NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN - Pdf 67

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN
A. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN
I. Khái niệm về thẻ thanh toán:
1. Định nghĩa:
Ngày nay, thẻ thanh toán – hay vẫn được hiểu một cách nôm na là tiền điện
tử - là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến trên thế giới. Thẻ thanh toán ra
đời và phát triển gắn liền với sự phát triển và ứng dụng công nghệ tin học trong
ngân hàng.
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng
phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ
hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong
phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân
hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Hoá đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của
chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch
vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng phát hành thẻ và ngân hàng
thanh toán thẻ.
Như vậy, sẽ có 3 hoặc 4 thành viên tham gia vào một giao dịch thẻ: Chủ thẻ
(Khách hàng), cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá dịch vụ), ngân hàng
phát hành, ngân hàng thanh toán.
2. Đặc điểm và cấu tạo thẻ:
2.1. Đặc điểm của thẻ:
 Tính linh hoạt : Thẻ thanh toán có nhiều loại, đa dạng, phong phú về hạn
mức tín dụng của thẻ nên thích hợp với hầu hết mọi đối tượng khách hàng,
từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho tới những khách
hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút
tiền mặt), cho tới nhu cầu du lịch giải trí…, thẻ cung cấp cho khách hàng độ
thoả dụng tối đa, thoả mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng.
 Tính tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung
cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có
thể mang lại được. Đặc biệt đối với những người phải đi ra nước ngoài đi
công tác hay là đi du lịch, thẻ có thể giúp họ thanh toán ở gần như bất cứ nơi

(một hình mầu da cam, một hình mầu đỏ) và dòng chữ Mastercard mầu trắng
chạy ở giữa; trên hai hình tròn lồng nhau là hai nửa quả cầu lồng nhau in chìm.
- JCB: Biểu tượng 3 mầu xanh công nhân, đỏ, xanh lá cây, có chữ JCB chạy
ngang giữa.
- AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh.
 Số thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được in
lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại thẻ mà
chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.
 Thời gian có hiệu lực của thẻ: Là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành. Tùy
theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày
đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ.
 Họ và tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của
người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ công ty. Ngoài ra, có thẻ còn có cả
ảnh của chủ thẻ.
 Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Mỗi loại thẻ luôn có ký
hiệu an ninh kèm theo in phía sau của ngày hiệu lực. Ví dụ: Thẻ Visa có chữ
V ( hoặc CV, PV, RV, GV ), thẻ MasterCard có chữ M và chữ C lồng vào
nhau.
Thẻ Amex còn in thêm số mật mã cho từng đợt phát hành.
Mặt sau của thẻ:
 Dải băng từ có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên
chủ thẻ, ngân hàng phát hành...
 Dải băng chữ ký: trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp
nhận thẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ.
3. Phân loại:
Đứng trên nhiều giác độ khác nhau để phân loại thì có thể chia thẻ thành
nhiều loại khác nhau.
3.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất: Có 3 loại
 Thẻ khắc chữ nổi: Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin
cần thiết. Ngày nay, người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật

hàng phát hành và thường được quy định một hạn mức tín dụng nhất định
trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được
phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho. Chủ thẻ phải thanh toán cho
Ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng. Lãi suất tín dụng tùy thuộc vào
quy định của mỗi Ngân hàng phát hành. Tính chất tín dụng của thẻ còn thẻ
hiện ở việc chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải
trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Thẻ tín dụng được coi
là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
 Thẻ ghi nợ: Với loại thẻ này, chủ thẻ có thể chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ
dựa trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai của mình tại ngân
hàng phát hành thẻ. Thẻ thanh toán không có hạn mức tín dụng vì nó phụ
thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Số tiền chủ thẻ chi tiêu
sẽ được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị
điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ. Chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng cấp
cho một mức thấu chi, tuỳ theo sự thoả thuận giữa chủ thẻ và ngân hàng . Đó
là một khoản tín dụng ngắn hạn mà ngân hàng cấp cho chủ thẻ.
Có 2 loại thẻ ghi nợ cơ bản:
 Thẻ Online: Những thông tin về giao dịch được kết nối trực tiếp từ thiết bị
điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tới Ngân hàng phát hành.
Giá trị những giao dịch được khấu trừ trực tiếp và lập tức vào tài khoản của chủ
thẻ.
 Thẻ Offline: Thông tin giao dịch được lưu tại máy điện tử của cơ sở chấp
nhận thẻ và được chuyển đến Ngân hàng phát hành muộn hơn (không có kết nối
trực tiếp vào thời điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào
tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày.
Ngoài 2 loại thẻ phổ biến nhất là thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, còn một số loại
thẻ cũng được sử dụng rộng rãi cho một số mục đích nhất định như:
 Thẻ rút tiền mặt: dùng để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ tại các
máy rút tiền tự động (ATM) hoặc tại ngân hàng và sử dụng các dịch
vụ khác do máy ATM cung cấp (Ví dụ: kiểm tra số dư, chuyển khoản,

 Thẻ vàng: Là loại thẻ ưu hạng phù hợp với mức sống và nhu cầu tài chính
của khách hàng có thu nhập cao. Thẻ được phát hành cho các đối tượng có
uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Điểm khác biệt
của thẻ vàng so với thẻ thường là hạn mức tín dụng lớn.
Tóm lại: Mặc dù được phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại thẻ
nói trên đều có một đặc điểm chung nhất là dùng để thanh toán tiền hàng hoá
dịch vụ nên được gọi chung là thẻ thanh toán. Trên thực tế, loại thẻ tín dụng
được sử dụng phổ biến và có quy trình phức tạp hơn cả. Đề tài này sẽ đi sâu
nghiên cứu và làm rõ các vấn đề về thẻ tín dụng và nghiệp vụ phát hành, thanh
toán thẻ tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.
II. Vai trò của thẻ thanh toán
Mặc dù ra đời sau các phương tiện thanh toán khác, nhưng thẻ thanh toán
ngày càng khẳng định vai trò của nó trong thanh toán nhờ vào những vai trò và tính
năng ưu việt của nó so với các phương tiện thanh toán khác.
1. Đối với người sử dụng thẻ:
1.1 Sự linh hoạt và tiện lợi trong thanh toán ở trong và ngoài nước:
Tiện ích nổi bật cho người sử dụng thẻ là sự tiện lợi và tính linh hoạt hơn hẳn
các phương tiện thanh toán khác. Chủ thẻ có thể thực sự cảm nhận được điều
này khi đi du lịch hay công tác ở nước ngoài. Thẻ thanh toán như Visa,
MasterCard và trong phạm vi nhỏ hơn là Amex và Diners được chấp nhận trên
toàn thế giới. Điều này có nghĩa là, khi dự định ra nước ngoài, thay vì phải
chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay séc du lịch, chủ thẻ có thể mang theo thẻ
thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình.
1.2 Tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn:
Thẻ thanh toán có nhiều tiện ích hơn tiền mặt hay séc du lịch cả trước, trong và
sau chuyến đi.
Với séc du lịch, chủ thẻ phải dự định trước xem sẽ tiêu bao nhiêu và phải đến
ngân hàng làm thủ tục để mua séc trước chuyến đi, đồng thời thanh toán tiền
trước cho ngân hàng cùng với một khoản phí dù trên thực tế họ chưa hề sử
dụng séc này. Khi trở về, nếu chưa sử dụng hết số tiền trên séc, hoặc người có

về sức khoẻ (ví dụ như PPP, BUPA ở Anh), câu lạc bộ hoặc có chế độ thưởng
điểm sau mỗi lần sử dụng thẻ và số điểm này có thể cộng dồn lại để đổi lấy một
số hàng hoá khác.
1.5 Rút tiền mặt:
Chủ thẻ có thể rút tiền mặt một cách nhanh chóng ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ
lúc nào tại ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) và sử dụng một
số dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như: trả nợ vay, chuyển khoản, xem số
dư tài khoản…
1.6 Kiểm soát được chi tiêu:
Với sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến chủ thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát
được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và lãi nếu trả
cho mỗi khoản giao dịch.
Giá cho tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại là khoản phí thường niên mà chủ
thẻ phải chịu và tỷ lệ lãi nếu khoản chi tiêu không được trả ngân hàng đúng hạn,
lãi suất này có thể cao ngang với lãi suất của một khoản vay thấu chi. Tuy
nhiên, với tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại cho chủ thẻ thì khoản phí này
không đáng kể, có thể chấp nhận được.
2 Đối với cơ sở chấp nhận thẻ: (CSCNT)
2.1 Đảm bảo chi trả:
Đối với người bán lẻ, thẻ thanh toán thuận lợi hơn so với séc. Trường hợp
khách hàng muốn thanh toán bằng séc cho một món hàng có giá trị lớn hơn
mức đảm bảo của tờ séc thì cửa hàng đứng trước sự lựa chọn khó khăn: hoặc là
chấp nhận thanh toán séc với số tiền lớn hơn hạn mức được đảm bảo và chịu rủi
ro nếu ngân hàng phát hành từ chối thanh toán hoặc sẽ không bán được hàng,
doanh số bán sẽ giảm. Với thẻ thanh toán, CSCNT có thể yên tâm là đã được
ghi có vào tài khoản ngay khi thông tin được truyền qua hệ thống máy móc điện
tử đến ngân hàng thanh toán. Trường hợp phải xin cấp phép thì việc xin cấp
phép từ ngân hàng phát hành cũng rất nhanh chóng và đảm bảo qua các máy
cấp phép tự động.
2.2 Tăng doanh số bán hàng hoá, dịch vụ và thu hút thêm khách hàng

