứng khoán Việt Nam chính là mức
tăng trưởng và tiềm năng tăng trưởng. Mức tăng trưởng lợi nhuận của các quỹ đầu
tư nước ngoài ở Việt Nam đang là 25-30% và sẽ còn cao hơn vào năm tới. Ngay
hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ. Song để giành chủ
động, thiết nghĩ Nhà nước phải tập trung hơn nữa vào hướng chính là: lo tăng
“cầu” về đầu tư cho các dự án kinh tế khả thi với một tầm nhìn chiến lược mới và
quyết tâm đổi mới thể chế quản lý theo khuôn khổ WTO mà ta đã cam kết.
Tuy là phát triển siêu nóng, song TTCK Việt Nam vẫn còn quá nhỏ bé so với
nhiều TTCK ở các nước chung quanh, nhỏ bé so với yêu cầu phát triển của Việt
Nam. Lượng vốn nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam hiện nay vẫn còn ở quy mô
nhỏ bé tương ứng. Việc hấp dẫn khối lượng vốn nước ngoài lớn hơn nữa từ những
“đại gia” tầm vóc quốc tế tham gia TTCK nước ta là đòi hỏi tất yếu cho sự phát
triển mang tính chiến lược của đất nước
-Khuôn khổ pháp lý
Cùng với sự phát triển của các sự kiện diễn ra trên thị trường thì hệ thống
pháp lý của TTCK VN cũng được hoàn thiện dần. So với thời kì ban đầu thành lập
Nghị định số 48/1998/NĐ – CP tồn tại là khuôn khổ pháp lý đầu tiên cho TTCK thì
đến nay Luật chứng khoán đã ra đời với bước đầu đi vào hoạt động vào ngày
1/1/2007. Luật chứng khoán là văn bản cao nhất về chứng khoán và TTCK. Luật
chứng khoán ra đời thúc đẩy TTCK và tăng khả năng hội nhập. Điều này đảm bảo
một TTCK hoạt động có tố chức, hiệu quả và quản lý một cách chặt chẽ.
-Cơ sở trang thiết bị vật chất kĩ thuật
Từ khi mới thành lập, trang thiết bị vật chất kỹ thuật cho hoạt động của
TTCK nói còn nhiều hạn chế . Sự cố sập sàn giao dịch chứng khoán xảy ra ngày
8/12 và lặp lại vào ngày ......... là một minh chứng. Hệ thống giao dịch của chúng
ta là hệ thống đã cũ , mua lại của Thái Lan , và nó đã trở nên lạc hậu đối với thị
trường. Như vậy , có thể thấy chúng ta cần cải thiện hệ thống trang thiết bị vật chất
kỹ thuật cho TTCK cũng như cho hoạt động thanh toán lưu ký chứng khoán , nhằm
đáp ứng được nhu cầu phát triển của TTCK.
2.1.3. Phân loại TTCK Việt Nam và đánh giá
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường, TTCK VN có thể phân
chia thành loại 2 thị trường:
2.1.2.1.Thị trường tập trung (Bao gồm Trung tâm giao dịch chứng khoán
-Tổ chức đấu thầu trái phiếu : TTGDCKHN tổ chức đấu thầu trái phiếu, bao
gồm các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu
chính quyền địa phương, trái phiếu công trình …
-Tổ chức giao dịch chứng khoán theo cơ chế đăng ký giao dịch: thực hiện
giao dịch các loại hàng hoá là : Các loại chứng khoán của các công ty cổ phần có
vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên, chưa thực hiện niêm yết tại TTGDCKTP. HCM,
hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký giao dịch phải có lãi, số cổ
đông tối thiểu là 50 người (kể cả trong và ngoài doanh nghiệp) ; Các loại trái phiếu
chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương
Như vậy, các loại chứng khoán được niêm yết và đăng kí giao dịch trên
Trung tâm giao dịch chứng khoán , ngoài việc có được những sự ưu đãi cho chính
mình thì cũng phải có nghĩa vụ thực hiện những điều kiện cần thiết do Trung tâm
giao dịch chứng khoán yêu cầu.
