ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY
TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÒ LIÊN KẾT VÀ TẠO
MẠCH LẠC CHO VĂN BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 5 04 08
Người hướng dẫn: GS.TS. ĐINH VĂN ĐỨC
HÀ NỘI - 2004
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 1
CHƢƠNG I ............................................................................................................................. 5
TRẬT TỰ CÂU - TÍNH HÌNH TUYẾN CỦA VĂN BẢN ....................................................... 5
I. VĂN BẢN VÀ NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ................................................. 5
1. Định nghĩa văn bản ....................................................................................................... 5
2. Đặc trƣng của văn bản .................................................................................................. 7
2.1. Yếu tố nội dung ......................................................................................................... 8
2.2. Yếu tố cấu trúc........................................................................................................... 8
2.3. Yếu tố mạch lạc và liên kết: ....................................................................................... 8
2.4. Yếu tố chỉ lượng:........................................................................................................ 8
2.5. Yếu tố định biên: ........................................................................................................ 8
3. Câu - đơn vị cấu tạo văn bản............................................................................................. 8
3.1. Định nghĩa câu........................................................................................................... 8
4. Những khái niệm có liên quan đến văn bản. .....................................................................11
2.2. Liên kết sự kiện với sự kiện trong mối quan hệ thời gian ...........................................47
2.3. Liên kết nội dung sự kiện trong mối quan hệ thời gian. .............................................49
2. Trật tự trong sự tiếp nối về không gian ............................................................................50
3. Trật tự trong quan hệ nhân - quả: .....................................................................................54
4. Trật tự nhận thức sự kiện. ................................................................................................59
5. Các trƣờng hợp có thể thay đổi trật tự các câu trong văn bản. ...........................................62
CHƢƠNG III ..........................................................................................................................66
TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÕ TẠO MẠCH LẠC ..........................................................66
CHO VĂN BẢN .....................................................................................................................66
I. NHẬN THỨC VỀ MẠCH LẠC. .........................................................................................66
1. Các cách hiểu về mạch lạc. ..............................................................................................66
2. Phân biệt liên kết và mạch lạc. .........................................................................................69
3. Mạch lạc trong văn bản báo chí và sự thể hiện của nó ......................................................71
II. TRẬT TỰ CÂU - PHƢƠNG TIỆN TẠO MẠCH LẠC CHO VĂN BẢN............................76
1. Mạch lạc theo thời gian ...................................................................................................76
2. Mạch lạc theo không gian ................................................................................................81
3. Mạch lạc theo nội dung quan yếu. ....................................................................................84
4. Mạch lạc theo quan hệ lập luận ........................................................................................87
KẾT LUẬN ............................................................................................................................98
Thƣ mục tài liệu tham khảo ...................................................................................................103
102
TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÒ LIÊN KẾT VÀ TẠO MẠCH
LẠC CHO VĂN BẢN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn bản là đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ. Liên quan đến
văn bản, đã có nhiều công trình (cả trên thế giới và trong nƣớc) nghiên cứu
một trật tự tuyến tính. Trật tự này đƣợc thể hiện trên tất cả các cấp độ của
hệ thống ngôn ngữ.
1.4. Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam, đã có một số công
trình nghiên cứu trật tự từ ở cấp độ từ và cấp độ câu. Trật tự từ đƣợc hiểu là
sự kết hợp các từ với nhau, nó đƣợc coi là một trong những phƣơng tiện
quan trọng để thể hiện các quan hệ ngữ pháp. Việc thay đổi trật tự từ hoặc
yếu tố cấu tạo từ (trong phạm vi từ, phạm vi câu) đều có ảnh hƣởng không
nhỏ tới nội dung và quan hệ ngữ nghiã giữa các yếu tố cấu tạo.
Văn bản là sản phẩm của ngôn ngữ, nó đƣợc hình thành từ các câu.
Vậy trật tự câu đƣợc biểu hiện nhƣ thế nào, chúng có vai trò gì trong tổ
chức văn bản, và đặc biệt là chúng có tham gia vào việc liên kết và tạo
mạch lạc cho văn bản hay không? Việc thay đổi trật tự các câu trong văn
bản có ảnh hƣởng đến nội dung thông tin của văn bản hay không? Những
điều này cho đến nay chƣa đƣợc nhắc đến và quan tâm nghiên cứu.
