HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU (PHIẾU HỌC TẬP) THIẾT KẾ THEO
BÀI (MỖI BÀI TỪ 5-7 PHIẾU HỌC TẬP), CÓ ĐÁP ÁN CỤ THỂ CHI TIẾT
CHUYÊN ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI KÌ 1
Phiếu học tập số 1:
Cho câu thơ: “Quê hương anh nước mặn đồng chua”
a) Chép tiếp 5 câu thơ tiếp theo. Cho biết đoạn thơ nằm trong bài thơ nào?
Của ai? Hoàn cảnh sáng tác.
b) Câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” sử dụng biện pháp nghệ thuật
gì? Tác dụng?
c) Đoạn thơ gợi cho em nhớ tới bài thơ nào cũng viết về tình đồng chí, đồng
đội của người lính trong chương trình Ngữ văn 9. Chép lại câu thơ thể hiện cử chỉ
thân thiện và tình cảm của những người lính cách mạng. Cho biết tên tác giả, tác
phẩm.
d) Viết đoạn văn khoảng 12 dòng theo cách diễn dịch. Phân tích đoạn thơ
trên để thấy được cơ sở bền chặt hình thành tình đồng chí (trong đó có sử dụng
câu ghép).
Chép lại và phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu ghép.
Gợi ý :
a, Tự trả lời
b) Câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” sử dụng biện pháp nghệ thuật
điệp ngữ, hoán dụ.
Cách nói hàm súc, giàu hình tượng, vừa tả thực vừa mang ý nghĩa tượng
trưng.
Nghệ thuật hoán dụ “súng”, “đầu”: “súng” biểu tượng cho nhiệm vụ chiến
1
đấu. “Đầu” biểu tượng cho lí tưởng.
Tả thực tư thế chiến đấu của người linh khi có giặc, tượng trưng chung hành
chẳng hẹn quen nhau nhưng họ là những người cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ,
trong trái tim của họ nảy nở lên những ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Tình đồng chí – tình cảm ấy không chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn
vẹn cả về lí trí lẫn lí tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho
Tổ quốc. “Súng bên súng đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.
Chính Hữu sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp từ qua từ “súng”, “đầu”, “bên” và
nghệ thuật hoán dụ “súng, đầu” đã thể hiện điều đó.Từ “chung” ở đây bao hàm
nhiều nghĩa: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát
vọng, …“Tri kỉ” cho thấy họ là những đôi bạn thân thiết, luôn sát cánh bên nhau
không thể tách rời. Tóm lại, những người lính / tuy xuất thân từ những vùng quê
nghèo khó nhưng
CN
VN
họ / vẫn chung mục đích, chung một lí tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
CN
VN
Phiếu học tập số 2:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi hai người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
(Theo Chính Hữu, Đồng chí, trong Ngữ văn 9, tập một,
NXB Giáo dục, 2005, trang 128)
Hữu, tri kỉ chỉ tình bạn giữa người với người. Còn ở câu thơ của Nguyễn Duy, tri
kỉ lại chỉ tình bạn giữa trăng với người.
3. Tác dụng:
– Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu, là bản lề khép mở ý thơ…
4
Về nội dung: Giúp thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà thơ: biểu hiện sự cô đặc,
dồn thụ sức nặng tư tưởng, cảm xúc của tác giả…)
4. Viết đoạn văn :
* Về nội dung, cần chỉ ra được :
- Câu thơ chỉ có hai tiếng và dẩu chấm than, là nốt nhấn, là lời khẳng định.
- Gắn kết hai đoạn của bài thơ, tổng kết phần trên và mở ra hướng cảm xúc
cho phần sau : cội nguồn của tình đồng chí và những biểu hiện, sức mạnh của tình
đồng chí.
* Về hình thức : không quy định cụ thể, nên có thể tự lựa chọn cấu trúc đoạn
cho phù hợp.
***Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ ” Đồng chí” của Chính Hữu ca ngợi tình cảm cao đẹp của những
người lính anh bộ đội cụ Hồ trong đó tính hàm xúc của bài thơ được đặc biệt thể
hiện ở dòng thơ thứ 7 trong bài thơ ” Đồng chí”, dòng thơ chỉ có một từ kết hợp
với dấu chấm than, đứng riêng thành một dòng thơ và có ý nghĩa biểu cảm lớn,
nhấn mạnh tình cảm mới mẻ thiêng liêng – tình đồng chí. Đây là tình cảm kết tinh
từ mọi cảm xúc, là cao độ của tình bạn, tình người, có nghĩa được bắt nguồn từ
những tình cảm mang tính truyền thống, đồng thời là sự gắn kết của bài thơ, nó là
bản lề khẳng định khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí của sáu câu thơ trước,
còn với những câu thơ phía sau là sự mở rộng, sự triển khai biểu hiện cụ thể của
tình đồng chí, với ý nghĩa đặc biệt như vậy nên dòng thơ thứ 7 đã được lấy làm
nhan đề cho bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.
