ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________
TRẦN HỒNG NHUNG
THIẾT CHẾ TỔ CHỨC, QUẢN LÍ VÀ TỆ NẠN
CƢỜNG HÀO Ở LÀNG XÃ VÙNG ĐỒNG BẰNG
BẮC BỘ THẾ KỈ XVIII-XIX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________
TRẦN HỒNG NHUNG
THIẾT CHẾ TỔ CHỨC, QUẢN LÍ VÀ TỆ NẠN
CƢỜNG HÀO Ở LÀNG XÃ VÙNG ĐỒNG BẰNG
BẮC BỘ THẾ KỈ XVIII-XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:
62 22 03 13
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Nguyễn Quang Ngọc, thầy đã luôn động viên khích lệ và định hƣớng những vấn đề
khoa học để tôi triển khai trong bản luận án tiến sĩ này.
Nhân đây, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
chia sẻ, giúp đỡ, cung cấp tƣ liệu và nhiều thông tin hữu ích cho việc thực hiện luận
án. Xin đƣợc cảm ơn các thầy cô Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nƣớc- Trƣờng
Đại học Luật Hà Nội, nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình hoàn thành luận án. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào tạo
Sau Đại học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã tận tình hƣớng dẫn quy trình thực hiện và hồ sơ luận án.
Xin đƣợc gửi lời biết ơn và cảm tạ đến bố mẹ và gia đình tôi- đã ủng hộ, quan
tâm, và là chỗ dựa vững chắc giúp tôi có thêm động lực phấn đấu và quyết tâm hoàn
thành luận án.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................6
4. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu .................................................................................6
5. Hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu .................................................7
6. Đóng góp của luận án .......................................................................................9
7. Cấu trúc luận án..............................................................................................9
CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ..................................................................................................10
1.1. Nghiên cứu về làng Việt nói chung ..........................................................10
1.1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu ..............................................................10
1.1.2. Những thành tựu và hạn chế ..............................................................19
1.2. Nghiên cứu về làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII- XIX ......21
XVIII-XIX. .......................................................................................................95
Tiểu kết chương 3 ...................................................................................................104
CHƢƠNG 4:NẠN CƢỜNG HÀO LÀNG XÃ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘTHẾ
KỈ XVIII-XIX: THỰC TRẠNG, HỆ QUẢ VÀ NGUYÊN NHÂN ...................106
4.1. Thực trạng của nạn cƣờng hào ở làng xã đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ
XVIII-XIX. ........................................................................................................106
4.1.1. Khái niệm, thành phần cường hào .....................................................106
4.1.2. Biểu hiện của nạn cường hào .............................................................108
4.2.Hệ quả của nạn cƣờng hào làng xã thế kỉ XVIII-XIX.............................122
4.2.1. Đối với đời sống người nông dân. .....................................................122
4.2.2. Đối với nhà nước. ..............................................................................124
4.3. Nguyên nhân của tệ nạn cƣờng hào ở làng xã đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ
XVIII-XIX .........................................................................................................126
4.3.1. Nguyên nhân kinh tế ...........................................................................127
4.3.2. Nguyên nhân chính trị ........................................................................131
4.3.3. Nguyên nhân xã hội ............................................................................133
4.3.4. Nguyên nhân văn hóa .........................................................................135
4.3.5. Nguyên nhân lịch sử ...........................................................................137
Tiểu kết chương 4 ...................................................................................................140
KẾT LUẬN ............................................................................................................142
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ...............................................................................................................149
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................150
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ ruộng công và ruộng tƣ ở một số làng thuộc châu thổ sông
Hồng đầu thế kỉ XIX……………………………………………………..……….44
và ảnh hƣởng của nó đến đời sống chính trị hiện nay. Từ cuối những năm 80 đầu
những năm 90, khi nông thôn Việt Nam bƣớc vào thời kỳ đổi mới,cùng với sự
khẳng định lại vị trí của hộ gia đình, làng thôn cũ – với tính cách là cộng đồng dân
cƣ gắn kết truyền thống cũng dần đƣợc tái lập. Các yếu tố và thiết chế làng truyền
thống do đó cũng có điều kiện phục hồi: nhƣ đình, chùa đƣợc trùng tu và xây mới,
lễ hội đƣợc tổ chức lại, sinh hoạt dòng họ đƣợc tái sinh, các hội- tổ chức hợp tác
trong kinh tế- xã hội xuất hiện ngày càng nhiều,hƣơng ƣớc đƣợc tái biên rộng rãi.
Các mặt tích cực trong hoạt động thôn làng nhƣ các thiết chế tự quản và văn hóa, tín
ngƣỡng đƣợc đẩy mạnh, nhƣng đồng thời các yếu tố tiêu cực cũng đƣợc dịp trỗi
dậy. Sự gắn kết dòng họ trong những năm gần đây có khuynh hƣớng chặt chẽ và ý
thức dòng họ trong mỗi cá nhân ngày một sâu đậm hơn. Các quy ƣớc dòng họ, lập
quỹ khuyến học hƣớng con cháu rèn tập những truyền thống đạo đức tốt đẹp, đề cao
tinh thần hiếu học, lập gia phả góp phần nâng cao ý thức cội nguồn…Tuy nhiên,
bên cạnh những mặt tích cực đó thì sự phục hồi trỗi dậy của quan hệ dòng họ cũng
đặt ra nhiều vấn đề phức tạp. Đó là các hiện tƣợng “chi bộ của họ”, “chính quyền
1
của họ”, hạn chế dân chủ và công bằng xã hội, làm giảm hiệu lực của pháp luật.
Hƣơng ƣớc, quy ƣớc ngày càng khẳng định đƣợc vị trí, vai trò trong việc xây dựng,
thực hiện nếp sống văn minh, thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự quản và
truyền thống, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cƣ qua đó góp phần đƣa pháp
luật, chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, vẫn tồn tại
một số hƣơng ƣớc, quy ƣớc có nội dung trái pháp luật, xâm phạm hoặc hạn chế
quyền con ngƣời, quyền công dân. Thậm chí, ở nhiều nơi, hƣơng ƣớc biến tƣớng
thành một thứ “lệ làng” tùy tiện của các trƣởng thôn, chủ tịch xã quan liêu, hách
dịch, thiếu hiểu biếtđặt ra bắt dân phải tuân theo.
Nạn cƣờng hào- một di sản tiêu cực của thiết chế làng truyền thống- đang
vấn đề nổi cộm ở nhiều làng quê. Theo thống kê của Thanh tra Bộ tài nguyên môi
tính tự trị, tự quản đậm nét xét ở góc độ tiêu cực lại là môi trƣờng sản sinh dung
dƣỡng tệ cƣờng hào và ngƣợc lại tệ cƣờng hào củng cố một cách sâu sắc hơn chế độ
xã thôn tự trị, khiến cho các chính sách của nhà nƣớc bị vô hiệu hóa, đời sống ngƣời
nông dân thêm điêu đứng, bần cùng. Trong hai thế kỉ cuối cùng của chế độquân
chủ phong kiến Việt Nam, tệ nạn này đã bùng phát một cách mạnh mẽ gây nên
nhiều hệ quả nghiêm trọng. Bàn về nạn cƣờng hào trong quá khứ, một số công trình
đã chỉ ra thành phần cƣờng hào, biểu hiện của nó và bƣớc đầu lí giải về những căn
nguyên sản sinh ra tệ nạn này. Tuy nhiên, vẫn còn một số quan điểm còn chƣa thực
sự chính xác cũng nhƣ cần thêm sự bổ sung về mặt tƣ liệu để nhìn nhận hiện tƣợng
này một cách toàn diện, hệ thống hơn. Những kiến giải về nguyên nhân nảy sinh và
phát triển mạnh mẽ tệ nạn này trong hai thế kỉ XVIII-XIX cũng cần đƣợc phân tích
ở nhiều góc độ, không chỉ quy kết hoàn toàn cho chính sách của nhà nƣớc phong
kiến mà cần khai thác ở các bình diện khác nhƣ kinh tế, xã hội, văn hóa của làng xã.
Mối quan hệ giữa thiết chế tổ chức, quản lí và tệ nạn cƣờng hào cũng cần đƣợc làm
rõ để trên cơ sở đó nhận diện và chỉ ra đúng bản chất của tệ cƣờng hào trong quá
khứ và hiện tại.
Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn trên, nghiên cứu về thiết
chế tổ chức, quản lí làng xã và tệ nạn cƣờng hào vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thế
kỉ XVIII-XIX góp phần đƣa tới những nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn về làng
xã và xác lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách nhằm nâng cao hiệu
quả quản lí cấp chính quyền cơ sở ở Việt Nam hiện nay.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trƣớc hết, luận án chọn đối tƣợng nghiên cứu là thiết chế tổ chức, quản lí
của làng xã cổ truyền, tức là đi sâu tìm hiểu những quy định gồm cả luật pháp và tục
lệ về cơ cấu tổ chức, mối liên hệ cùng sự vận hành của bộ máy quản lí và các thiết
chế dân sự bên trong làng xã. Luận án tập trung nghiên cứu thiết chế tổ chức, quản
lí của làng xã ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ bởi lẽ trong lịch sử, đồng bằng Bắc Bộ
luôn là vùng kinh tế, chính trị, văn hóa trọng yếu của đất nƣớc, là cái nôi của nền
văn minh lúa nƣớc Việt Nam. Làng xã cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ có lịch sử
phát triển lâu đời, mang những đặc trƣng tiêu biểu nhất của làng xã Việt Nam.
Luận án giới hạn phạm vi thời gian trong hai thế kỉ XVIII-XIX (từ những
năm 30 của thế kỉ XVIII đến năm 1884) bởi đây là hai thế kỉ cuối cùng của nền
quân chủ phong kiến Việt Nam với nhiều bƣớc thăng trầm của lịch sử. Từ những
năm 30 của thế kỉ XVIII, chế độquân chủ phong kiến có dấu hiệu khủng hoảng đánh
dấu bởi sự suy yếu của chính quyền trung ƣơng, sự thu hẹp đáng kể ruộng đất công
đồng thời là quá trình tƣ hữu hóa ruộng đất ngày càng mở rộng, nạn xiêu tán và
khởi nghĩa nông dân trở thành hiện tƣợng phổ biến gây nên những bất ổn nghiêm
trọng trong đời sống chính trị, xã hội. Tình trạng này tiếp tục phổ biến cho đến
4
những năm cuối của thế kỉ XVIII. Đến đầu và giữa thế kỉ XIX, đặc biệt dƣới triều
đại Minh Mệnh, thể chế nhà nƣớc tập quyền đƣợc phát triển đến đỉnh cao, trên
nhiều phƣơng diện đã có những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, từ sau thời kì của
Minh Mệnh đến năm 1884, nhà nƣớcquân chủ phong kiến lại lâm vào khủng hoảng
trầm trọng khiến cho đất nƣớc rơi vào ách nô dịch, áp bức của chủ nghĩa thực dân.
Những thăng trầm và khúc quanh của lịch sử trong giai đoạn này đã in đậm dấu ấn
và tác động mạnh mẽ đến làng xã. Mô hình quản lí làng xã đƣợc xác lập dƣới thời
kì của Lê Thánh Tông đến đây đã bị xáo trộn. Thiết chế tổ chức, quản lí của làng xã
cũng có những thay đổi để thích nghi với thời cuộc nhƣng những mâu thuẫn và mặt
trái của nó lại có điều kiện phát tác khi chính sách của nhà nƣớc tỏ ra kém hiệu quả
mà tệ nạn cƣờng hào là một minh chứng.
Tệ nạn cƣờng hào- một sản phẩm của thiết chế tổ chức, quản lí làng xã
truyền thống là đối tƣợng nghiên cứu thứ hai của luận án. Cần nhận thấy rằng,
“cƣờng hào” ban đầu không mang một nghĩa tiêu cực, đƣợc dùng để chỉ những hào
trƣởng (hào) có thế lực mạnh (cƣờng) và có sức ảnh hƣởng mạnh mẽ. Lịch sử dân
tộc đã từng biết đến những hào trƣởng là những anh hùng của dân tộc hoặc là những
ngƣời ƣu tú, tinh hoa ở làng xã với nhiều đóng góp cho làng xã và nhà nƣớc. Thế kỷ
X có nhiều hào trƣởng mạnh, cai quản một vùng rộng lớn, nhƣ Khúc Thừa Dụ,
cƣờng hào làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ trong hai thế kỉ XVIII-XIX cùng những tác
động, hệ quả của nó đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đồng thời đƣa ra những
kiến giải một cách hệ thống, nhiều chiều về căn nguyên sâu xa làm nảy sinh và phát
triển mạnh mẽ tệ nạn này.
Thứ ba, trên cơ sở những liên hệ, so sánh với thực tiễn nông thôn mới hiện
nay, luận án đúc kết một số kinh nghiệm góp phần quản lí hiệu quả chính quyền cấp
cơ sở, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và cuộc đấu
tranh chống vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
4. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu
Đây là đề tài có tính chất tổng hợp, do vậy, các nguồn tƣ liệu liên quan đến
luận án đƣợc tập hợp, hệ thống hóa và khai thác một cách tối đa có thể. Đó là các
nguồn tƣ liệu chủ yếu sau:
- Các bộ sử biên niên nhƣ Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Việt sử kí tục biên,
Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục… có ghi chép về tình
hình ruộng đất, dân số, thực trạng đời sống nông dân làng xã, những chỉ dụ của nhà
vua để tổ chức và quản lí làng xã…Tuy những ghi chép trong sách sử loại này rất
tản mạn nhƣng là thông tin trực tiếp và có giá trị. Khi đƣợc tập hợp, xử lí một cách
hệ thống sẽ đem lại những nhận thức khoa học có độ tin cậy cao.
- Các bộ sử của tƣ nhân: Lịch triều tạp kỉ của Ngô Cao Lãng, Quốc sử di
biên của Phan Thúc Trực…cung cấp thêm những tƣ liệu quý báu cho đề tài luận án
đặc biệt là về nạn cƣờng hào làng xã.
- Các bộ hội điển, điển chế, pháp luật cổ Việt Nam là những tƣ liệu quan
trọng cung cấp những thông tin trực tiếp liên quan đến những chính sách tổ chức,
quản lí làng xã của nhà nƣớc. Loại này gồm: Lê triều chiếu lệnh thiện chính, Quốc
6
triều khám tụng điều lệ, Hoàng Việt luật lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại
Nam điển lệ toát yếu, Minh Mệnh chính yếu…
7
phƣơng pháp phân tích định lƣợng… Xin tập trung nhấn mạnh vào một số phƣơng
pháp chủ yếu sau đây:
- Phƣơng pháp hệ thống- cấu trúc: đây là một trong những phƣơng pháp đƣợc
các học giả sử dụng phổ biến hiện nay khi nghiên cứu làng xã. Vận dụng phƣơng
pháp này cần mô tả và làm rõ các dạng thức tổ chức quản lí và xã hội ở làng xã
trong hai thế kỉ XVIII-XIX, sự vận hành và mối quan hệ tƣơng tác giữa các thiết
chế, và cả các mối liên hệ bên trong của từng thiết chế.
- Phƣơng pháp mô hình hóa: sử dụng các kết quả nghiên cứu của luận án về
thiết chế tổ chức, làng xã trong hai thế kỉ XVIII, XIX chúng tôi đã xây dựng các sơ
đồ về mô hình tổ chức ở làng xã bao gồm thiết chế quan phƣơng và phi quan
phƣơng ở làng xã qua đó thấy đƣợc những tƣơng đồng và khác biệt về mô hình tổ
chức ở làng xã trong hai thế kỉ.
- Phƣơng pháp phân tích định lƣợng: phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhiều
trong luận án nhằm xử lí các tƣ liệu để tìm ra khuynh hƣớng và đặc trƣng. Luận án
đã cố gắng lƣợng hóa các thông tin để đƣa lại những nhận thức mới. Ví dụ: để có
hình dung tƣơng đối rõ nét về làng xã trong hai thế kỉ XVIII-XIX, luận án đã thống
kê về số lƣợng, quy mô, diện tích, dân số của đơn vị hành chính cơ sở qua các sách
về địa chí trong hai thế kỉ này (Các tổng trấn xã danh bị lãm, Đại Nam nhất thống
chí, Đồng Khánh địa dư chí). Luận án cũng thống kê các tƣ liệu về tổ chức, quản lí
trong làng xã và nạn cƣờng hào trong chính sử, sử tƣ nhân (Đại Việt sử kí tục biên,
Lịch triều tạp kỉ, Đại Nam thực lục) mở rộng ra là những thống kê trong văn bản
pháp luật (Quốc triều hình luật,Quốc triều khám tụng điều lệ, Hoàng Việt luật lệ,
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam điển lệ toát yếu). Các tƣ liệu địa
phƣơng (hƣơng ƣớc, địa bạ, văn bia…) cũng đƣợc tập hợp và khai thác triệt để hơn
nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong luận án.
- Phƣơng pháp so sánh đồng đại và lịch đại: đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng
lập, tự trị của làng xã trong từng thời kì lịch sử.
- Kết quả của luận án không chỉ góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm, biểu
hiện của thiết chế tổ chức quản lí và mối quan hệ của nó với nạn cƣờng hào làng xã
thế kỉ XVIII-XIX mà còn cung cấp thêm những luận cứ khoa học góp phần vào
công cuộc xây dựng và quản lý nông thôn mới, xây dựng chính quyền cơ sở trong
sạch, vững mạnh trong giai đoạn hiện nay.
7. Cấu trúc luận án
Nội dung chính của luận án đƣợc triển khai thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Chƣơng 2: Bối cảnh làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII-XIX.
Chƣơng 3: Thiết chế tổ chức, quản lí của làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thế
kỉ XVIII-XIX.
Chƣơng 4: Tệ nạn cƣờng hào ở làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ
XVIII-XIX- thực trạng, nguyên nhân và hệ quả.
9
CHƢƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀILUẬN
ÁN
1.1.
Nghiên cứu về làng Việt nói chung
1.1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu
Có thể thấy, ít có đề tài khoa học nào lại đƣợc nghiên cứu lâu dài, rộng rãi và
toàn diện nhƣ đề tài làng xã. Bởi vì làng xã Việt Nam- nổi bật với những nét độc
đáo và vị trí quan trọng của nó, mà nếu không hiểu đƣợc, ngƣời ta sẽ không thể hiểu
đƣợc kết cấu của xã hội Việt Nam, văn hóa và văn minh Việt Nam, không thể hiểu
Nguyễn Hồng Phong (Hà Nội, 1959); Làng xóm Việt Nam của Toan Ánh (Sài Gòn,
1968)... Tập sách đƣợc coi là công trình “sơ kết những thành tựu nghiên cứu về làng
xã Việt Nam” cho đến cuối những năm 1970 là Nông thôn Việt Nam trong lịch sử
của Viện Sử học. Cuốn sách nghiên cứu về làng xã Việt Nam một cách cơ bản và
đƣợc coi là mẫu mực cho đến trƣớc Đổi mới là cuốn Cơ cấu của tổ chức làng Việt
cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ (Hà Nội, 1984).
Trong giai đoạn này, các công trình mặc dù đã khai thác các góc độ khác
nhau của làng xã (sở hữu ruộng đất, cơ cấu tổ chức, văn hóa, nông dân, nông
nghiệp…), đƣợc tiến hành liên tục qua các thế kỉ, các chế độ khác nhau nhƣng “đều
mang nặng dấu ấn của chính sách nhà nƣớc cũng nhƣ một cách nhìn chung chung
và có lợi cho một giới nào đó” [98; tr. 17]. Đồng thời cũng có nhiều quan điểm,
tranh luận xoay quanh các vấn đề nhƣ: làng xã đóng kín hay cởi mở; nông thôn Việt
Nam trƣớc năm 1945 có phải là chế độ phong kiến hay không, khái niệm thế nào là
“cộng đồng làng xã”. Nhiều nghiên cứu xuất phát từ việc coi tính tự trị, năng lực tự
quản và kết cấu chặt chẽ là đặc trƣng nổi bật của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng
Bắc Bộ và đề cao khái niệm “cộng đồng làng - xã” đã dẫn đến việc “mô tả làng xã
nhƣ một cộng đồng đóng kín, mang tính hƣớng nội và đƣợc định hƣớng sâu sắc bởi
truyền thống. Ở đó, mỗi ngƣời đều cố gắng hòa nhập vào cộng đồng hay gắn bó với
cộng đồng. Cơ cấu xã hội của làng vì vậy đƣợc coi là một tập thể hoàn hảo, có
những chức năng kì diệu, ở đó tƣ cách đạo đức của cộng đồng thay cho mỗi cá nhân
trong làng [9, tr 21].
b. Nghiên cứu về làng Việt từ những năm đầu của thập kỉ 80 đến nay.
Những năm đầu của thập kỉ 80 đã đánh dấu một bƣớc đổi mới trong công tác
nghiên cứu về làng xã không chỉ đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam mà còn đối
với các học giả nƣớc ngoài. Nhiều hội thảo, đề tài cấp nhà nƣớc về làng xã đƣợc
thực hiện. Hàng chục cuốn sách chuyên khảo về kinh tế - xã hội làng xã, về kinh
nghiệm tổ chức và quản lí làng xã, về văn hóa dân gian, văn hóa xóm làng, về các
loại hình làng ở khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam đƣợc xuất bản. Có thể nêu tên
một số cuốn sách tiêu biểu nhƣ: Phan Đại Doãn, Mấy vấn đề về văn hoá làng xã
Việt Nam trong lịch sử (Hà Nội, 2004); Phan Đại Doãn, Làng Việt Nam đa nguyên
Có thể thấy, làng và các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa trong làng
Việt nói riêng và ở khu vực châu Á nói chung từ lâu đã là đối tƣợng nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học. Ở khu vực đồng bằng sông Hồng, kể từ khi Đổi mới, làng và sự
biến đổi nhiều mặt của nó tiếp tục đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các
học giảtrong và ngoài nƣớc với các hƣớng nghiên cứu khác nhau đƣa ra những cách
nhìn đa chiều hơn về làng xã. Nguyễn Văn Sửu đã khái quát ba hƣớng hƣớng
nghiên cứu chủ yếu về làng Việt: tiếp cận dƣới góc độ lịch sử; tiếp cận dƣới góc độ
chủ thể làng và tiếp cận dƣới góc độ khu vực hoc [161]. Chúng tôi cho rằng cần bổ
sung thêm hƣớng nghiên cứu làng xã dƣới góc độ so sánh loại hình. Các công trình
tiêu biểu cho từng hƣớng nghiên cứu nhƣ:
12
Thứ nhất, nghiên cứu làng xã dƣới góc độ lịch sử: là hƣớng tiếp cận chiếm số
lƣợng lớn tài liệu nghiên cứu về làng Việt với các tác giả tiêu biểu nhƣ Phan Đại
Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Lƣơng Văn Hy, Bùi Xuân
Đính…nhằm chỉ ra sự vận động, biến đổi và những đặc trƣng của làng Việt trong
tiến trình lịch sử. Nghiên cứu về làng Việt thế kỉ XVIII-XIX, Trần Từ đã khái quát
các đặc điểm về kinh tế, xã hội của làng Việt đó là sự tồn tại lâu dài của chế độ
ruộng đất công, mức độ phân hóa xãhấp và một xã hội tiểu nông. Dựa trên việc
phân tích các đặc trƣng cơ bản về cơ sở kinh tế- xã hội của làng xã truyền thống, tác
giả khái quát các loại hình tổ chức cơ bản của làng xã cổ truyền dựa trên các tiêu chí
tập hợp ngƣời theo địa vực, theo huyết thống, theo lớp tuổi, theo quyền lực…
Sang thời cận, hiện đại, làng xã Việt Nam có nhiều biến đổi. Nghiên cứu
làng Việt thời kì thuộc địa, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra các thiết chế làng
truyền thống không những không bị giải thể trƣớc công cuộc đô hộ của thực dân
Pháp mà trái lại thực dân Pháp đã lợi dụng đƣợc truyền thống quản lý làng xã của
ngƣời Việt thông qua hƣơng ƣớc, khôn khéo đƣa luật pháp của nhà nƣớc bảo hộ vào
lệ làng, lệ làng hoá phép nƣớc, khuôn tất cả các hƣơng ƣớc vào một khuôn mẫu
trong đời sống làng xã. Những yếu tố bất biến đó có những lúc chìm đi nhƣng
không bao giờ mất hẳn, mà luôn chờ cơ hội để nổi lên chiếm giữ vai trò chủ đạo. Từ
việc hƣớng nghiên cứu của mình vào mối quan hê thân tộc và vai trò của các dòng
họ đối với sự thành đạt cá nhân, đời sống tinh thần và nghi lễ, tính tự trị và tính cố
kết của làng,…tác giả đã mang lại những gợi ý cho việc xây dựng các chính sách
phù hợp với đời sống làng xã.
Hƣớng nghiên cứu thứ hai tập trung khai thác và lí giải về hành vi, thái độ
của những ngƣời kiến tạo nên làng- gọi là những chủ thể làng- với 3 trƣờng phái
chính: tiếp cận “Nền kinh tế đạo đức” của Jame Scott, “Ngƣời nông dân duy lí” của
Samuel Popkin và “Chính trị hàng ngày” của Ben Kerkvliet [161]. Mở đầu cho
hƣớng nghiên cứu này là công trình của Scott, “The Moral Economy of the Peasant:
Rebellion and Subsistence in Southeast Asia” [Kinh tế đạo đức của nông dân: Sự
phản kháng và sinh tồn ở Đông Nam Á] (1976). Với công trình của mình (đƣợc
đánh giá là tạo cảm hứng cho những tranh luận kéo dài nhiều thập niên qua của các
nhà nghiên cứu trên thế giới về nguyên nhân dẫn đến các hành động tập thể mang
tính phản kháng của nông dân châu Á), Scott nhấn mạnh rằng nguyên tắc “an toàn
trên hết” đã khiến ngƣời nông dân tìm cách phòng tránh rủi ro hơn là tìm cách tối đa
hóa lợi ích. Họ mong muốn một cuộc sống dù ở mức thấp nhƣng an toàn còn hơn là
cuộc sống có thu nhập cao nhƣng lại chứa đầy sự rủi ro.Trong đời sống, chỉ một rủi
ra hay hoạn nạn nhỏ cũng dễ làm cho ngƣời nông dân và gia đình họ lâm vào cảnh
đói kém. Vì thế họ luôn tìm cách tránh rủi ro trong sản xuất, không thích mua và
bán, không thích kinh tế thị trƣờng vì hàm ẩn nhiều rủi ro. Họ do dự đầu tƣ và đổi
mới phƣơng thức canh tác. Họ đã biến làng trở thành một đơn vị kinh tế tự trị - khép
kín, cái mà họ hi vọng có thể đảm bảo sự sinh sống tối thiểu dựa trên các nguồn lực
dự trữ và sự đùm bọc giữa các thành viên của làng. Tuy nhiên, tác động duy lí của
14
nhà nƣớc thực dân qua việc hiện đại hóa nông nghiệp đã làm tổn hại đến thiết chế
and Case [Thấu hiểu cuộc cách mạng của nông dân: Từ khái niệm đến lí thuyết và
trƣờng hợp cụ thể] (2000)… [32]
15
Các ý kiến tựu trung có thể xếp thành ba loại sau: phản đối quan điểm của
Scott, tán thành quan điểm của Scott, và trung hòa quan điểm của Scott với quan
điểm của Popkin. Tƣơng ứng với chúng cũng là những cách nhìn nhận khác nhau về
bản chất của ngƣời nông dân: duy tình, duy lí và đan xen giữa tình và lí.Kerkvliet là
ngƣời dung hòa hai quan điểm “duy tình” và “duy lí” trong các phân tích về ngƣời
nông dân trong và sau tập thể hóa nông nghiệp ở Việt Nam. Ngƣời nông dân có thể
và thƣờng có cả hai định hƣớng trên tùy vào từng hoàn cảnh. Ông nêu lên thuyết
“chính trị hàng ngày” với sự tồn tại song hành của hợp tác và mâu thuẫn giữa những
ngƣời có quyền và những kẻ phụ thuộc. Những ngƣời phụ thuộc thƣờng đòi hỏi các
quyền cơ bản: quyền đƣợc sống ở một mức độ khiêm tốn và quyền đƣợc đối xử nhƣ
một con ngƣời. Khi không đƣợc đáp ứng các quyền này họ thực hiện các hành vi
“phản kháng hàng ngày”. “Đó là thứ vũ khí của kẻ yếu, là cuộc đấu tranh bình
thƣờng nhƣng liên tục của nông dân đối với những kẻ tìm cách khai thác lao động,
lƣơng thực, thuế hay các loại phí và lợi nhuận từ phía họ. Hầu hết các hoạt động
phản kháng hàng ngày không phải là những hoạt động công khai, có tổ chức hay
mang tính tập thể mà đó là hành động cá nhân, vì lợi ích cá thể, không cần hay có
rất ít sự phối hợp, tránh đối kháng trực tiếp với chính quyền hay các chuẩn mực của
tầng lớp ƣu tú” [ 161; tr 4]. Thông qua hành vi chính trị hàng ngày, ngƣời dân đã
khiến cho việc phi tập thể hóa trở thành hiện thực tại địa phƣơng mình từ trƣớc khi
có sự đồng ý chính thức của nhà nƣớc và chính điều này – chứ không phải những
ảnh hƣởng của các cuộc cải cách vào cuối thập niên 70 ở Trung Quốc và giữa thập
niên 80 ở Liên Xô – đã là tác nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của chính sách Đổi
mới.
Ba là, tiếp cận làng theo hƣớng nghiên cứu khu vực học. Làng xã ở Việt
Hay chƣơng trình Hội thảo Quốc tế về Làng xã Việt Nam năm 2002, nghiên cứu về
làng cổ Đƣờng Lâm và Cổ Loa…với sự liên kết nhiều nhà nghiên cứu thuộc các
chuyên ngành khác nhau nhƣ lịch sử, văn hóa, dân tộc học, khảo cổ học… đã đem
đến những thông tin, nhận định mới về làng xã cổ truyền.
Bốn là, nghiên cứu làng dƣới góc độ so sánh loại hình, cần phải kể đến công
trình: Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and
Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century [Việt Nam và mô
hình Trung Hoa: Nghiên cứu so sánh chính quyền Việt Nam và Trung Hoa trong
nửa đầu thế kỷ mƣời chín] của Alexander Woodside. Cuốn sách này dựa vào việc
nghiên cứu rất nhiều nguồn tƣ liệu từ thế kỷ mƣời chín, và nhƣ Woodside tuyên bố
trong câu đầu tiên, cuốn sách bàn vềnhững ảnh hƣởng văn hoá của Trung Hoa và
những hạn chế của nó trong chính trị, văn học, giáo dục và xã hội Việt Nam đầu thế
kỷ mƣời chín. Qua việc luận bàn những đề tài nhƣ bộ máy hành chính, hệ thống
giáo dục và quan hệ ngoại giao của triều đình nhà Nguyễn, Woodside chứng tỏ rõ
ràng rằng “mô hình Trung Hoa” thống trị xã hội Việt Nam vào thế kỷ mƣời chín.
Nhƣng, theo Woodside, mô hình Trung Hoa này không độc quyền thế giới của nhà
Nguyễn, vì nó luôn nằm lung lay phía trên một “hạ tầng cơ sở Ðông Nam Á.” Ðây
là một luận điểm quan trọng trong khi xem xét Việt Nam ở thế kỷ mƣời chín vào
17