THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
2.1. Những đóng góp của thuế nhập khẩu đối với kinh tế Việt Nam.
2.1.1. Góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Cùng với các loại thuế khác, thuế nhập khẩu đã trở thành một nguồn thu lớn
và ổn định góp phần đảm bảo mức huy động cho NSNN của Việt Nam luôn duy trì
ở mức 20%-22% GDP. Trong những năm 1992-1997, tỷ trọng thuế xuất, nhập khẩu
trong tổng thu NSNN luôn chiếm 21,36%, trong đó thu từ thuế nhập khẩu là
19,3%, từ thuế xuất khẩu là 2,06%. Trong giai đoạn 1999-2004, do việc cắt giảm
thuế xuất theo lộ trình gia nhập AFTA và giảm thuế nhiều mặt hàng nhập khẩu là
nguyên vật liệu đầu vào cho các ngành sản xuất trong nước, vì vậy mà tỷ trọng
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tổng thu NSNN đã giảm xuống còn 15,9%.
Tuy nhiên, nếu tính cả thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng đánh vào hàng
hoá xuất, nhập khẩu thì tổng thu từ nguồn này chiếm tới 31% tổng thu NSNN.
Dựa vào bảng số liệu dưới đây chúng ta có thể thấy rằng: số thu thuế xuất,
nhập khẩu từ năm 1998 không tăng , thậm chí có năm còn giảm là do các nguyên
nhân sau:
Đã thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu của hơn 5.500 / tổng số hơn 6.400
dòng thuế của Biểu thuế nhập khẩu để thực hiện Hiệp định CEPT/ AFTA.
- Đã thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu của hơn 400 / tổng số hơn 6.400
dòng thuế của Biểu thuế nhập khẩu để thực hiện Hiệp định hàng dệt may với EU.
- Đã giảm thuế nhập khẩu của hơn 1000 / tổng số hơn 6400 dòng thuế của
Biểu thuế nhập khẩu để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu thực hiện
thuế giá trị gia tăng.
Bảng 3: Tỷ trọng thuế xuất, nhập khẩu trong tổng số thu về thuế giai đoạn
1998-2005.
Đơn vị tính: %
Năm Tổng
kim
ngạch
XNK
(triệu
thuế
XNK so
với tổng
thu về
thuế
(%)
1998 20,81 Chưa có 864 14.104 16.657 20,52
1999 23,14 8.162 847 13.800 23.669 17,47
2000 30,07 10.718 1.139 12.285 24.417 14,27
2001 31,19 13.480 1.347 15.306 30.320 14,48
2002 35,28 15.287 1.526 19.571 36.402 13,84
2003 39,60 18.423 1.837 22.603 42.945 12,92
2004 43,56 22.549 2.269 25.568 50.482 11,48
2005 47,91 26.285 2.638 28.483 57.506 10,62
Nguồn: Tổng cục thuế- Bộ Tài chính
Website: WWW.GDT.GOV.VN
Tuy mức thuế suất thuế nhập khẩu của nhiều mặt hàng đã được giảm đi
nhưng:
- Số thu về thuế xuất, nhập khẩu của năm 2001 tăng so với những năm trước
là do trong thời gian qua đã luôn rà soát để sửa đổi tăng thuế của những mặt hàng
có mức thuế suất thấp, tăng thuế kịp thời mặt hàng xăng dầu, tăng cường kiểm soát
chống trốn lậu thuế.
- Tổng số thu về thuế từ hàng nhập khẩu (gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị
gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt) lại tăng cao hơn nhiều so với trước khi chỉ thu thuế
nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu.
Trong những năm tới, khi Việt Nam chính thức gia nhập các tổ chức thương mại
trong khu vực và trên thế giới thì thuế nhập khẩu vẫn sẽ phải đảm nhận vai trò đảm
bảo nguồn thu cho NSNN.
2.1.2. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được ban hành từ năm 1991, Quốc hội
cho các nhóm hàng nhằm thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ,
Hiệp định dệt may Việt Nam- EU.
Theo dự báo của Tổng cục thuế, nếu nước ta tiếp tục cắt giảm thuế nhập khẩu với
ASEAN, EU, Hoa Kỳ theo đúng tiến độ cam kết và không có những sửa đổi thích
hợp về Biểu thuế, giá tính thuế, các ưu đãi thuế, quản lý thuế.v.v… thì trong thời
gian tới tỷ trọng thuế xuất, nhập khẩu trong tổng thu NSNN sẽ giảm đáng kể.Bảng
số liệu dưới đây sẽ cho chúng ta thấy mức độ giảm thu đó:
Bảng 4: Tỷ trọng thuế xuất, nhập khẩu trong tổng thu NSNN giai đoạn 2002-
2006.
Đơn vị tính: %
Năm Thuế xuất, nhập
khẩu
(Tỷ đồng)
Tổng thu NSNN
(Tỷ đồng)
Thuế xuất, nhập
khẩu/Σ Thu
NSNN
(%)
2002 19.571 123.860 15,8
2003 22.603 152.272 14,8
2004 25.568 149.320 17,1
2005 28.493 170.000 16,8
Dự báo
Năm 2006
29.500 237.900 12,4
Nguồn: Quyết toán NSNN các năm- Bộ Tài chính.
Website: WWW.MOF.GOV.VN
Theo dự toán của Tổng cục thuế , mức độ giảm thu NSNN từ thuế nhập khẩu
2004 43.560 25.400 27.097 1.697
2005 47.916 26.000 31.600 5.600
2006 52.707 26.200 33.800 7.600
2007 57.984 27.300 34.400 7.100
2008 63.782 28.800 36.900 8.100
2009 70.160 30.900 40.200 9.300
2010 77.176 32.400 43.000 10.600
Nguồn: Tổng cục thuế- Bộ Tài chính
Website: WWW.GDT.GOV.VN
Ghi chú: Bảng trên được tính toán với giả thiết kim ngạch nhập khẩu tăng
bình quân 10% / năm, tỷ giá 15.500 / USD, chính sách thuế nhập khẩu quy định
vào thời điểm tháng 6/2003.