1,
-Trích từ tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu.
- Đồng chí : người có cùng chí hướng, lí tưởng. Người cùng ở trong một đoàn thể
chính trị hay một tổ chức cách mạng thường gọi nhau là “đồng chí”. Từ sau Cách
mạng tháng Tám 1945, “đồng chí” trở thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ
quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội.
6
Bài thơ được đặt tên “Đồng chí” nhằm nhấn mạnh sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần
của người lính cách mạng – những người có cùng chung cảnh ngộ, lí tưởng chiến
đấu, gắn bó keo sơn trong chiến đấu gian khổ thời chống Pháp. Tình đồng chí vừa
là tình chiến đấu, vừa là tình thân. Cả hai đều là máu thịt, hữu cơ, nó là sinh mạng
con người cầm súng. Nó còn là lời nhắn gửi, lời kí thác của nhà thơ với người, với
mình, nó là tiếng gọi sâu thẳm, thiêng liêng, nó là vật báu phải giữ gìn trân trọng.
2, Hoán dụ kết hợp nhân hóa cho ta thấy nỗi nhớ 2 chiều: quê hương, hậu phương
nhớ người lính và người lính cũng 1 lòng gắn bó yêu mến quê hương
3, Những khó khăn, thiếu thốn của người lính:
- Áo anh: rách vai
- Quần tôi: vài mảnh vá
- Chân: không giày
=> Bằng bút pháp tả thực + liệt kê, nhà thơ đã làm nổi bật lên những khó khăn,
thiếu thốn về quân trang, quân dụng của những người lính.
4, Yêu cầu
• Hình thức: từ 5-7 dòng, đảm bảo đủ 3 phần chính của đoạn văn.
• Nội dung
Đồng chí, đồng đội là cùng nhau chia sẻ khó khăn, thiếu thốn:
-“Anh với tôi”-“từng cơn ớn lạnh, sốt run người...”
Câu 1: Trong câu thơ “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”, vì sao Chính Hữu lại
dùng từ “chờ” mà không dùng từ “đợi”?
Câu 2: Hình ảnh “đầu súng trăng treo” cho thấy cảm xúc gì được thể hiện trong
bài thơ? Qua đó em hiểu thêm gì về tâm hồn của những người lính trong kháng
8
chiến chống Pháp?
Câu 3: Viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của ba câu thơ cuối trong bài có sử
dụng câu cảm thán?
Gợi ý:
Câu 1:
- Đối diện cảnh núi rừng lạnh lẽo và hoang vu và hoàn cảnh chiến đấu nguy
hiểm, những người lính cùng sát cánh bên cạnh nhau.
+ Nhiệm vụ canh gác, đối mặt với hiểm nguy trong gang tấc cũng chính nơi
đó sự sống cái chết cách nhau trong gang tấc.
+ Trong hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm tình đồng đội thực sự thiêng liêng,
cao đẹp
- Tâm thế chủ động, sẵn sàng “chờ giặc tới” thật hào hùng:
+ Những người lính sát cánh bên nhau vững chãi làm mờ đi khó khăn, nguy
hiểm trực chờ phía trước của cuộc kháng chiến gian khổ.
→ Ca ngợi tình đồng chí, sức mạnh đồng đội giúp người lính vượt lên khắc nghiệt
về thời tiết và nỗi nguy hiểm trên trận tuyến.
Câu 2:
Hình ảnh “đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo, bất ngờ, cũng chính là điểm
nhấn của toàn bài thơ.
+ Hình ảnh thực và lãng mạn.
+ Súng là hình ảnh đại diện cho chiến tranh, khói lửa.
+ Trăng là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, thanh bình.
VĂN BẢN: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG
KÍNH( PHẠM TIẾN DUẬT)
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1:
Cho câu thơ “Không có kính không phải vì xe không có kính”
10
Câu 1: Chép tiếp các câu thơ trên để hoàn thành đoạn thơ gồm 4 dòng.
