ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ DUY TÚ
LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN: GIÁ TRỊ THAM KHẢO
TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ DUY TÚ
LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN: GIÁ TRỊ THAM KHẢO
TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 62.31.20.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS Phùng Hữu Phú
2. PGS.TS Nguyễn Minh Phƣơng
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN TIỄN SĨ CẤP ĐHQG
T/M tập thể hướng dẫn
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ...............................................8
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc ..........................................................................8
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền ...................................................8
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng
và hoàn thiện bộ máy nhà nước .................................................................................9
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc................................................................................. 14
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền ..................................14
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về lý thuyết phân quyền trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước
.....................................................................................................................................22
1.3. Đánh giá chung về tình hình, kết quả nghiên cứu việc tham khảo những giá trị của lý
thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nƣớc pháp
quyền Việt Nam......................................................................................................................... 29
1.3.1. Những kết quả đạt được .................................................................................29
1.3.2. Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu .....................................29
Chương 2: LÝ THUYẾT PHÂN QUYỀN VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA NÓ TRONG
VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN .............33
2.1. Lý thuyết phân quyền: khái niệm, lịch sử hình thành, phát triển và nội dung ... 33
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản.....................................................................................33
2.1.2. Khái lược lịch sử hình thành, phát triển và nội dung của lý thuyết phân quyền ...................43
2.2. Phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nƣớc ở một số quốc gia điển hình
trên thế giới ................................................................................................................55
2.2.1. Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Anh .............................56
2.2.2. Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Pháp.......................................56
2.2.3. Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Hoa Kỳ...................................68
2.2.4. Mô hình phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước Trung Quốc ...............73
2.3. Giá trị chung của lý thuyết phân quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ
quan quyền lực nhà nước cấp trung ương ........................................................... 142
4.2.2. Đảm bảo sự phân công, phối hợp, kiểm soát có hiệu quả giữa các cơ quan
nhà nước cấp trung ương và địa phương ............................................................. 159
4.2.3. Đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với các cơ quan nhà nước ...................................................................................... 165
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 173
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
HĐND:
Hội đồng nhân dân
UBND:
Ủy ban nhân dân
XHCN:
Đại nghị (Cộng hoà và Quân chủ) và chính thể Hỗn hợp. Thực tiễn chính trị - pháp lý
tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều nước trong hàng trăm năm qua đã chứng tỏ những
giá trị của lý thuyết phân quyền như phê phán, phủ định chế độ tập quyền quân chủ
1
chuyên chế, độc tài và đề cao giá trị của Hiến pháp, pháp luật, đặt nền móng hình
thành thể chế chính trị dân chủ; quyền lực nhà nước thuộc nhân dân và được trao cho
các nhánh quyền lực nhà nước khác nhau (lập pháp, hành pháp, tư pháp) nhằm đảm
bảo chuyên môn hoá chức năng, nhiệm vụ của mỗi nhánh quyền lực, tăng tính hiệu
quả của các cơ quan nhà nước; hình thành cơ chế kiềm chế, đối trọng, kiểm tra và chế
ước lẫn nhau trong hoạt động giữa các nhánh quyền lực, nhờ đó loại trừ nguy cơ tập
trung quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền
lực duy nhất nào đó - nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hóa trong thực thi quyền
lực…. Đồng thời, kinh nghiệm lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước cho thấy, thiếu một
cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước khoa học là nguyên nhân cơ bản nảy
sinh tình trạng lạm quyền và quan liêu, tham nhũng, từ đó làm suy giảm hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đối với nước ta, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số lý luận, học thuyết với
tư cách giá trị nhận thức của văn minh nhân loại bị lãng quên hoặc được lý giải một
cách thiên lệch mang nặng định kiến và lý thuyết phân quyền là một trong những
trường hợp như vậy. Bộ máy nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, không tổ chức
theo mô hình của lý thuyết phân quyền. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và hoàn thiện
bộ máy nhà nước trong những năm qua và đặc biệt thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay với
sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN, dân chủ hoá đời sống xã hội đã cho thấy những giá trị chung của văn
minh nhân loại, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và nếu coi nhẹ hoặc chối bỏ
chúng thì không thể tiến lên được. Văn kiện XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
quyền địa phương [37, tr.176].
