Tổng quan về phương pháp chấm điểm tín dụng tại Ngân hàng thương mại - Pdf 67

Tổng quan về phương pháp chấm điểm tín dụng tại Ngân
hàng thương mại(NHTM).
1.1/Sự cần thiết phải chấm điểm tín dụng.
Ngân hàng thương mại(NHTM) là định chế tài chính đóng vai trò then chốt
trong bất kỳ một nền kinh tế nào và cũng là kênh huy động vốn quan trọng của mọi
thành phần tham gia kinh doanh. Để thực hiện được vai trò của mình, NHTM phải
đối mặt với rất nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động như rủi ro về lãi suất, rủi ro
về ngoại hối , rủi ro thanh khoản .v.v. và đặc biệt là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng
là khách hàng không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc
thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn. Rủi ro này xảy ra do một số lý do như :
- Các yếu tố khách quan từ bên ngoài : Thiên tai lũ lụt , động đất , cháy nổ. …
Các nguyên nhân này nằm ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách
hàng.
- Lý do từ phía khách hàng: có thể do khả năng quản lý vốn không tốt của
khách hàng dẫn đến hậu quả công ty phá sản , hoặc do đối tác của khách
hàng không trung thực trong kinh doanh v.v.
- Lý do từ phía ngân hàng: do nhân viên tín dụng trình độ yếu kém không
phân tích kỹ lưỡng tình hình khách hàng trước khi quyết định cho vay, hoặc
do nhân viên tín ngân hàng móc ngoặc với khách hàng để rút vốn của ngân
hàng .v.v.
Vì vậy việc xây dựng những chỉ số tổng hợp về độ rủi ro của những khoản
tín dụng để làm cơ sở cho việc hướng dẫn quá trình tạo các khoản vay mới , báo
cáo , giám sát và quản lý rủi ro , phân tích tính đầy đủ vốn dự trữ cho tổn thất tín
dụng, phân tích khả năng sinh lời và định giá tín dụng là hết sức cần thiết. Các chỉ
số này sẽ giúp các NHTM hướng tới lượng hoá rủi ro tín dụng từ đó nâng cao hơn
khả năng quản lý, hiệu quả sử dụng và phân bổ vốn của mình. Chính vì ưu điểm
vượt trội đó, chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp đã tự khẳng định tầm
quan trong của mình trong quy trình thẩm định tín dụng. Tại các nước phát triển và
nhiều nước trong khu vực, CĐTD từ lâu đã trở thành một yếu tố thiết yếu mang
tính “truyền thống” trong việc đánh giá rủi ro tín dụng và duy trì kỷ luật ngân
hàng.

không phải tất cả) các hệ thống chấm điểm, điểm cao hơn ám chỉ ít rủi ro hơn,
ngân hàng cho vay sẽ đặt điểm sàn dựa trên tỉ lệ mạo hiểm mà ngân hàng đó sẵn
sàng chấp nhận. Hoàn toàn tuân thủ theo hình mẫu đó, ngân hàng cho vay sẽ chấp
nhận cho vay với những doanh nghiệp có điểm trên điểm sàn, và từ chối những
doanh nghiệp dưới điểm sàn. Mặc dù có nhiều ngân hàng có thể xem xét kỹ hơn hồ
sơ của những người gần điểm sàn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.
Kể cả một hệ thống chấm điểm tốt cũng không dự đoán chắc chắn khả năng
hoàn trả vốn vay của doanh nghiệp nhưng nó cũng đưa ra được những dự đoán khá
chính xác về sai sót mà một doanh nghiệp đi vay với những đặc điểm nhất định có
thể mắc phải. Để xây dựng một hình mẫu tốt, những người xây dựng phải có dữ
liệu chính xác phản ánh khoản vay trong cả giai đoạn, trong điều kiện kinh tế tốt và
xấu.
1.2.2/ Mục đích vai trò của chấm điểm tín dụng.
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng , xuất phát điểm của chấm điểm tín dụng.
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
Rủi ro này luôn tiềm ẩn và là một tất yếu trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng
nào. Các ngân hàng sẽ đặt ra cho mình một chiến lược quản lý nợ và nếu tỷ lệ tổn
thất tín dụng đạt dưới mức dự kiến của ngân hàng thì đó được coi là một thành
công. Để giảm thiểu tổn thất này , chúng ta cần đi sâu phân tích để tìm ra chiến
lược tối thiểu hoá rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng của một khoản vay trong một thời kỳ bao gồm xác suất vỡ
nợ (XSVN) và phần giá trị của khoản vay có thể bị mất nếu người vay vỡ
nợ( GTBM). GTBM của một khoản vay tín dụng phụ thuộc vào cơ cấu của khoản
vay đó , còn XSVN thường phụ thuộc vào người vay và các ngân hàng thường giả
định rằng một con nợ sẽ không trả được tất cả các khoản nợ của mình nếu người
này không trả được khoản nợ trước đó. Mức tổn thất dự tính (TTDT) bằng tích của
XSVN và GTBM của một khoản vay.
Trong một cuộc nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương Australia được khảo
sát đều sử dụng hệ thống xếp hạng theo hai tiêu chi riêng biệt: một mức xếp hạng