2.1.2.2.Thị trường tự do
Đây là thị trường giao dịch các loại chứng khoán của các tổ chức phát hành
không có đủ điều kiện niêm yết hoặc đăng kí giao dịch tại TTGCK. Đặc biệt, giao
dịch trên thị trường tự do diễn ra dưới nhiều hình thức và tiềm ẩn rủi ro cho nhà
đầu tư.
Thị trường tự do nằm ngoài sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước. Nó
không bảo vệ cho nhà đầu tư, không có cơ chế thị trường hiệu quả, công bằng và
trật tự, cũng không có được sự minh bạch như ở các trung tâm giao dịch chứng
khoán. Các quy định của TTCK không được áp dụng bên ngoài các trung tâm giao
dịch chứng khoán có tổ chức, và do vậy, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không có
khả năng quản lý thị trường tự do.
Nét nổi bật của thị trường này là giá cả chỉ được xác định trên cơ sở thoả
thuận, điều này tạo cho các nhà môi giới một quyền rất lớn trong việc định giá.
Mặc dù hiện nay, có rất nhiều nhà môi giới tham gia hoạt động trên thị trường này
nên giá cả cũng tương đối có tính cạnh tranh, nhưng do thị trường này không được
quản lý, thông tin đến với nhà đầu tư lại không đầy đủ, thậm chí nhiều khi bi méo
mó, nên việc đầu tư vốn vào thị trường này còn rất “mò mẫm” và phụ thuộc nhiều
như TTCK đã niêm yết mà cần ở mối quan hệ bạn bè ở mức “thâm giao”.
Một phiên đấu giá gần đây tổng giá trị đã lên tới 170 triệu USD cho một
công ty sản xuất cáp đồng có báo cáo tài chính đạt lợi nhuận 1,1 triệu USD trong
năm vừa rồi.
Thị trường tự do là 1 dạng “chợ tự do” hợp với sở thích của nhiều đối tượng
trong xã hội, dễ giao dịch, dễ làm giàu. Nhưng thị trường tự do cũng chứa đựng
nguy cơ rủi ro, thất bại lớn. Vì vậy, các nhà đầu tư cần trang bị một chút kiến thức
về TTCK và tìm hiểu kỹ thông tin trước khi mua hay bán cổ phiếu. Ủy ban chứng
khoán Nhà nước đang nỗ lực trong quản lý công bố thông tin để hạn chế những rủi
ro cho nhà đầu tư trên thị trường này.
2.1.2.3.Những đánh giá về TTCK VN
Có thể đánh giá TTCK như một tảng băng mà ba phần nổi là thị trường niêm
yết tập trung trên sàn giao dịch và bảy phần chìm là thị trường phi tập trung (thị
trường tự do). Thử làm một so sánh để xem có gì khác nhau của hai thị trường này:
-Nếu thị trường niêm yết có khoảng 200 doanh nghiệp thì thị trường tự do có
hơn 800 doanh nghiệp (con số thống kê của Hội thảo “Tác động của kinh tế thế
giới đến kinh tế- tài chính Việt Nam”). Một thống kê khác cho thấy, Việt Nam đã
cổ phần hoá được 3.000 doanh nghiệp sau hơn 10 năm.
-Thị trường chính thức có tổng giá trị niêm yết của các doanh nghiệp là 3,2
tỷ USD, thì thị trường tự do ước tính là 6 tỷ USD (số liệu nghiên cứu của Tập đoàn
HSBC Holdings Plc). Một ước tính khác đánh giá thị trường tự do gấp từ 3 đến 6
lần thị trường chính thức.
-Thị trường niêm yết có khoảng 70 CTCK hoạt động thì thị trường tự do có
hàng trăm, hàng ngàn nhà môi giới hoạt động tự do, không cần có chứng chỉ của
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Thị trường chính thức có khoảng 160.000 nhà đầu
tư (tính đến tháng 3/2007), nhưng không thể tính được con số này ở thị trường tự
do nơi mà ngoài cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp cổ phần thì bất kỳ ai đều có
thể trở thành nhà đầu tư.
-Thị trường niêm yết chỉ có cổ phiếu, chứng chỉ qũy và trái phiếu thì thị
trường tự do có thêm cổ phiếu biên lai, cổ phiếu chưa ra sổ, năm thâm niên và cổ