Chính vì vây, việc nghiên cứu để có hiểu biết chính xác về những giá trị của
lý thuyết phân quyền nhằm tham khảo, vận dụng vào điều kiện Việt Nam là rất cần
thiết. Với mong muố n góp phần vào việc làm rõ hơn những giá trị của lý thuyết
phân quyền, cũng như việc tham khảo, vận dụng những giá trị hợp lý của lý thuyết
phân quyền trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bô ̣ máy Nhà nước pháp quyền
Việt Nam hiện nay, nghiên cứu sinh mạnh dạn chọn đề tài : “Lý thuyết phân quyền:
Giá trị tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền
Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ chính trị học của mình .
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của lý thuyết phân quyền, từ đó
tham khảo, vận dụng những giá trị hợp lý cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam hiện nay; Đề xuất các giải pháp hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp
quyền ở nước ta hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết
phân quyền.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu nội dung và các giá trị của lý thuyết phân quyền về tổ chức bộ
máy nhà nước.
+ Khái quát kinh nghiệm vận dụng lý thuyết phân quyền trong việc tổ chức
bộ máy nhà nước của một số quốc gia trên thế giới.
+ Đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy nhà nước và xác định những vấn đề đặt
ra trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở nước ta trên cơ sở tham
khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền.
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá
+ Để thực hiện luận án này, tác giả chủ yếu vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp phân tích tài liệu: để thu thập thông tin thông qua phân tích các
nguồn tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn và hỏi chuyên gia: trao đổi, lấy ý kiến góp ý, phản
biện của những chuyên gia, các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã và đang
nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước.
Phương pháp tổng hợp: để tổng hợp các tri thức có được từ hoạt động phân
tích tài liệu, phỏng vấn và hỏi chuyên gia. Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra
những luận giải, nhận xét và đề xuất của tác giả luận án.
5
Phương pháp so sánh: nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, qua đó rút ra bài
học và lựa chọn những hạt nhân hợp lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để tham
khảo, vận dụng vào Việt Nam.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp liên ngành: chính trị học;
luật học…
5. Đóng góp của luâ ̣n án
- Hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển và các nội dung cơ bản của lý
thuyết phân quyền.
- Nghiên cứu xác định những giá tri ̣lý luâ ̣n , thực tiễn của lý thuyết phân
quyền trong thực tiễn chính trị nhân loại.
- Đề xuất mô ̣t số giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước nhằ m đáp ứng yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân , do Nhân dân, vì Nhân dân ở
nước ta hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị hợp lý của lý thuyết phân quyền.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Chương 4: Phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà
nước pháp quyền Việt Nam hiện nay trên cơ sở tham khảo những giá trị của lý
thuyết phân quyền
7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền
Cần phải khẳng định rằng, những nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền trong
nền khoa học chính trị phương Tây thường gắn với dân chủ và đổi mới thể chế
chính trị. Do đó, cần phải khảo sát những công trình nghiên cứu về nền dân chủ và
Nhà nước pháp quyền. Có thể kể đến những công trình như:
Pierre Pactet (1994), Institutions politiques - Droit constitutionnel [168] đã đi
sâu nghiên cứu những thay đổi, biến đổi, thích ứng của thể chế nói chung và nhà nước
nói riêng về những điều kiện về kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống dân chủ và trình
độ dân trí và hướng đến xây dựng một Nhà nước pháp quyền.
Joseph Thesing (2002), Nhà nước pháp quyền - Chế độ pháp trị của Cộng
hòa Liên bang Đức [122] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà
nước pháp quyền tại nước Đức và một số nước có liên quan; chỉ ra những điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của những nước phương Tây có nhiều
điểm khác so với các nước phương Đông.
Costa P, Zolo D. (2007), The rules of law: history, theory and criticism [156]
đã chia sẻ suy nghĩ về nhà nước pháp quyền hiện nay đòi hỏi phải mở rộng nền pháp
lý toàn cầu. Nhà nước pháp quyền không còn là giá trị của Mỹ và Châu Âu mà là của
nhân loại. Đây là một công trình tham khảo đầy giá trị cho luận án khi tìm hiểu về
lịch sử và lý thuyết của Nhà nước pháp quyền.