Câu 2: Đoạn thơ vừa chép trong bài thơ nào? Của ai? Hoàn cảnh sáng tác? Nội
dung chính của khổ thơ?
Câu 3: Hình ảnh những chiếc xe được miêu tả như thế nào? Ý nghĩa của hình ảnh
đó?
Câu 4: Cách diễn đạt ở câu thơ đầu có gì đặc biệt?
Câu 5: Nhận xét về cách sử dụng từ ngữ ở câu thơ thứ hai.
Câu 6: Chỉ ra biện pháp nghệ thuạt được sử dụng trong đoạn thơ và nêu tác dụng?
Câu 7: Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên. Em có suy nghĩ gì về trách
nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc?
Gợi ý :
Câu 2: Đoạn thơ vừa chép trong bài thơ “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của
tác giả PTD sáng tác năm 1969- trong cuộc kháng chiến chống Mĩ .
- Nội dung: Hình ảnh những chiếc xe không kính và hình ảnh những người lính
lái xe.
Câu 3: Hình ảnh những chiếc xe được miêu tả rất độc đáo. Đó là những chiếc xe
“bị thương”, “ vết thương” do bom đạn chiến tranh gây ra. Ý nghĩa: minh chứng
cho sự khốc liệt của chiến tranh, gợi lên những khó khăn nguy hiểm của đời lính
nơi chiến trường.
Câu 4: Cách diễn đạt ở câu thơ đầu đặc biệt ở chỗ điệp 3 lần phủ định từ “không”
để phân bua, trình bày. Giọng thơ mang đậm tính khẩu ngữ.
Câu 5: Cách sử dụng từ ngữ ở câu thơ thứ hai:
- Từ “bom” được điệp lại hai lần, đi kèm với các động từ mạnh “ giật”, “ rung”
thực đến mức trần trụi:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
12
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
+ Điệp từ “không” cộng với chất văn xuôi đậm đặc và lối nói khẩu ngữ khiến cho
câu thơ mở đầu trở thành một lời giải thích, thanh minh, phân bua của người lính
lái xe về những chiếc xe không kính.
+ Đồng thời, gợi tâm trạng vừa xót xa, tiếc nuối với chiếc xe của mình.
+ Các từ phủ định: “không có … không phải … không có” đi liền với các điêp ngữ
“bom giật, bom rung” không chỉ mang ý nghĩa khẳng định mà còn khiến cho âm
điệu câu thơ trở nên hùng tráng, làm cho sự xuất hiện của những chiếc xe trở nên
ngang tang.
-> Hai câu thơ đã làm hiện lên những chiếc xe vận tải quân sự mang
trên mình đầy những thương tích của chiến tranh. Nó chính là một
bằng chứng cho sự tàn phá khủng khiếp của một thời đã đi qua
- Trên nền của cuộc chiến tranh vô cùng gian khổ và khốc liệt ấy, Phạm Tiến
Duật đã xây dựng thành công hình ảnh những người lính lái xe Trường Sơn
với tư thế ung dung, hiên ngang, sẵn sàng ra trận:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”
+ Thủ pháp đảo ngữ, đưa từ “ung dung” đứng đầu câu gợi sự bình thản, điềm tĩnh
đến kì lạ của người lính.
+ “Nhìn thẳng” là cái nhìn đầy tự chủ, trang nghiêm, bất khuất, không thẹn với trời
đất, nhìn thẳng vào gian khổ, hi sinh không run sợ.
+ Điệp từ “nhìn” được nhắc lại ba lần, cộng với nhịp thơ dồn dập, giọng thơ mạnh
mẽ đã thể hiện cái nhìn thoáng đạt, bao la giữa chiến trường của người lính
+ Thủ pháp liệt kê: “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” đã cho thấy tư thế vững
vàng, bình thản, dũng cảm của những người lính lái xe. Họ nhìn thẳng vào bom
14
Câu 2: Từ láy “chông chênh” diễn tả trạng thái đu đưa không vững chắc, gợi ra
con đường gập ghềnh khó đi, thể hiện những gian khổ, khó khăn, nguy hiểm
của những người lính trên con đường ra mặt trận.
Câu 3: Các bptt được sử dụng trong hai câu cuối là
- Điệp ngữ “lại đi”
- Ẩn dụ “chông chênh” và “trời xanh thêm”
Tác dụng: Diễn tả không khí chồng chất, song với nhịp sống thường nhật
của tiểu đội xe không kính, đoàn xe cứ nối tiếp nhau ra trận tinh thần lạc
quan, chứa chan niềm hi vọng
Câu 4: Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn diễn dịch khoảng 6-8 câu theo lối
diễn dịch, có sử dụng lời dẫn trực tiếp và câu cảm thán.
Yêu cầu về nội dung:
Câu mở đoạn( câu chủ đề): Đoạn trích trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính” của Phạm Tiến Duật đã nói lên tình cảm, sự khó khăn vất vả và
niềm hi vọng của những người lính lái xe Trường Sơn.
Các câu khai triển:
- Trong phút giây sinh hoạt ngắn ngủi: Họ cùng nhau nấu cơm khi đến bữa,
lúc này họ là những người thân ruột thịt trong gia đình với tình cảm ấm
cúng, hạnh phúc.
- Tình cảm đồng chí đã hòa thành tình cảm gia đình để họ sống chết có nhau
- Họ tiếp tục cuộc hành trình chiến đấu với bao khó khăn, nguy hiểm chồng
chất nhưng với lòng quyết tâm quả cảm, sẵn sàng hi sinh, họ lại tiếp tục lên
đường: “Lại đi, lại đi trời xanh thêm” vì đó cũng là công việc thường nhật
của họ vẫn tiếp tục trên đường đầy mưa bom bão đạn, những đoàn xe vẫn
nối nhau trở những người lính, lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến
- Trên những chặng đường ấy, họ vẫn tin ngày mai sẽ chiến thắng.
biệt lập.
- Yêu cầu về nội dung: Cần làm rõ tư thế của người lính qua các nội dung cơ bản
sau:
+ Thủ pháp đảo ngữ, đưa từ “ung dung” đứng đầu câu gợi sự bình thản, điềm tĩnh
đến kì lạ của người lính.
+ “Nhìn thẳng” là cái nhìn đầy tự chủ, trang nghiêm, bất khuất, không thẹn với trời
đất, nhìn thẳng vào gian khổ, hi sinh không run sợ.
+ Điệp từ “nhìn” được nhắc lại ba lần, cộng với nhịp thơ dồn dập, giọng thơ mạnh
mẽ đã thể hiện cái nhìn thoáng đạt, bao la giữa chiến trường của người lính
+ Thủ pháp liệt kê: “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” đã cho thấy tư thế vững
16
vàng, bình thản, dũng cảm của những người lính lái xe. Họ nhìn thẳng vào bom
đạn của kẻ thù, nhìn thẳng vào con đường đang bị bắn phá để lái xe vượt qua .
- Tư thế ung dung, hiên ngang của người lính lái xe ra trận được khắc họa thêm
đậm nét qua những hình ảnh hòa nhập vào thiên nhiên
**Đoạn văn tham khảo:
Khổ thơ trên trích trong văn bản “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của
tác giả Phạm Tiến Duật, sáng tác năm 1969, đã rất thành công trong việc thể hiện
tư thế của người lính lái xe Trường Sơn: ung dung, hiên ngang, sẵn sàng ra trận(1).
Thủ pháp đảo ngữ, đưa từ “ung dung” đứng đầu câu gợi sự bình thản, điềm tĩnh
đến kì lạ của người lính(2). “Nhìn thẳng” là cái nhìn đầy tự chủ, trang nghiêm, bất
khuất, không thẹn với trời đất, nhìn thẳng vào gian khổ, hi sinh không run sợ(3).
Điệp từ “nhìn” được nhắc lại ba lần, cộng với nhịp thơ dồn dập, giọng thơ mạnh
mẽ đã thể hiện cái nhìn thoáng đạt, bao la giữa chiến trường của người lính(4). Thủ
pháp liệt kê: “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” đã cho thấy tư thế vững vàng,
bình thản, dũng cảm của những người lính lái xe(5). Họ nhìn thẳng vào bom đạn
của kẻ thù, nhìn thẳng vào con đường đang bị bắn phá để lái xe vượt qua (6).Tư thế
ung dung, hiên ngang của người lính lái xe ra trận được khắc họa thêm đậm nét qua
loại theo mục đích nói mà em đã được học? Chỉ rõ kiểu câu đó?
Gợi ý
1, Hs chép chính xác
2. Nội dung: Hai đoạn thơ đã thể hiện tinh thần bất chấp gian khổ, coi thường
hiểm nguy của những người lính lái xe.
3.
- Về ngôn ngữ: Bình dị như lời nói thường ngày
- Về giọng điệu: Giọng điệu thản nhiên
-> Làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính, cất lên một cách tự nhiên giữa
gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu.
4.
- Hình ảnh so sánh: “Bụi phun tóc trắng như người già” và “Mưa tuôn, mưa
xối như ngoài trời” nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên và chiến
trường, đồng thời cho thấy sự ngang tàn, phơi phới lạc quan, dũng mãnh tiến
về phía trước của người lính lái xe Trường Sơn
- Cấu trúc lặp: “không có …, ừ thì…” đi liền với kết cấu phủ định “chưa có
…” ở hai khổ thơ đã thể hiện thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ
của những chiến sĩ lái xe Trường Sơn
5.
- Yêu cầu về hình thức: Không qui định viết đoạn văn theo lối nào, nên các em có
thể viết đoạn văn theo lối diễn dịch. Sử dụng một kiểu câu phân loại theo mục đích
nói đã được học.
- Yêu cầu về nội dung: Cần đảm bảo các nội dung sau:
18
+ Những gian khổ, hiểm nguy đã trở thành cuộc sống của những người lính lái xe
Trường Sơn. Dù trong bất kì hoàn cảnh, tình thế nào, người lính vẫn tìm được tinh
thần lạc quan để chiến đấu và chiến thắng quân thù.
- Hình ảnh “gió”, “bụi”, “mưa” tượng trưng cho những gian khổ, thử thách nơi
hiểm nguy, thử thách. Ngôn ngữ giản dị như lời nói thường ngày, giọng điệu thì
19
thản nhiên, hóm hỉnh … làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính, cất lên
một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu. Phải chăng tiểu
đội xe không kính tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng và thanh niên Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ?
- Đv sử dụng câu trần thuật và câu nghi vấn.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 5:
Cho câu thơ: “Những chiếc xe từ trong bom rơi”
Câu 1: Hãy chép tiếp những câu thơ tiếp theo để hoàn thiện 2 khổ thơ? Nêu nội
dung chính của khổ thơ?
Câu 2: Nêu cảm nhận của em về hình ảnh “ Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”. Câu thơ
này gợi cho em nhớ đến câu thơ nào trong một bài thơ đã học ở chương trình Ngữ
văn 9 cũng có hình ảnh thơ tương tự? Cho biết tên tác giả của bài thơ đó.
Câu 3: Em hiểu như thế nào về hình ảnh” bếp Hoàng Cầm”?
Câu 4: Những người lính định nghĩa như thế nào về gia đình? Qua đó, em thấy
được nét tính cách, phẩm chất gì ở họ?
Câu 5: Ghi lại một từ láy trong đoạn thơ và nêu giá trị của nó?
Câu 6: Trong câu thơ” Lại đi, lại đi, trời xanh thêm” tác giả sử dụng những biện
pháp tư từ gì? Chỉ rõ hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ đó?
Câu 7: Viết đoạn văn cảm nhận của em về 2 đoạn thơ trên?
Gợi ý:
Câu 1: Hs chép chính xác những câu thơ tiếp theo để hoàn thiện khổ thơ.
Nội dung: Tình đồng chí, đồng đội cao đẹp của những người lính lái xe.
Câu 2: “ Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.” là hình ảnh đẹp vè những người lính. Hóa ra
những chiếc xe tồi tàn không kính lại thật “tiện lợi”: họ có thể dễ dàng bắt tay chào
đồng đội mà không phải xuống xe. Đó là những cái bắt tay đầy hồ hởi, tự hào, kiêu
hãnh vì gặp được đồng đội, là cái bắt tay thay cho lời chào thân mật, là lời động
* Thân đoạn:
- Sau những cung đường vượt qua hàng nghìn, hàng vạn cây số trong mưa bom,
bão đạn, họ lại gặp nhau để họp thành tiểu đội trong những cái bắt tay vô cùng độc
đáo.
- Hình ảnh “những chiếc xe từ trong bom rơi” là một hình ảnh tả thực về những
chiếc xe vượt qua bao thử thách khốc liệt của bom đạn chiến trường trở về
- Hình ảnh “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” rất giàu sức gợi:
+ Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc trong tâm hồn của những người lính
21
+ Là những lời đông viên ngắn ngủi, thầm lặng mà họ dành cho nhau
+ Là sự chia sẻ vội vàng tất cả những vui buồn kiêu hãnh trong cung đường đã
qua.