1.5. Mấy năm gần đây, vấn đề mạch lạc trong văn bản cũng đã đƣợc
đề cập trong một số công trình. Tuy nhiên, mạch lạc mới chỉ đƣợc nghiên
cứu nhƣ là một yếu tố không thể thiếu của văn bản và nó đƣợc thể hiện trên
nhiều khía cạnh khác nhau của văn bản chứ chƣa đi đến một định nghĩa
thống nhất thế nào là mạch lạc. Hơn nữa, tính mạch lạc của văn bản lại
đƣợc các nhà nghiên cứu này khẳng định là yếu tố quyết định đến việc tạo
2
thành văn bản chứ không phải là liên kết. Liên kết và mạch lạc thực chất là
hai vấn đề khó có thể phân định ranh giới giữa chúng một cách rạch ròi.
Thế nhƣng, trong một văn bản có liên kết chƣa chắc đã tạo ra mạch lạc;
ngƣợc lại, khi văn bản mạch lạc thì chắc chắn phải có liên kết. Vậy trật tự
sắp xếp các câu trong văn bản có tham gia vào việc tạo mạch lạc cho văn
bản hay không?
Chính vì những lý do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu về
Chƣơng II Trật tự câu trong vai trò liên kết văn bản
Chƣơng III Trật tự câu trong vai trò tạo mạch lạc cho văn bản
4
CHƢƠNG I
TRẬT TỰ CÂU - TÍNH HÌNH TUYẾN CỦA VĂN BẢN
I. VĂN BẢN VÀ NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1. Định nghĩa văn bản
1.1. Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về văn bản. Đáng chú ý là
những định nghĩa sau đây:
Văn bản "là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ đƣợc làm thành
bởi một dây chuyền các phƣơng tiện có 2 trắc diện" (R.Harweg, 1968).
"Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không
phải là một đơn vị ngữ pháp loại nhƣ một mệnh đề hay một câu… Tốt hơn
nên xem xét văn bản nhƣ là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của
hình thức mà là của ý nghĩa" (Halliday, 1976 và 1994).
"Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo hoặc viết có đặc trƣng
là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của tác giả đối với
điều đƣợc thông báo… Về phƣơng diện cú pháp, văn bản là một hợp thể
nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phƣơng
tiện từ vựng - ngữ pháp" (L.M.Loseva, 1980).
"Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ
viết của một sự kiện giao tiếp" (N.Nunan, 1983).
"Văn bản là bất kỳ một đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo
nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh". "Văn bản là một đơn vị ngôn
ngữ hành chức…". "Tốt nhất, nên nhìn nhận văn bản là một đơn vị ngữ
5
3.1. Định nghĩa câu
3.1.1. Khi định nghĩa về câu, các nhà nghiên cứu thƣờng dựa vào
những tiêu chí cụ thể nào đó.
Dựa vào tiêu chí hình thức - ngữ pháp: câu đƣợc định nghĩa là một
đơn vị ngữ pháp gồm một đến nhiều mệnh đề.
Dựa vào tiêu chí chức năng: câu đƣợc định nghĩa là một đơn vị có 2
thành phần là cụm danh từ làm chủ ngữ và cụm động từ làm vị ngữ.
Dựa vào tiêu chí ý nghĩa: câu phải diễn đạt một tƣ tƣởng trọn vẹn.
3.1.2. Trong các định nghĩa về câu, đáng chú ý là những định nghĩa
sau đây:
"Câu là một đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên
trong quá trình tƣ duy, thông báo, nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ
pháp và có tính chất độc lập" (Trung tâm KHXH và nhân văn, 2002).
"Câu là một đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên
ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tƣ tƣởng tƣơng đối trọn
vẹn có kèm theo thái độ của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền
đạt tƣ tƣởng, tình cảm với tƣ cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất" (Hoàng
Trọng Phiến, 1991).
3.1.3. Trong lĩnh vực văn bản, câu thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu
đồng nhất với phát ngôn.
Trần Ngọc Thêm trong "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" không
định nghĩa thế nào là câu nhƣng lại đƣa ra ý kiến về câu nhƣ sau" "Mọi mối
liên kết trong văn bản đều xuất phát từ những ngữ đoạn có hình thức hoàn
chỉnh. Và các ngữ đoạn này thƣờng tƣơng ứng với khái niệm câu. Nhƣng
sự tƣơng ứng này lại thích hợp với kiểu định nghĩa câu theo mặt hình
thức".
