Bản thảo chỉ để thảo luận tại Hội thảo Mùa hè tại Nha Trang.
Xin đừng link hoặc trích dẫn vì tác giả sẽ còn tu chỉnh
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước?
Nguyễn Quang A
*
Viện IDS
Báo cáo điểm lại quan điểm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” của Đảng CSVN và sự thay
đổi quan niệm đó trong thời gian qua. Đã có những thay đổi quan trọng về quan niệm và khu vực
kinh tế nhà nước đã có sự dịch chuyển theo hướng cải thiện. Tuy nhiên, do muốn kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, nên nguồn lực (vốn đầu tư, vốn kinh doanh, tài nguyên, đặc quyền kinh
doanh,…) đã đượ
c phân bổ quá ưu đãi cho khu vực này, khiến ràng buộc ngân sách của chúng
mềm, không buộc chúng phải cạnh tranh khốc liệt, thiếu những khuyến khích đúng nên hiệu quả
hoạt động kém.
Dựa vào số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê (CSO) và những kết quả khảo sát của các viện
và trung tâm nghiên cứu của nhà nước, chúng tôi điểm lại khu vực kinh tế này sử dụng bao nhiêu
nguồn lực quố
c gia và tạo ra thành tích thế nào.
Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ lệ cao (trên dưới một nửa) trong tổng đầu
tư xã hội; khu vực này chiếm từ 53% đến 67% vốn kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp; có tài
sản cố định cao hơn tài sản cố định của các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước. Nhưng tỷ
lệ đóng góp vào GDP không cân xứng chỉ ở mức 37-39%; các doanh nghiệp nhà n
ước chỉ tạo
công ăn việc làm cho khoảng 4,4% tổng số lao động (chiếm 28% số lao động trong khu vực doanh
nghiệp) và vài năm lại đây không tạo ra việc làm mới; chỉ đóng góp từ 25% đến 34% sản lượng
, nhận thức về vị trí của khu vực kinh tế này được điều
chỉnh từng bước trong tiến trình đổi mới. Đại hội VI (12-1986) gắn vai trò chủ đạo của
kinh tế quốc doanh với việc “chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông”; Hội
nghị Trung ương 6 khoá VI (3-1989) vẫn đặt quốc doanh vào vị trí chủ đạo, nhưng
“không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, nghề”. Vào đầu thập kỷ 90 (thế kỷ
trước), kinh tế quốc doanh đang nắm vai trò chi phối nền kinh tế với 12 nghìn xí nghiệp
(toàn bộ vốn đều thuộc Nhà nước), chiếm tỷ trọng lớn và giữ những vị trí then chốt trong
các ngành phi nông nghiệp
2
. Cương lĩnh 1991
3
chỉ nêu gọn “Kinh tế quốc doanh giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế”. Chiến lược 1991
4
nói rõ hơn : “Kinh tế quốc doanh được
củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp
trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà các thành phần khác không có điều kiện
hoặc không muốn đầu tư kinh doanh... Những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh
thì Nhà nước chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời có
chính sách giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động”.
Quan điểm này một mặt tạo tiền đề cho sự phát triển khu vực kinh tế ngoài nhà nước,
nhất là kinh tế tư nhân; mặt khác, không coi vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh là
điều mặc nhiên mà phải gắn với việc “sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý,
kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò
chủ đạo và chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Các xí nghiệp quốc
doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ kinh doanh, tự trang trải và tích luỹ trong môi
trường hợp tác, cạnh tranh; Nhà nước chỉ tài trợ có thời hạn cho một số cơ sở thật sự
cần thiết”.
nước, vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác (ngoài doanh nghiệp nhà nước),
dự trữ nhà nước, tài nguyên quốc gia, đặc biệt là đất đai. Với nhận thức đó, Đại hội VIII
(6-1996) xác định vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế không chỉ đặt vào các doanh nghiệp
nhà nước mà dựa vào toàn bộ kinh tế nhà nước bao gồm đẩy đủ các nguồn lực nêu trên.
Quan điểm này điều chỉnh sự đánh giá quá mức về vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà
nước, thúc đẩy mạnh hơn công cuộc cải cách các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, cho đến
nay, công cuộc cải cách này vẫn chưa đi kịp yêu cầu của cuộc sống, cả về mặt sắp xếp lại,
chuyển đổi sở hữu, đổi mới quản trị doanh nghiêp cũng như về cơ chế quản lý của Nhà
nước đối với doanh nghiệp.
6
Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN khoá IX về các Văn kiện Đại
hội X của Đảng CSVN có nêu: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Trong Bản trình bày của đoàn Chủ tịch về ý kiến thảo luận của các đại biểu đối với các
văn kiện Đại hội X của Đảng CSVN có giải thích về vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà
nước như sau: “… vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở số
lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỉ trọng đóng góp GDP cao hay thấp mà ở chỗ, đó là lực
lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi
trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”. Trong Báo cáo của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa IX ngày ngày 10 tháng 4 năm 2006 về
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 (gọi là Báo cáo
phát triển Kinh tế-Xã hội), cụm từ “vai trò chủ đạo” xuất hiện 1 lần duy nhất trong “vai
trò chủ đạo của ngân sách trung
ương”. Nghị quyết số 21-NQ/T.Ư Hội nghị lần thứ 6
BCHTW Đảng CSVN khóa X "về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa" đã nhiều lần nhắc lại “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước.
Ở đây có sự chưa rõ ràng về khái niệm: khu vực kinh tế nhà nước nghĩa là gì? Nó có
đồng nghĩa với khu vực của các doanh nghiệp nhà nước không? Có vẻ nó rộng hơn, như
Theo Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch đầu tư, báo
cáo 4-2008, vốn đầu tư của khu vự
c kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng
số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Từ năm 2000 đến năm 2003, tỷ trọng này luôn chiếm
trên 50%, cụ thể, năm 2000, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm 59,14%;
năm 2001 chiếm 59,81%; năm 2002 chiếm 57,33% và năm 2003 chiếm 52,9%, và có
giảm trong những năm tiếp theo (năm 2004: 48,06%; năm 2005: 47,11% và năm 2006:
46,4%) nhưng vẫn chiếm một phần lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Số
vốn đầu tư thực tế đã thực hiện diễn biến như sau:
Hình 1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế
Đơn vị: Tỷ đồng
0
50000
100000
150000
200000
250000
300000
350000
400000
450000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ng oài Tổng số
Nguồn: Trung tâm Thông tin và dự báo, MPI.
85
7
Đánh giá so sánh tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2007 của Việt Nam và khu vực, Trung tâm thông
tin và dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch đầu tư, 4-2008.
8
Một số cảnh báo về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế-xã
hội quốc gia, Bộ Kế hoạch đầu tư, 4-2008.
9
Các doanh nghiệp nhà nước được giao đất (nên giá trị không thể hiện hay không thể hiện đúng trên sổ
sách), còn các doanh nghiệp tư nhân và FDI phải bỏ tiền ra lo mặt bằng (mua hay thuê), nếu sòng phẳng
tính cả phần này nữa thì vốn của các doanh nghiệp nhà nước còn chiếm tỷ lệ cao hơn.
6
Cơ cấu vốn của các DN theo thành phần kinh tế 2000-2006
0
10
20
30
40
50
60
70
80
12345
DNNN
Tư nhân trong nước
FDINguồn: báo cáo CIEM