Amichai Magen, Thomas Risse, Michael A. McFaul (2009), Promoting
trong các ngành Triết học, Kinh tế học, Luật học, Chính trị học, Xã hội học,... bàn về
khoa học tổ chức và tổ chức nhà nước. Chẳng hạn, trường phái cơ giới xem tổ chức
như một cỗ máy bao gồm các bộ phận có vai trò, vị trí khác nhau hợp lại; trường phái
tự nhiên lại xem tổ chức như một cơ thể sống, là một hệ thống mở, tự điều chỉnh;
trường phái xã hội xem tổ chức như là một nền văn hóa, một công cụ cai trị. Các lý
9
thuyết về nhà nước như: lý thuyết phân quyền, lý thuyết Nhà nước pháp quyền... đã
tạo cơ sở thiết lập mô hình nhà nước tư sản hiện đại.
Trong lĩnh vực Chính trị học, ở phương Tây, vấn đề quyền lực, quyền lực
nhà nước, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước như:“tập trung quyền lực”
hay“phân chia quyền lực” được đề cập từ rất sớm và được bổ sung, phát triển đến
tận ngày nay. Nhiều khái niệm, phạm trù và các vấn đề có liên quan đã được các
học giả phân tích một cách rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn chưa
hết tranh luận về vấn đề quyền lực, quyền lực nhà nước cũng như cách thức tổ chức
quyền lực. Từ các cách tiếp cận khác nhau về quyền lực, quyền lực nhà nước, cũng
như cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, nhiều công trình nghiên đã phân tích
khá rõ nhiều khía cạnh về lý thuyết phân quyền. Nhìn chung, các công trình nghiên
cứu đều cho rằng phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị - pháp lý có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng của lý luận và thực tiễn chính trị thế giới. Lý thuyết phân
quyền đã đi ngược lại hoàn toàn các lý thuyết chính trị trong chế độ độc tài chuyên
chế. Nó được coi là tư tưởng vạch ra thời đại mới, đánh dấu sự loại bỏ chế độ Quân
chủ chuyên chế, độc tài - mảnh đất tốt cho sự lộng quyền, bức rào cản của dân chủ
và phát triển xã hội chuyển sang một chế độ xã hội dân chủ, văn minh. Nói tới lý
thuyết phân quyền là nói tới quá trình đấu tranh cho tự do, bình đẳng, tiến bộ xã hội.
Vì vậy, phân quyền được coi là yêu cầu khách quan trong nhà nước dân chủ và là
điều kiện đảm bảo cho những giá trị tự do của con người được phát huy, đồng thời
là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của Nhà nước pháp quyền. Lý thuyết
các hoạt động điều hành của nhà nước, đặc biệt là trên lĩnh vực lập pháp. Ông cho
rằng, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân. Nhân dân trao toàn bộ quyền lực
của mình cho nhà nước để sau đó nhà nước hiện thực hóa quyền đó của nhân dân.
Nhân dân sau khi đã ủy quyền cho nhà nước thì lại được nhà nước trao lại một phần
quyền lực thông qua các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
S. Montesqueu (1948), Bàn về Tinh thần pháp luật [93] đã đề cập và lý giải
hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn trong luật học cũng như các khoa học xã hội
đương thời; phân tích, so sánh các nội dung và bản chất của các thể chế chính trị
khác nhau, chỉ ra nhiều điểm hạn chế và tích cực của từng thể chế; bàn về các yếu tố
liên quan đến luật, cách soạn thảo luật và ứng dụng luật trong các lĩnh vực xã hội...
Đặc biệt, toàn bộ cuốn sách toát lên tinh thần muốn xây dựng một xã hội bình đẳng,
bác ái, tất cả vì hạnh phúc của con người.
11
Trong suốt thế kỷ XX và cho đến ngày nay, lý thuyết phân chia quyền lực
của S. Montesqueu vẫn đóng vai trò nền tảng cho các nghiên cứu về quyền lực nhà
nước. Các công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này như:
John Dewey (1927), The Public and Its Problems [158] và (1939), Theory of
Valuation [159] đã chỉ ra nhà nước không là gì khác ngoài một tổ chức được lập ra
để phục vụ cho nhân dân. Ông đã chỉ ra, vì không có một cơ chế giám sát hữu hiệu
nên quyền lực nhà nước bị lạm dụng, nhà nước trở thành công cụ phục vụ lợi ích
cho một nhóm người nhất định trong xã hội.
Mann M. (1986), The Sources of Social Power [165]; Robert A. Dahl (1991),
Democracy and Critics [157]; Các tác phẩm đã đi sâu phân tích về vấn đề quyền lực
và dân chủ trong bộ máy nhà nước. Các tác giả đều cho rằng quyền lực nhà nước bắt
nguồn từ nhân dân. Do đó, sẽ không có một xã hội dân chủ nếu quyền lực công chỉ
phục vụ lợi ích cho một giai cấp nhất định mà quên lợi ích của xã hội. Đồng thời, các
tác giả cho rằng dân chủ chỉ có được nếu có sự cân bằng, sự chế ước lẫn nhau giữa
quyền khác nhau.
David Held (2013), Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại [53]. Với
phương pháp phân tích khoa học, ông đã tổng hợp các tư tưởng và thực tiễn để
xây dựng nên các mô hình dân chủ điển hình, theo các tiêu chí phân loại cụ thể.
Held trình bày bốn mô hình dân chủ kinh điển: mô hình dân chủ cổ điển Athens,
mô hình dân chủ cộng hòa, mô hình dân chủ tự do, và mô hình dân chủ trực tiếp.
Bốn mô hình này đã xuất hiện như là các thử nghiệm trong lịch sử trước thế kỷ
XX, và có thể xem là bốn hình mẫu tiêu biểu cho cách thức quản trị quốc gia mà
dân chúng có quyền tham gia.
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh các tác phẩm nói trên còn có nhiều
nghiên cứu đi sâu phân tích đến vấn đề quyền lực nhà nước, cách thức tổ chức
quyền lực nhà nước, cơ chế phân chia, kiểm soát quyền lực nhà nước được đăng
trên hệ thống mạng Internet như: “Sự phân chia quyền lực” đăng trên trang mạng
http://www.usconstiution.net. Tác giả đã khái quát sự ra đời của lý thuyết phân
quyền và phân tích về tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà nước đương đại của một
số quốc gia như: Anh, Pháp, Canada và Mexico...
13
Như vậy, có thể thấy kể từ khi nhà nước xuất hiện, vấn đề quyền lực nhà
nước và cách thức tổ chức bộ máy nhà nước luôn được quan tâm nghiên cứu. Đồng
thời, đến nay lý thuyết phân quyền vẫn đang ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn thế giới
vì những giá trị hợp lý của nó. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của
mỗi quốc gia để có thể vận dụng những giá trị của lý thuyết phân quyền. Các công
trình nghiên cứu ở trên được thực hiện bởi các tác giả nước ngoài, không trực tiếp
bàn đến bộ máy nhà nước Việt Nam, do đó, các tác phẩm này chỉ có giá trị tham
khảo để các học giả Việt Nam nghiên cứu và có sự vận dụng sáng tạo góp phần
hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Việt Nam; phương hướng và các giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
của dân, do dân, vì dân; Các đề tài này trực tiếp hoặc gián tiếp luận chứng cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc xây dựng, vận hành cơ chế kiểm tra, giám sát đối với hoạt
động của hệ thống chính trị, trước hết là tổ chức và hoạt động của bộ máy Đảng và
Nhà nước. Tuy nhiên, cho đến nay, vì một số lý do nhất định, những vấn đề lý luận
về tổ chức và tổ chức nhà nước - tiếp cận từ những giá trị của lý thuyết phân quyền
vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, cụ thể và chưa đủ tầm để
tạo nên cơ sở lý luận cho việc hoạch định các định hướng, giải pháp cải cách bộ máy
nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta hiện nay.
Các công trình chuyên khảo nghiên cứu về vấn đề Nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam được công bố như:
Nguyễn Văn Niên (1996), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn [100]; Nguyễn Trọng Thức (2005), Xây dựng nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân [125] đã giới thiệu chung về Nhà nước
pháp quyền và dân chủ XHCN, đồng thời nêu lên thực trạng của việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền và phát huy dân chủ ở Việt Nam.
Bùi Ngọc Sơn (2005), Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp
quyền [116] đã tìm hiểu khoa học luật hiến pháp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước
15
pháp quyền Việt Nam và phân tích sâu sắc một số vấn đề lý luận về hiến pháp và bộ
máy Nhà nước Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [118] đã làm sáng tỏ quá
trình hình thành và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong tiến trình lịch sử
nhân loại; những giá trị phổ biến của tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong sự phát
triển của xã hội; quan hệ giữa nhà nước và pháp luật; giữa pháp luật và đạo đức,
quyền XHCN Việt Nam; đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội; hoạt động hành
pháp của Chính phủ và hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp; về mối quan hệ
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Các tác giả đã chỉ ra điểm mấu
chốt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đó là cải cách
chính bộ máy nhà nước hiện hành, mọi hoạt động của nhà nước đều phải tuân thủ
pháp luật và pháp luật thực sự là ý trí, nguyện vọng của nhân dân.
Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (2010), Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam của dân, do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn [112], đã bước đầu nghiên
cứu về cơ sở lý luận Nhà nước pháp quyền XHCN, đưa ra những luận điểm khoa
học có tính hệ thống về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Các
tác giả đã làm rõ các nội dung chính: học thuyết Nhà nước pháp quyền trong lịch sử
tư tưởng nhân loại; chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật XHCN, về Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN
của dân, do dân, vì dân; chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền XHCN;
Các điều kiện, các yếu tố chi phối quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
ở Việt Nam; phương hướng và các giải pháp chủ yếu xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam.
Trần Ngọc Đường, Nông Đức Mạnh (2008), Mô hình tổ chức và phương
thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam [44] đã chỉ ra những điểm bất cập trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, đồng
thời đề xuất những giải pháp cải cách và đổi mới bộ máy Nhà nước mà trọng tâm
là Quốc hội.
17
Dương Xuân Ngọc (2012), Mỗi quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở Việt Nam [99] đã nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn giải
Nhà nước pháp quyền là tính tối cao của pháp luật, cơ chế phân công quyền lực
trong sự chế ước lẫn nhau, sự hiện diện của nền dân chủ, tôn trọng nhân quyền và
thực hiện tận tâm các cam kết quốc tế.
Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2005), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ
thống Tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền [131] đã
đánh giá tổ chức bộ máy và thẩm quyền của hệ thống Tòa án, đồng thời đề xuất các
giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án ở nước ta đáp ứng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Trịnh Thị Xuyến (2007), Kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- vấn đề và giải pháp [153] đã nghiên cứu thực trạng kiểm soát quyền lực Nhà nước
Việt Nam trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của kiểm soát quyền lực nhà nước trong bối cảnh
xã hội Việt Nam hiện nay và những giải pháp khắc phục.
Hồ Xuân Quang (2008), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN từ 1996 đến năm 2006 [103] chỉ rõ những
thành tưu, hạn chế và xác định một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong 10 năm lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Đồng
thời, để đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền trong thời gian tới,
tác giả khẳng định Đảng cần nâng cao trình độ pháp luật, năng lực lãnh đạo và đi
đầu trong việc thực thi pháp luật.
Trần Ngọc Liêu (2009), Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước
với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [71] đã phân tích sâu về
vấn đề đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp
quyền. Tác giả đã chỉ rõ sự thay đổi tư duy lý luận của Đảng: từ chỗ nhận thức chưa
rõ ràng về khái niệm Nhà nước pháp quyền, Đảng ta đi đến thừa nhận Nhà nước
pháp quyền là một phương thức tổ chức và hoạt động của nhà nước, chứa đựng
những giá trị có tính phổ biến, có thể vận dụng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt Nam. Đồng thời, tác giả chỉ ra việc Đảng ngày càng nhận thức rõ hơn những