Thanh toán thẻ giúp CSCNT giảm đáng kể các chi phí cho việc đếm, bảo quản
tiền, quản lý tài chính nhờ vậy cũng giảm được chi phí bán hàng.
Điểm bất đồng giữa CSCNT và ngân hàng là về khoản phí mà CSCNT phải trả
cho ngân hàng. Dù các máy móc thiết bị thanh toán thẻ được các ngân hàng
cung cấp và bảo quản miễn phí, nhưng tuỳ theo quy định của ngân hàng phát
hành, CSCNT vẫn phải chịu một khoản phí tính trên giá trị giao dịch: Khoảng
1,6% giá trị giao dịch đối với thẻ phát hành ở Anh, 3-4% đối với thẻ Amex (ở
bất cứ nước nào)
1
. Điều này có hợp lý không khi mà các CSCNT cũng mang lại
không ít lợi nhuận cho ngân hàng? (Ở Việt Nam thì tỷ lệ phí này dao động từ
2,5- 3,6%
2
)
3. Đối với ngân hàng
Hơn ai hết, ngân hàng chính là người được hưởng lợi từ hoạt động phát hành
và thanh toán thẻ. Điều này thể hiện trên các mặt sau:
1 Ngu n: Th v Thanh toán th trên th gi i , T p chí Ngân h ng, tr 17-19, 5/2002ồ ‘ ẻ à ẻ ế ớ ’ ạ à
2 Ngu n: nh trên..ồ ư
3.1 Lợi nhuận ngân hàng:
Lợi ích lớn nhất mà thẻ đem lại cho ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ là
lợi nhuận. Thu nhập từ thẻ mà ngân hàng có được là: phí CSCNT, phí sử dụng
thẻ (phí thường niên) và lãi suất cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh
toán. Đó là chưa kể các khoản thu từ các dịch vụ ngân hàng và đầu tư kèm
theo.
Một yếu tố nữa có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng từ thẻ đó là lòng trung
thành của khách hàng. Một khi khách hàng đã có tài khoản hoặc thẻ tại ngân
hàng thì hiếm khi họ lại muốn chuyển sang một tổ chức đối thủ khác. Lợi dụng
tâm lý này của khách hàng, ngân hàng có thể tăng lãi suất tương đối cho khoản
tín dụng thanh toán thẻ để tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng mà không sợ mất

loại hình dịch vụ này sẽ được gửi đến cho khách hàng sử dụng thẻ cùng với sao
kê hàng tháng của ngân hàng. Theo thống kê, tại Fleming/Save & Prosper có
tới 30% chủ thẻ đã mua các dịch vụ này
3
.
3.5 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng:
Đưa thêm một loại hình thanh toán mới phục vụ khách hàng buộc ngân hàng
phải không ngừng hoàn thiện: nâng cao trình độ, trang bị thêm trang thiết bị kỹ
thuật công nghệ để cung cấp cho khách hàng những điều kiện tốt nhất trong
thanh toán, đảm bảo uy tín, sự an toàn, hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng.
3.6 Tăng nguồn vốn cho ngân hàng:
Nhờ thẻ thanh toán số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ và số
lượng tài khoản của các CSCNT cũng tăng lên. Với lượng giao dịch thẻ tương
đối lớn, các tài khoản này sẽ tạo cho ngân hàng một lượng vốn bằng tiền đáng
kể, cũng có thể coi là một nguồn sinh lợi cho ngân hàng.
Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thuận tiện, lợi ích về mọi mặt đối với
nhiều lĩnh vực và nhiều đối tượng trong nền kinh tế, đặc biệt trong công cuộc
toàn cầu hoá. Ngày nay, trên thế giới thanh toán bằng thẻ đã trở thành xu thế tất
yếu. Ở các nước phát triển, trên 80% lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ bán lẻ được
thực hiện bằng thẻ
4
. Với phạm vi thanh toán rộng như vậy, vai trò của thẻ chắc
chắn sẽ ngày càng được khẳng định và mở rộng.
4 Đối với nền kinh tế - xã hội:
Nhờ những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực công nghệ thông tin những năm gần
đây, công dụng của thẻ thanh toán ngày càng được phát triển và mở rộng. Thẻ
ngày càng thể hiện vai trò lớn của mình trong sự phát triển kinh tế – xã hội.
Điều này được thể hiện trên các mặt sau:
4.1 Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thẻ là

văn minh, hiện đại hơn. Đây cũng là một yếu tố thu hút khách du lịch, các nhà
đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh việc đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, thẻ được sử dụng ngày càng
rộng rãi cũng là nhờ những tiện ích thiết thực mà nó đem lại cho những đối
tượng liên quan trực tiếp: chủ thẻ, CSCNT, ngân hàng.
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status