Bài toán đặt ra cho chúng ta trong thời gian tới là phải đảm bảo hạn chế đến
mức thấp nhất của sự giảm thu NSNN, tức là phải biết lựa chọn các mặt hàng cắt
giảm, bước đi thích hợp, phối hợp với các sắc thuế khác, sửa giảm thuế nhập khẩu
những mặt hàng có mức thuế nhập khẩu cao; đồng thời với việc tăng dần mức thuế
nhập khẩu của những mặt hàng có mức thuế nhập khẩu thấp, cải tiến quy trình
quản lý thu, tăng cường quản lý chống thất thu NSNN.v.v…
Trong nước, việc ổn định thuế suất đối với các mặt hàng là nguyên liệu đầu
vào cho sản xuất đã góp phần hạn chế những tác động bất lợi do sự biến động về
giá trên thị trường thế giới.
Ngoài ra, việc quy định ba loại thuế suất đối với thuế nhập khẩu là thuế suất
ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường vừa phù hợp với thông
lệ quốc tế vừa hỗ trợ tích cực cho quá trình mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
2.1.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu được quy định với mức thuế suất phân biệt đối với các loại sản phẩm hàng
hoá khác nhau, cụ thể là với hàng hoá trong nước đã sản xuất được hoặc đang khuyến khích trong
nước sản xuất thì chịu mức thuế nhập khẩu cao (trên 20%), còn các mặt hàng máy móc, thiết bị,
vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước chưa tự sản xuất được thì áp dụng mức thuế suất
thuế nhập khẩu thấp (0%-5%).
hoá nhập khẩu qua các cửa khẩu Hải Phòng, Vĩnh Linh (Quảng Trị ). Biểu thuế được xây dựng
trên nguyên tắc bảo vệ độc lập chủ quyền, bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển,
hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu. Nghị định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói trên
đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ chiến tranh.
Bắt đầu từ năm 1975, do đặc điểm của một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước
độc quyền ngoại thương, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự trợ giúp của các nước xã hội chủ
nghĩa trong khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), Nhà nước đã cho áp dụng chế độ “thu bù
chênh lệch ngoaị thương” đối với hàng hoá nhập khẩu mậu dịch và áp dụng chế độ thu thuế hàng
hoá đối với hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch.
Ngày 29-12-1987, Quốc hội khoá VIII đã thông qua “Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
hàng mậu dịch” để thay thế cho chế độ “Thu bù chênh lệch ngoại thương” trước đây. Đây là Luật
thuế đầu tiên của Việt Nam nhằm phục vụ yêu cầu tăng cường quản lý các hoạt động xuất, nhập
khẩu mậu dịch của các xí nghiệp trung ương và địa phương đang phát triển, góp phần thực hiện
chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn đầu đổi mới, hình thành cơ
cấu xuất, nhập khẩu hợp lý, bảo hộ nền sản xuất trong nước, hướng dẫn nhập khẩu và tiêu dùng
một cách hợp lý và tạo nguồn thu cho NSNN.
Từ năm 1990, Nhà nước thực hiện chính sách kinh tế bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế. Nền kinh tế nước ta chuyển mạnh từ một nền kinh tế đóng sang nền kinh tế mở, tình hình thế
giới có nhiều thay đổi, quan hệ với Liên xô và các nước Đông Âu không còn như cũ, đặc biệt với
sự tan rã của khối SEV, quan hệ kinh tế đối ngoại của ta được mở rộng. Trước bối cảnh kinh tế
trong nước và quốc tế thay đổi, chính sách thuế nhập khẩu trong thời gian này đã bộc lộ những hạn
chế như: phạm vi điều chỉnh hẹp, không còn phù hợp với đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá
trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới; còn mang nặng
tính phân biệt đối xử, thiếu bình đẳng giữa các nước và không còn phù hợp.
Để thực hiện mục tiêu bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước thay thế hàng nhập
khẩu, tăng nguồn thu cho NSNN, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, phù
hợp với chính sách mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước, ngày 26-12-1991,
tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá III đã thông qua “Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” có hiệu
lực thi hành từ ngày 01-3-1992. Do yêu cầu về kinh tế- xã hội, Luật thuế này lại được sửa đổi, bổ
sung vào tháng 7 năm 1993.
trong nước tham gia vào quá trình buôn bán quốc tế cũng như việc bảo vệ nền sản xuất trong nước
khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
Để phù hợp với nội dung cải cách thuế bước I, đặc biệt là Luật thuế TTĐB, tháng 10/1995,
UBTVQH đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi khung thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt
hàng theo hướng giảm mức tối đa khung thuế suất xuống 60%, phần chênh lệch giữa mức thuế
nhập khẩu đang thu và mức thuế nhập khẩu sẽ thu được chuyển sang thu thuế TTĐB. Do chuyển
sang thu thuế TTĐB nên từ đầu năm 1996, số lượng mức thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu đã
giảm đi còn khoảng 28 mức thuế, với mức thuế thấp nhất là 0%, cao nhất là 60%.
Thực hiện cải cách thuế bước II, phù hợp với một số Luật thuế mới được ban hành (đặc
biệt là Luật thuế GTGT) và các quy định thương mại quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ thực hiện,
tháng 4/1998 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu.