Tư tưởng giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm " Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai" - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ MINH HÒA

TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN
TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƢƠNG LAI”

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ MINH HÒA

TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN
TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƢƠNG LAI”

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quang Hƣng


CHO NỀN GIÁO DỤC TƢƠNG LAI” ....................................................... 33
2.1. Tính cấp thiết cải cách giáo dục ............................................................ 33
2.1.1. Thách thức mang tính toàn cầu............................................................. 33
2.1.2. Thách thức về phương pháp giáo dục ................................................... 37
2.2. Mục tiêu của giáo dục ............................................................................ 42
2. 3. Phƣơng pháp giáo dục .......................................................................... 45
2.4. Nội dung của giáo dục ............................................................................ 54
2.5. Đánh giá về tƣ tƣởng giáo dục của Edgar Morin ............................... 61
2.5.1. Một vài đánh giá về tư tưởng giáo dục của Edgar Morin .................... 61
2.5.2. Vận dụng giá trị của nó cho việc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
......................................................................................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 74


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI – thế kỷ của nền kinh tế tri thức,
giáo dục - đào tạo được khẳng định là nhân tố, là động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam,
các chính phủ đều rất coi trọng giáo dục. Sở dĩ như vậy, bởi vì giáo dục là
điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã
hội và hơn hết giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con
người. Giáo dục - đào tạo không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản
xuất vật chất mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hóa tinh thần. Giáo dục
có tác động vô cùng to lớn trong việc xây dựng ý thức đạo đức, xây dựng nền
văn hóa, góp phần cơ bản vào việc hình thành lối sống mới, nhân cách mới
của toàn bộ xã hội.
Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, điều này thể
hiện qua các lần tổ chức Đại hội Đảng giáo dục luôn là nội dung được bàn

thi đánh giá đúng chất lượng học sinh, nhằm khuyến khích cả thầy và trò dạy
tốt, học tốt… trong bối cảnh hiện nay, giáo dục Việt Nam rất cần phải học
hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm của những nền giáo dục tiên tiến trên thế
giới. Giáo dục Việt Nam buộc phải tìm cho được giải pháp để đổi mới giáo
dục thành công. Vấn đề cốt lõi là cần đổi mới căn bản triết lý về giáo dục để
từ đó có thể xây dựng chương trình giáo dục đúng đắn, khoa học từ mục tiêu
đến nội dung và phương pháp giáo dục cũng như cơ chế quản lý và điều hành
giáo dục.
Edgar Morin (1921 - ) nhà triết học, nhân học Pháp có tư tưởng giáo
dục được thể hiện hoàn bị thông qua bộ ba tác phẩm sư phạm. Trong đó đặc
biệt phải kể đến “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” là tác phẩm
viết về những vấn đề chủ yếu của giáo dục với tư duy mới mẻ, độc đáo. Trong
tác phẩm này ông đã đặt nền giáo dục trong một bối cảnh mới đầy biến động,
đưa ra quan niệm về giáo dục: không dạy lý luận, tri thức đơn thuần, nhồi
2


nhét kiến thức mà cần phải dạy cho người học những kỹ năng, khả năng tư
duy. Nội dung của giáo dục không thể xa lạ với con người mà là những gì cơ
bản, thiết thực nhất. Chú trọng việc người học tự tìm tới kiến thức. Triết lý
giáo dục của Edgar Morin đầy tính nhân văn: tất cả vì con người, cho con
người, người học được tôn trọng. Tác phẩm của ông đã thể hiện một chủ
nghĩa nhân văn cao cả, một chủ trương giáo dục đầy tinh thần dân chủ, yêu
thương, tôn trọng nhân phẩm của người học.
Việc nghiên cứu tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương
lai” sẽ góp phần làm sáng tỏ quan niệm cơ bản về giáo dục của Edgar Morin.
Đây cũng là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc làm nền tảng giải
quyết những vấn đề giáo dục nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Và việc
nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những quan điểm giáo dục của ông
là điều cần thiết.

Kể từ năm 2008, tác phẩm sau khi dịch ra tiếng Việt và được nhà xuất
bản Tri thức phát hành thì đã có những bài báo giới thiệu về tác giả và tác
phẩm có thể kể đến: Hội thảo về giáo dục với chủ đề “Edgar Morin và triết
học giáo dục” giới thiệu chân dung nhà triết học, nhân học Pháp E.Morin. Có
những phân tích về quan điểm giáo dục của ông.
Bài giới thiệu của Phạm Khiêm Ích về cuốn sách “Liên kết tri thức” do
Edgar Morin chủ biên (Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2005) với tiêu đề “Cải
cách giáo dục trước thách đố của thế kỷ XXI” đã nêu lên quan điểm giáo dục
của Edgar Morin thể hiện trong tác phẩm Liên kết tri thức. Bài giới thiệu khá
ngắn gọn về E. Morin trên báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
22/5/2008.
Bài viết của Phạm Khiêm Ích “Edgar Morin và triết học giáo dục”
đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội số 8/2008 trình bày quan điểm
về giáo dục của Edgar Morin một cách khái quát nhưng rất sâu sắc.

4


Tóm lại, về đề tài tư tưởng giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm
“Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”, hiện nay chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống. Tất cả các công trình đã biết mới dừng
lại ở đánh giá nói chung về tư tưởng giáo dục của ông hoặc giới thiệu cơ bản
về tác phẩm.
Việc làm rõ tư tưởng giáo dục của Edgar Morin sẽ là một cơ sở lý luận
rất tốt từ đó có thể đưa ra những giải pháp đúng đắn hướng tới đổi mới nền
giáo dục nước nhà. Do vậy, tôi mạnh dạn khai thác và tìm hiểu đề tài trên.
Tuy nhiên, với thời gian và hiểu biết còn hạn chế chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến phê bình, đóng góp
mang tính xây dựng để luận văn được hoàn thiện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

nhất của luận văn là: Nghiên cứu hệ thống hóa những tư tưởng cơ bản về giáo
dục của Edgar Morin trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục
tương lai”. Góp một phần nhỏ vào việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng giáo dục
của Edgar Morin.
Có thể làm tài liệu mang tính tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu
về giáo dục, triết học phương Tây hiện đại.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 9 tiết.

6


CHƢƠNG 1
NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG
GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Edgar Morin là một nhà triết học, xã hội học và nhân học nổi tiếng của
nước Pháp. Như ta đã biết, bất kỳ một triết gia của thời đại nào, khi xây dựng
tư tưởng của mình không thể tách rời thực tiễn đương thời, Edgar Morin cũng
không ngoại lệ. Ông luôn quan tâm đến các sự kiện, những cuộc tranh luận về
các vấn đề chính trị, khoa học, xã hội, giáo dục đương thời. Do vậy để tìm
hiểu tư tưởng của Edgar Morin nói chung cũng như tư tưởng giáo dục thể
hiện trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” nói
riêng một cách toàn diện và sâu sắc thì việc nghiên cứu điều kiện kinh tế, xã
hội, văn hóa theo nghĩa là cái nền cho sự ra đời của tác phẩm là cần thiết.
Về điều kiện kinh tế
Pháp là một quốc gia nằm tại Tây Âu, là nước lớn thứ ba ở châu Âu.
Trong hơn 500 năm qua Pháp là một quốc gia có ảnh hưởng văn hóa, kinh tế,
quân sự và chính trị mạnh mẽ ở châu Âu và trên toàn thế giới.

nhiễm môi trường, xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, tình trạng thất
nghiệp... Nước Pháp với vị thế cao trên thế giới đã thể hiện được tầm ảnh
hưởng của mình với những quốc gia khác.
Đồng thời dưới sức ép của nền kinh tế hội nhập toàn cầu và sự thay đổi
nhanh chóng của khoa học và công nghệ đòi hỏi các nước trong đó có Pháp
phải có sự thay đổi. Nói cách khác, cũng như các quốc gia khác nền kinh tế
Pháp đứng trước những thách thức mới của thời đại cần phải vượt qua.
Về chính trị - xã hội
Pháp là quốc gia có lịch sử lâu đời về truyền thống văn hóa, chính trị,
pháp luật đáng tự hào. Pháp cũng có lịch sử đầy biến động và phức tạo với
những biến cố chính trị to lớn.

8


Trong thế kỷ XX, một số bất ổn về kinh tế, xã hội bắt đầu xuất hiện mà
tiêu biểu là tình trạng quá tải tại các trường học do số lượng trẻ em ra đời
trong một vài thập niên trước đó quá cao, hay như những đợt vận động cho
quyền lợi phụ nữ, thêm vào đó là phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam
đang lan rộng tại các nước phương Tây. Nổ ra đầu tiên tại trường Đại học
Nanterre, sau đó lan nhanh đến các tổ chức công nhân. Cả nước Pháp như tê
liệt trong một tháng. Nước Pháp bước vào mùa hè với cuộc nổi dậy đòi tự do
dân chủ của giới trẻ mà đỉnh cao là biến cố tháng 5 năm 1968 với những cuộc
bãi khóa chiếm lĩnh các trường học và biến đường phố thành chiến lũy.
Trường Đại học danh tiếng Sorbonne phải đóng cửa lần đầu tiên trong lịch sử
700 năm hoạt động. 20 triệu công nhân đình công khiến chính quyền De
Gaulle lúc bấy giờ rơi vào khủng hoảng.
Lịch sử Pháp cận đại đã ghi nhận một loạt dữ kiện xảy ra vào tháng 5
năm 1968 mà ngày nay giới truyền thông và chính trị Pháp thường có thói
quen gọi là “những biến cố năm 68”.

học Pháp phản ánh tâm tư, hiện thực xã hội của đất nước này trong từng giai
đoạn, từ đó vẽ nên bức tranh toàn cảnh của xã hội châu Âu. Ngoài ra, nghệ
thuật Pháp còn phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực hội họa, điêu khắc, âm
nhạc. Tại Pháp có nhiều công trình kiến trúc cổ như thành phố Paris hay trung
tâm Troyes…
Marianne – biểu tượng của nước Pháp. Hiện diện khắp nơi trên nước
Pháp đây được xem là biểu tượng nổi bật nhất của cộng hòa Pháp. Là hình
ảnh bán thân của một người phụ nữ, cô còn thường được đội chiếc mũ
Phrygian – mang biểu tượng tự do.
Pháp nổi tiếng trên thế giới là một quốc gia có sự đa dạng dân tộc. Sau
đại chiến thế giới lần thứ hai, nước Pháp đã tiếp nhận rất nhiều dân di cư đến
từ các nước châu Phi, châu Âu, châu Á. Một mặt, người nhập cư giúp cho dân
số Pháp không bị già đi, thâm chí còn tăng lên, họ là nguồn nhân công cho
các lĩnh vực như xây dựng, nông nghiệp… (Tính đến hiện nay có gần 130
10


quốc tịch khác nhau sống trên đất Pháp). Một xã hội đa sắc tộc đã mang đến
cho nước Pháp một nền văn hóa đa dạng phong phú và người dân Pháp tự hào
về điều đó. Tuy vậy sự đa sắc tộc cùng với đa tôn giáo nêu trên cũng có thể
khiến nước Pháp rơi vào những nguy cơ về xung đột sắc tộc, hay nguy cơ
khủng bố…
Một điểm đáng lưu tâm là Pháp cổ động cho việc hình thành một thế
giới đa cực. Chủ trương ưu tiên vấn đề dân chủ, nhân quyền trong chính sách
đối thoại. Pháp đề cao các giá trị, nhân quyền và chủ trương tích cực đi đầu
trong việc khuyến khích và giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này.
Văn hóa bao gồm nhiều bộ phận, trong đó đời sống triết học là một bộ
phận quan trọng. Thế kỷ XVIII, nền văn minh Pháp và tiếng Pháp phát triển
rực rỡ ở châu Âu với kỷ nguyên ánh sáng và các nhà triết học nổi tiếng như
Montesqieu, Voltaire, Rousseau… Sang thế kỷ XIX, nước Pháp cùng với

qua nhiều thách thức lịch sử. Edgar Morin cũng nằm trong dòng chảy lịch sử
ấy, ông chịu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng trước đó. Edgar Morin đã kế
thừa, học hỏi ở họ và có những sáng tạo của riêng mình để cho ra đời những
quan niệm độc đáo về giáo dục.
1.2.1. Tư tưởng giáo dục của Wilhelm von Humboldt
Giai đoạn thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, các nền giáo dục phương Tây
lại một lần nữa đề ra những yêu cầu mới cho giáo dục. Đã xuất hiện nhiều tư
tưởng mới về giáo dục trong đó có Wilhelm von Humboldt (1767 - 1835).
Năm 1807, với hòa ước Tilsit, nước Phổ (một phần quan trọng của
nước Đức ngày nay) mất hết phần lãnh thổ phía đông; phần còn lại do quân
Pháp chiếm đóng, và phải cung phụng cho kẻ thắng trận. Đất nước tan nát,
dân chúng nghèo kiệt, đồng ruộng bỏ hoang. Trong tình cảnh ấy, Humboldt
đảm nhận trách nhiệm cải cách giáo dục, nhà nước hết sức chuyên quyền và
chỉ muốn lạm dụng nền giáo dục để đào tạo những thần dân trung thành, biết
vâng lời. Để ngăn chặn điều ấy, Humboldt đã ra sức đề xướng sự tự do học
thuật và phác thảo một cấu trúc hoàn toàn mới mẻ cho toàn bộ nền giáo dục.
12


Cấu trúc này đã phát huy tác dụng và còn đầy đủ tính thời sự cho đến ngày
nay và đó cũng chính là công lao lịch sử của Humboldt.
Humboldt vẫn tiếp tục yêu cầu học sinh ngồi yên, dành hàng giờ để học
cổ văn Hy Lạp. Ông cho rằng nước Phổ phải giương cao ngọn cờ giáo dục và
khoa học, phải cường tráng về tinh thần để được nước khác kính nể sau khi
chịu bại trận. Mất hết sức mạnh đối ngoại, càng phải thẳng lưng đứng dậy để
xây dựng sức mạnh từ bên trong.
Ông đã nói: “Người không có điều kiện học cao, ắt sẽ phải chìm sâu
vào trong đời sống thường ngày. Vì thế, càng cần phải trang bị kỹ lưỡng cho
họ cái “hình thức” tối thiểu để họ có thể thực sự thấm nhuần”. Cái “hình
thức” nói ở đây trái với cách hiểu quen thuộc ngày nay. Trong tư duy Hy Lạp

cá nhân. Humboldt tập trung vào việc huy động sức mạnh tinh thần và đạo
đức như là giải pháp duy nhất để cứu vãn tình thế.
Lý tưởng giáo dục của Humboldt xoay quanh từ Bildung. Nếu trước
đây, “giáo dục” thường gắn liền với “dạy dỗ” và “truyền đạt kiến thức” theo
cách hiểu thông thường thì từ Humboldt, nó mang nặng yếu tố “tự chủ”, tức là
sự tự đào luyện nhân cách. Humboldt minh họa giản dị như sau: Có những
kiến thức nhất định nào đó là điều ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, lại
càng phải có sự đào luyện những tâm thế và tính cách mà không ai được phép
thiếu cả. Mỗi người rõ ràng chỉ có thể trở thành một thợ thủ công, một doanh
nhân, binh sĩ hay công chức tài giỏi, khi người ấy trước hết là một con người
và là một công dân được khai minh, tốt lành và đàng hoàng, độc lập với nghề
nghiệp đặc thù của mình. Có được sự giáo dục cần thiết cho công việc này rồi,
thì người ấy về sau sẽ dễ dàng học lấy một nghề và bao giờ cũng có thể tha hồ
thay đổi nghề nghiệp như vẫn thường xảy ra trong cuộc sống.
Theo Humboldt, có sự khác biệt giữa giáo dục theo nghĩa thông thường
như là tiến trình điều chỉnh sự phát triển tri thức từ bên ngoài với bildung như
là tiến trình và kết quả của việc đào luyện nhân cách từ bên trong. Khác với
giáo dục hay dạy nghề, bildung không trực tiếp gắn liền với những mục đích
14


kinh tế, mặc dù nó là tiền đề cho việc hướng nghiệp. Hình ảnh một tam giác
đều nói lên ba phương diện của bildung bao trùm mọi ngành nghề và mọi cấp
học, đó là: Tri thức, tư duy và năng lực giao tiếp. Tri thức bao gồm những nội
dung học vấn, tư duy là các chiến lược khác nhau để mở rộng tri thức như giải
quyết vấn đề, mô tả, suy luận, lý giải… Còn năng lực giao tiếp là biết cách
làm cho người khác hiểu rõ luận điểm, tư tưởng, ý tưởng của mình, và ngược
lại chủ động đặt mình vào trong vị trí của tư tưởng của người khác.
Humboldt xem nhiệm vụ quan trọng của nhà nước là đảm bảo an ninh
và tích cực hỗ trợ nhưng không can thiệp quá sâu vào việc giáo dục. Ông đã

này kiên quyết không nhượng bộ trước áp lực của mọi thế lực chính trị và
kinh tế, khẳng định nhiệm vụ then chốt của nhà trường là “đào tạo con người
còn nhỏ trở thành con người trưởng thành. Yêu cầu này rõ ràng bị thực tế thử
thách gắt gao.
Một tâm điểm khác trong lý tưởng giáo dục của Humboldt là quan
niệm rằng con người là sinh vật nỗ lực học tập và làm việc suốt đời. Vì thế,
việc đào luyện con người là một tiến trình không kết thúc và không thể dừng
lại giữa đường. Chính xã hội thông tin và tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng chưa
từng có ngày nay đã giúp cho lý tưởng này trở thành nhu cầu thường trực.
Những kiến thức thu hoạch được lúc còn trẻ và trong nhà trường nhanh chóng
lạc hậu, khiến người ta khó đứng vững trong môi trường lao động và nghiên
cứu mà không tiếp tục học hỏi và đổi mới kiến thức.
Trước sau, ông chỉ có một mong mỏi: nhà trường phải thực sự là nơi
hiện thân của ý niệm, của lý tưởng, nơi đó Tinh thần có thể được đào luyện
trong sự an tĩnh và thanh khiết. Trước mọi sự xô bồ và khắc nghiệt của cuộc
sống, nhà trường cần phải là cái đối ứng, thậm chí, cái đối cực để nuôi dưỡng
lý tưởng, không để lý tưởng bị sa đọa và suy kiệt. Hãy để cho tuổi trẻ học
được cách làm chủ bản thân mình và không bao giờ chịu làm nô lệ, kể cả làm
nô lệ cho nghề nghiệp và cơm áo.

16


Tóm lại, xung quanh lý tưởng, triết lý và mô hình giáo dục của
Humboldt tuy vẫn còn những tranh luận nhưng có thể khẳng định chúng có
ảnh hưởng to lớn đối với nền giáo dục hiện đại.
1.2.2. Tư tưởng của J.Dewey về dân chủ và giáo dục
Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục của John Dewey (1859 1952) đã bao trùm đời sống tri thức Mỹ, ảnh hưởng to lớn nền giáo dục Mỹ
suốt thế kỷ XX. Ông có tác phẩm nổi tiếng “Dân chủ và giáo dục” được đón
nhận và gây tiếng vang trên thế giới. Lý thuyết về kinh nghiệm phải được

Trong triết lý giáo dục của John Dewey, tư tưởng khoa học đã làm cơ sở
thật vững chắc để ông tiến tới tư tưởng dân chủ trong giáo dục - một triết lý
gắn với thực tiễn của thời đại, đồng thời là một triết lý tiến bộ nói lên được
khát vọng nhân văn to lớn, sâu xa của loài người. Ông đã viết: “Trong một thế
giới bị cuốn vào cuộc chạy đua điên rồ và thường là tàn nhẫn vì lợi ích vật
chất bằng sự cạnh tranh liên tục, thì trường học phải có trách nhiệm bằng nỗ
lực có tổ chức một cách thông minh và bền bỉ để trên hết phải phát triển ý chí
hợp tác và tinh thần biết nhận ra ở mọi cá nhân khác một con người có quyền
bình đẳng chia sẻ những thành quả văn hóa và vật chất của sự sáng tạo tập
thể, của nền công nghiệp, của kỹ năng và tri thức của con người. Mục tiêu tối
cao về trí tuệ và nhân cách này là có tính tất yếu vì những lý do khác chứ
không phải là để bù đắp cho cái tinh thần vô nhân đạo sinh ra từ sự cạnh tranh
kinh tế và bóc lột” [8, tr. 66]. “Một xã hội không đáng hoan nghênh là một xã
hội đặt ra bên trong và bên ngoài nó những rào cản ngăn chặn sự giao tiếp và
truyền đạt kinh nghiệm một cách tự do. Một xã hội cho phép mọi thành viên
chia sẻ bình đẳng lợi ích của nó và điều chỉnh linh hoạt các thiết chế dựa vào
mối quan hệ tương giao của các hình thái tồn tại liên kết khác nhau, xã hội ấy
cho tới nay được gọi là dân chủ. Với tính chất như thế, một xã hội phải có
một kiểu giáo dục giúp cho các cá nhân có được mối hứng thú riêng tới các
quan hệ xã hội và kiểm soát xã hội, và tạo ra những thói quen tinh thần có thể
duy trì những thay đổi xã hội mà không gây nên sự hỗn loạn”. [7, tr. 126]
18


Chúng ta có thể thấy khoa học và dân chủ là hai nội dung lớn duy nhất
có mối quan hệ biện chứng với nhau bao trùm trong triết lý giáo dục của John
Dewey. Tinh thần khoa học và dân chủ thấm nhuần, chi phối mọi khía cạnh
nội dung lý luận giáo dục của John Dewey, tạo nên tính nhất quán của triết lý
giáo dục của ông. Triết lý ấy hóa thân vào các nội dung lý luận giáo dục sinh
động, đa dạng thể hiện qua nhiều công trình khá đồ sộ mà John Dewey đã

phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa, mà chính là một thành viên
trong cộng đồng lớp học. Giáo viên có nhiệm vụ là môt tác nhân kích thích.
Bằng việc cung cấp vật liệu, tổ chức, gợi ý, hướng dẫn giáo viên có thể tạo ra
một môi trường khuyến khích sự học tập. Muốn như vậy giáo viên phải là một
chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện.
Nội dung của giáo dục phải phản ánh được sự phát triển của loài người,
nội dung phải mang tính tăng tiến. Chương trình học phải hiện đại song hành
với sự phát triển của loài người. Phương pháp giáo dục phải gắn chặt với đối
tượng, nội dung giáo dục. Phương pháp ở đây là phương pháp của năng lực và
hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là
phương pháp của người lớn (những người đã trưởng thành). Phương pháp là
sự trình bày rõ ràng biện pháp triển khai nội dung của một kinh nghiệm đang
diễn ra để nó đem lại hiệu quả và kết quả nhiều nhất. Bởi vậy mà không thể
tách rời phương pháp pháp giáo dục ra khỏi nội dung giáo dục.
1.2.3. Quan điểm giáo dục của Albert Einstein
Albert Einstein (1879 - 1955) là nhà bác học thiên tài người Mỹ gốc
Đức. Sinh thời ông cũng từng là giáo sư đại học, thể hiện mối quan tâm đến
việc giáo dục thế hệ trẻ qua nhiều bài viết và diễn văn. Với tầm nhìn của một
nhà khoa học lớn cùng tấm lòng nhân hậu, Einstein đã phát biểu những tư
tưởng của mình về một nền giáo dục căn bản cho xã hội hiện đại. Những tư
tưởng đó được đăng rải rác ở nhiều nơi, chủ yếu vào những năm cuối đời và
tập trung hơn cả là bài phát biểu của ông tại Albany, NewYork ngày
15/10/1936 nhân kỷ niệm 300 năm giáo dục Hoa Kỳ.
20


Khi đánh giá vai trò của nhà trường trong xã hội, Einstein cho rằng
“Nhà trường luôn là phương tiện quan trọng nhất trong việc chuyển tải những
giá trị truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay, do sự phát triển
hiện đại của đời sống kinh tế, gia đình vốn là người mang giữ truyền thống và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status