NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - Pdf 67

A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI
CHÍNH
1. Khái niệm về thị trường tài chính:
Bắt nguồn từ mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm: một nền kinh tế muốn tăng
trưởng thì phải có hoạt động đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy động vốn từ nguồn
tiết kiệm; đầu tư có hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồn tiết kiệm. Vì vậy,
mối quan hệ nhân quả này tuần hoàn và tạo nên sự phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi để tạo ra sự gặp
gỡ này. Đó chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn đó là thị trường tài chính, là
nơi tạo ra cơ chế cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có chỗ đầu tư giao lưu với những
nhà đầu tư đang cần vốn.
Như vậy, thị trường tài chính là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các sản phẩm tài
chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền
kinh tế. Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư,
còn các chủ thể thiếu vốn bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhu cầu
đầu tư khác. Việc hình thành quá trình giao lưu vốn giữa những chủ thể thừa vốn và thiếu
vốn đã tạo nên một thị trường với đầy đủ cơ chế như trong một nền kinh tế thị trường.
Đồng thời, do sản phẩm trên thị trường là sản phẩm tài chính, có tính nhậy cảm và ảnh
hưởng đến mọi thành phần trong nền kinh tế nên thị trường tài chính là thị trường bậc cao.
Do đó, thị trường tài chính phải là loại thị trường bậc cao, chỉ tồn tại và hoạt động trong
điều kiện của nền kinh tế thị trường.
Vậy, thị trường tài chính hình thành trên cơ sở nào?
2. Cơ sở hình thành thị trường tài chính:
Cũng giống như các loại thị trường khác, thể chế thị trường phải được duy trì trong nền
kinh tế tài chính. Tức là, các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trên thị trường tạo ra cung và
cầu về sản phẩm tài chính. Giá các tài sản tài chính hình thành thông qua quá trình giao lưu
vốn giữa các chủ thể trên thị trường. Đó chính là lợi tức hay giá phải trả để có được một tài
sản tài chính và trong nền kinh tế, vốn được phân bổ giữa các tài sản tài chính dựa trên tín
hiệu của thị trường.
Để thị trường phát triển thì phải có một cơ chế thông thoáng. Do đó, các nhu cầu giao lưu
vốn trong xã hội phải được khuyến khích mạnh mẽ trong khuôn khổ luật pháp. Vốn được

quen tích lũy tiền tệ một cách thường xuyên hơn, là một nguồn đầu vào không thể thiếu của
thị trường. Nếu thị trường không kích thích được người dân tích lũy và tham gia vào thị
trường như là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể hoạt động
tốt. Đồng thời, nhà đầu tư trên thị trường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động
đầu tư phải nhận thức được việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, có hiệu suất sử
dụng đồng vốn cao nhất để bảo toàn vốn, sinh lời và tích lũy. Chính vì vậy, thị trường tài
chính có chức năng nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, kích
thích đổi mới, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả đầu tư, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là làm gia tăng tính thanh khoản cho các tài sản
tài chính. Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyển hóa các tài sản tài chính thành tiền
mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp, là thị trường mua bán, giao dịch cổ phiếu và
các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị trường sơ cấp. Tính thanh khoản ở thị trường tài
chính càng cao thì càng thu hút nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp chủ sở hữu
các tài sản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu. Do đó, mỗi thị
trường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển các
định chế tài chính của thị trường ấy. Nếu các cơ chế của thị trường thông thoáng sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho các công cụ tài chính lưu thông thông suốt. Ngoài ra, thị trường tài chính
còn có chức năng định giá tài sản tài chính, phân phối vốn trên thị trường theo tín hiệu của
thị trường.
Tùy thuộc vào các chức năng khác nhau của thị trường cũng như các tiêu chí phân loại
khác nhau, thị trường tài chính cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng tựu trung
lại, thị trường tài chính thường có ba cách phân loại cơ bản: theo thời hạn, tính chất luân
chuyển vốn và theo cơ cấu của thị trường.
4. Phân loại thị trường tài chính:
Căn cứ theo thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được phân thành: thị trường tiền
tệ, thị trường hối đoái và thị trường chứng khoán.
- Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn. Các
chứng từ có giá ngắn hạn như: tín phiếu Kho bạc, khoản vay ngắn hạn giữa các Ngân hàng,
thỏa thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, … Đây là thị trường nhằm thỏa mãn

trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho toàn bộ nền kinh tế. Những người bán chứng
khoán trên thị trường sơ cấp thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, Công ty phát hành,
Tập đoàn bảo lãnh phát hành, …Thị trường sơ cấp thường diễn ra trong một thời gian nhất
định.
- Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán trao đổi các chứng từ có giá đã phát hành lần
đầu. Trên thị trường này, các nhà đầu tư chuyển nhượng quyền mua bán chứng khoán và
điều đó làm cho chứng khoán đã phát hành có tính thanh khoản. Khoản tiền thu được từ
việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ
không thuộc về nhà phát hành nên luồng tiền chỉ vận chuyển giữa những nhà đầu tư chứng
khoán trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng
khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp. Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh
nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá giao dịch chứng khoán do cung - cầu trên thị trường quyết
định.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thị trường sơ
cấp là cơ sở và là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứ cấp; vì đó là
nơi cung cấp hàng hóa chứng khoán lưu thông trên thị trường thứ cấp. Ngược lại, thị
trường thứ cấp là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của thị trường sơ cấp; vì nếu
không có thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho
chứng khoán thì rất khó để phát hành và thu hút nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp. Việc
phân biệt thị trường sơ cấp và thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Trên thực tế, tổ chức
thị trường không phân biệt đâu là thị trường sơ cấp, đâu là thị trường thứ cấp. Vì tại một thị
trường có thể cùng diễn ra đồng thời hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành và
chứng khoán mua bán lại. Điều cần quan tâm là phải coi trọng thị trường sơ cấp vì đây là
thị trường tạo vốn và có cơ chế giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp để bảo vệ thị trường
tài chính ổn định.
Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn, thị trường tài chính được phân thành thị trường
công cụ nợ và thị trường công cụ vốn.
- Thị trường công cụ nợ là thị trường phát hành, mua bán các chứng khoán nợ. Thực chất
các công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, …) là các thỏa thuận có tính hợp đồng.
Trong đó, người vay vốn thanh toán cho người giữ công cụ một khoản tiền cố định trong

B. THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT
NAM
1. Thị trường tiền tệ:
a) Thị trường vốn ngắn hạn:
(Về thị trường vốn ngắn hạn hay còn gọi là thị trường tiền tệ) Nhìn chung, thị trường này
chưa thực sự phát triển và Ngân hàng Nhà nước (NHTW) chưa thực sự đóng vai trò can
thiệp có hiệu quả vào thị trường này. Các loại lãi suất của NHTW: lãi suất cơ bản, lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất đấu thầu tín phiếu
kho bạc nhà nước có tác động rõ nét đến thị trường. Các công cụ điều hành chính sách tiền
tệ, đặc biệt là công cụ dự trữ bắt buộc... thiếu linh hoạt. Các Ngân hàng thương mại
(NHTM) và Tổ chức tín dụng cạnh tranh với nhau tăng lãi suất huy động vốn một cách
một chiều, tạo nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho chính các NHTM.
b) Thị trường liên ngân hàng
Hoạt động Ngân hàng hiện đang nóng với những diễn biến trái chiều và ba vấn đề nổi cộm:
các Ngân hàng thương mại khan hiếm tiền đồng Việt Nam, cung ngoại tệ trong nền kinh tế
tăng cao và sức ép dư luận về chống lạm phát từ việc cung ứng tiền ra lưu thông.
Ba vấn đề trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để đáp ứng nhu cầu về tiền đồng Việt
Nam, cũng như cung ngoại tệ quá lớn và tăng mạnh, thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) phải đẩy mạnh mua ngoại tệ vào cung ứng đồng Việt Nam ra lưu thông. Song
cung ứng đồng Việt Nam ra lưu thông thì lại gặp phải sức ép của dư luận về chống lạm
phát đang tăng cao từ góc độ tiền tệ.
Càng về cuối năm khối lượng ngoại tệ chuyển vào Việt Nam càng tăng mạnh, lớn nhất đó
là kiều hối. Cũng về thời điểm cuối năm, các NHTM cổ phần và doanh nghiệp cổ phần gấp
rút phát hành cổ phiếu mới để hoàn thành kế hoạch năm 2007 về tăng vốn điều vốn lệ theo
nghị quyết đại hội cổ đông biểu quyết nhất trí từ đầu năm. Cổ đông là người Việt Nam ở
nước ngoài, cổ đông nước ngoài phải chuyển tiền về Việt Nam để góp vốn. Một bộ phận
khác người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về cho người thân vay mượn hoặc đầu tư
hộ vào các loại trái phiếu khác nhau.
Bên cạnh đó là tiền từ nước ngoài chuyển về đầu tư vào thị trường trường bất động sản.
Một nguồn vốn ngoại tệ quan trọng khác đó là vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status