loại nghiệp vụ giao dịch với khách hàng.
- Quyết định cấp tín dụng: từ chối hay đồng ý, thời hạn và mức lãi suất cho
vay, và xác định yêu cầu về tài sản đảm bảo.
- Đánh giá hiện trạng khách hàng trong khi khoản tín dụng chưa được hoàn trả
hết. Những đánh giá này cho phép ngân hàng dự đoán những rủi ro có thể
xảy ra đối với khoản vay và chủ động trong quản lý danh mục tín dụng từ đó
trích dự phòng rủi ro.
- Làm cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng ( ví dụ : chính sách về giá cả,
chiến lược marketing nhằm vào khách hàng có ít rủi ro hơn)
Tóm lại mục đích cuối cùng của chấm điểm tín dụng là nâng cao chất lượng
và hiệu quả của hoạt động tín dụng.
Xếp hạng doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan tronghoạt động
kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Kết quả của hoạt động xếp hạng
doanh nghiệp phục vụ không chỉ co một cá nhân, tổ chức mà còn tác động đến rất
nhiều chủ thể khác nhau, có quan hệ kinh doanh hay tín dụng với doanh nghiệp.
Xét đến cùng , mục đích cơ bản , quan trọng hàng đầu của xếp hạng doanh nghiệp
là đưa ra được thứ hạng của doanh nghiệp dựa trên việc chấm điểm các chỉ tiêu có
sẵn để từ đó đưa ra các kết luận, nhận xét về doanh nghiệp và ra các quyết định
chính xác, kịp thời. Khi công tác xếp hạng doanh nghiệp đạt được những mục đích
đặt ra, nó sẽ tác động tích cực đến doanh nghiệp và các chủ thể liên quan, đồng
thời tăng tính ổn định cho nền kinh tế. Rõ ràng, xếp hạng doanh nghiệp đang đóng
một vai trò to lớn đối với các chủ thể trong nền kinh tế, quyết định đến việc ra
quyết định kinh doanh và đầu tư , và đối với mỗi chủ thể khác nhau, vai trò này lại
được thể hiện trên những khía cạnh riêng khác biệt.
1.2.2.2/ Vai trò của CĐTD đối với chính bản thân doanh nghiệp .
Công tác xếp hạng doanh nghiệp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
hoạt động của doanh nghiệp. Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình sản xuất kinh
doanh cũng như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp, kết quả xếp hạng doanh
nghiệp đóng vai trò như một thước đo chính xácvà bao quát nhất, phả ánh “sức
khoẻ”trong kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa vào kết quả xếp hạng này, doanh

doanh nghiệp hoặc kết quả của côngtác xếp hạng doanh nghiệp là cực kỳ hữu ích
đối với các nhà đầu tư . Như vậy khi có bảng các chỉ tiêu xếp hạng doanh nghiệp
hoặc thứ hạng của doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể biết ngay mức độ rủi ro của
khoản đầu tư, đây là căn cứ để nhà đầu tư ra các quyết định đầu tư đúng. Với tư
cách là nhà đầu tu, các TCTD cũng sử dụng xếp hạng doanh nghiệp làm cơ sở cho
việc đánh giá rủi ro tronghoạt động cho vay, là nhân tố quan trọng trong quyết định
cho vay. Bên cạnh đó xếp hạng doanh nghiệp còn là cơ sở để các nhà đầu tư quản
lý danh mục đầu tư. Điều này thực sự có ý nghĩa ở các nước có hoạt động xếp hạng
doanh nghiệp phát triển. Thực vậy, đối với các nước này, việc biết được một doanh
nghiệp đang ở mức độ nào là khá dễ dàng nên sự thay đổi thứ hạng của doanh
nghiệp có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp( thể hiện thông qua sự lên
xuống giá cổ phiếu ). Các nhà đầu tư dựa vào sự thay đổi này để thay đổi danh mục
đầu tư nhằm thu được lợi nhuận tối đa mà vẫn đảm bảo được mức độ an toàn nhất
định.
Các trung gian tài chính là những nhà đầu tư lớn gồm có các tổ chức chuyên
thực hiện bảo lãnh và giao dịch chứng khoán như ngân hàng, công ty chứng khoán,
công ty bảo hiểm…
Do có mối quan hệ thanh toán, tín dụng đối với các doanh nghiệp , các trung
gian tài chính cũng rất quan tâm đến côngtác xếp hạng doanh nghiệp bởi kết quả
của quá trình này sẽ là cơ sở cho các trung gian tài chính đưa ra các quyết định liên
quan đến việc cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Không một trung gian nào khi
xem xét quyết định cho vay của mình lại không quan tâm đến tình hình kinh doanh
của doanh nghiệp mà thứ hạng của doanh nghiệp chính là một chỉ tiêu tổng hợp
phản ánh đầy đủ và chính xác nhất . Việc xem xét chỉ tiêu xếp hạng này cho phép
các trung gian tài chính tránh được các sai lầm trong các quyết định của mình, đó
là các quyết định liên quan đến việc cấp tín dụng , thực hiện bảo lãnh của ngân
hàng (đặc biêt là bảo lãnh hoàn trả vốn )…
Bên cạnh đó , thứ hạng của các doanh nghiệp cũng là cơ sở để các trung gian
tài chính dự đoán khả năng tăng giá hoặc giảm giá của các chứngkhoán do doanh
nghiệp phát hành từ đó ra các quyết định đầu tư hoặc thực hiện dịch vụ tư vấn cho

tín dụng hiện tại để đưa ra một điểm sô phản ánh về XSVN, tiếp đó, điểm số này
được chuyển thành một mức xếp hạng rủi ro. Mô hình chấm điểm này dựa trên
phương pháp xây dựng mô hình CreditMonitor của KMV hay mô hình RiskCalc
của công ty xếp hạng tín dụng Moody’s.
* Mô hình cơ cấu.
Mô hình của Merton (1974) về dự đoán PD của các công ty có cổ phiếu
được niêm yết trênthị trường chứng khoán đã giúp các NHTM có một sự thay đổi
tư duy mạnh mẽ về rủi ro tín dụng. Mô hình của Merton là một mô hình RRTD
mang tính cơ cấu vì nó xác định XSVN trên cơ sở cơ cấu vốn và sự biến thiên của
giá trị tài sản của một công ty. Theo mô hình này, một công ty vỡ nợ khi giá trị của
các tài sản Nợ lớn hơn giá trị các tài sản Có vào ngày khoản vay đến hạn. Một mô
hình cơ cấu mà các NH thường sử dụng là phần mềm CreditMornitor của công ty
KMV, sử dụng thông tin của thị trường về công ty( giá cổ phiếu) để xác định tần
suất vỡ nợ.
* Mô hình kinh tế lượng.
Trong mô hình này , XSVN được ước tính dựa trên tình trạng hiên tại của
nền kinh tế và các khác biệt do yếu tố nghành, địa lý tạo ra. XSVN được tính toán
theo các biến sô như mức tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất dài hạn, tỷ
giá hối đoái, chi tiêu của Chính phủ và mức tiết kiệm.
* Mô hình dạng rút gọn.
Thay vì xác định XSVN trên cơ cấu vốn của doanh nghiệp, Tập đoàn Credit
Suisse Financial Products phân chia người vay theo các “khu vực”, mỗi khu vực có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status