- Cuộc trú quân của tiểu đội xe không kính ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội,
những bữa cơm nhanh dã chiến, được chung bát, chung đũa là những sợi dây vô
hình giúp các chiến sĩ xích lại gần nhau hơn.
- Cách địch nghĩa về gia đình thật lính, thật tếu táo mà tình cảm tì thật chân tình,
sâu nặng. Gắn bó với nhau trong chiến đấu, họ càng gắn bó với nhau trong đời
thường.
- Những phút nghỉ ngơi thoáng chốc và bữa cơm thời chiến rất đỗi vội vã. Nhưng
cũng chính hạnh phúc hiếm hoi đó đã xóa tan khoảng cách giúp họ có cảm giác
gần gũi, thân thương như ruột thịt.
- Từ láy “chông chênh” gợi cảm giác bấp bênh không bằng phẳng – đó là những
khó khăn gian khổ trên con đường ra trận. Song, với các chiến sĩ lái xe thì càng
gian khổ càng gần đến ngày thắng lợi.
- Nghệ thuật ẩn dụ: “trời xanh thêm” gợi tâm hồn lạc quan của người chiến sĩ. Màu
xanh đó là màu xanh của niềm tin và tin tưởng ở ngày chiến thắng đang đến gần.
+ Điệp từ “lại đi, lại đi” và nhịp 2/2/3 khẳng định đoàn xe không ngừng tiến tới,
khẩn trương và kiên cường. Đó là nhịp sống, chiến đấu và hành quân của tiểu đội
cứu nước
Câu 2: Từ “trái tim” trong câu thơ cuối cùng được dùng với nghĩa chuyển( hoán
dụ), chỉ người lính lái xe , chỉ sự nhiệt tình cứu nước, lòng yêu nước ý chí quyết
tâm giải phóng miền nam tổ quốc.
Câu 3: Điệp ngữ “không có” được điệp lại 3 lần và phép liệt kê ( không có kính,
không có đèn, không có mui xe) trong hai dòng thơ để nhấn mạnh sự tàn tạ của
những chiếc xe; qua đó , cho người đọc thấy sự ác liệt nơi chiến trường và những
gian khổ của người lính lái xe.
23
Câu 4: Thủ pháp đối lập trong khổ cuối bài thơ: đối lập giữa cái “không có” ( kính,
đèn, mui) và cái “có” ( trái tim), giữa vật chất ( thiếu thốn) và tinh thần ( đầy ắp ý
chí, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Câu 5: Văn bản” Bạn đến chơi nhà” ( Nguyễn Khuyến)
Câu 6: Viết đoạn văn diễn dịch từ 8 đến 10 câu phân tích hình ảnh người lính lái
xe trong đoạn thơ. Trong đoạn có sử dụng câu ghép (Phân tích cấu tạo ngữ pháp)
Yêu cầu về hình thức: Viết đoạn văn theo lối diễn dịch, khoảng 8-10 câu, có sử
dụng câu ghép
Yêu cầu về nội dung: Đảm bảo các nội dụng sau:
- Đoạn trích trên được trích trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của
Phạm Tiến Duật đã thể hiện tình yêu tổ quốc của người lính lái xe.
- Cuộc chiến đấu ngày càng gian khổ ác liệt ( qua hình ảnh những chiếc xe
méo mó, biến dạng)
- Bất chấp khó khăn, gian khổ hi sinh những chiếc xe vẫn nối nhau thẳng
đường ra tiền tuyến.
- Những người lính lái xe quả cảm vẫn vững tay lái vì họ có một trái tim tràn
đầy nhiệt tình, c/m, tình yêu tổ quốc nồng nàn, ý chí quyết tâm giải phóng
miền Nam sắt đá
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Câu 1: Để ca ngợi về vẻ đẹp của những con người VN trong chiến tranh, hai nhà
thơ Tố Hữu và Phạm Tiến Duật đã cùng sử dụng một hình ảnh rất đẹp. Hãy chỉ ra
và nêu ý nghĩa hình ảnh đó?
Câu 2: Một trong những thủ pháp độc đáo của Phạm Tiến Duật trong bài thơ là
dùng cái không để nói về cái có. Qua khổ cuối của bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính”, em hãy làm sáng tỏ điều đó?
Câu 3: Từ đoạn thơ trên và những hiểu biết, viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình
bày suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong giai đoạn hiện
nay.
Gợi ý:
25