8
9
Về nội dung: Mỗi câu đều chuyển tải một nội dung thông tin nhất
định, nội dung này do chủ đề của văn bản quy định.
Ví dụ: "Sau khi tốt nghiệp trường Trung học An ninh nhân dân I năm
1986, anh Lục Quang Kiểm về nhận công tác tại công an huyện Hà Quảng
(Cao Bằng). Từ tháng 7.1991 đến nay, anh được Ban giám đốc công an
tỉnh Cao Bằng điều về nhận nhiệm vụ tại phòng Bảo vệ chính trị. Anh đã
trực tiếp cùng đồng đội khám phá nhiều vụ án phức tạp. Đặc biệt, đầu năm
2002, anh cùng đồng đội không nhận hối lộ 25 triệu đồng của tên Hà Văn
Vi (sinh năm 1959) ở huyện Trùng Khánh trong khi các anh đang xét hỏi
hắn" (15.9.02).
Văn bản trên gồm 4 câu. Các câu này đều hoàn chỉnh về cấu trúc cú
pháp. Và mỗi câu đều có nội dung thông tin nhất định .
4. Những khái niệm có liên quan đến văn bản.
4.1. Liên kết.
Liên kết là một thuộc tính rất quan trọng của văn bản, nó quyết định
tới việc biến một chuỗi câu trở thành văn bản.
Có thể hiểu một cách chung nhất về liên kết nhƣ sau: Liên kết là
những mối quan hệ hình thức và nội dung của các câu trong văn bản.
Đơn vị tham gia liên kết văn bản rất phong phú. Nó có thể là từ, là
ngữ, thậm chí cả một câu. "Mọi mối liên kết trong văn bản đều xuất phát từ
những ngữ đoạn có hình thức hoàn chỉnh và hƣớng tới những ngữ đoạn có
hình thức hoàn chỉnh" (Trần Ngọc Thêm, 1985).
Về vấn đề liên kết, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn ở chƣơng II.
4.2. Mạch lạc.
Không giống nhƣ liên kết, mạch lạc gần đây mới đƣợc nhiều ngƣời
quan tâm nghiên cứu và coi đây là cái quyết định việc hình thành một văn
11
Diệp Quang Ban không sử dụng thuật ngữ chủ đề mà dùng "đề tài chủ đề". Khi nó đƣợc dùng để chỉ sự vật, việc, hiện tƣợng đƣợc nói đến
trong câu thì gọi là đề tài của câu. Khi chỉ cái ý tƣởng khái quát của toàn
văn bản thì dùng tên gọi chủ đề.
Trong luận văn của chúng tôi, chủ đề của văn bản đƣợc hiểu là phạm
vi hiện thực đƣợc nói đến hoặc bàn tới trong toàn bộ văn bản. Nó có thể là
sự vật, sự việc, sự kiện, hiện tƣợng khách quan, là một vấn đề về chính trị,
xã hội, kinh tế, văn hoá, khoa học… đƣợc đặt ra và giải quyết trong toàn
văn bản. Chủ đề của văn bản còn đƣợc gọi là nội dung thông tin của văn
bản.
Ví dụ: Vào 14h ngày 3.12.2002, chị Vũ Thu Trang ở số 2c Quang
Trung và chị Phạm Hồng Hiển, ở tập thể Ngân hàng Công thương, Gia
Lâm đèo nhau vừa đi vừa nói chuyện trên phố Lý Thường Kiệt. Họ không
biết rằng có 2 gã thanh niên trông mặt mũi bặm trợn đi trên chiếc xe máy
DreamII đang bám sát đằng sau. Đến ngã ba Lý Thường Kiệt - Quán Sứ,
khi chị Trang xi nhan, giảm tốc độ để rẽ thì chiếc xe của 2 thanh niên kia
áp sát. Tên ngồi sau giật phắt chiếc túi xách trong đó có 2 điện thoại di
động, 2.450.000 đồng và một số giấy tờ, đồ trang điểm khác chị Hiển đang
để kẹp giữa 2 người. Sau đó, chiếc xe của bọn cướp giật rồ ga chạy vào
đường Phan Bội Châu (9.12.03).
Chủ đề của văn bản trên đây nói về hành vi cướp giật tài sản của
ngƣời đi đƣờng.
4.4. Sự kiện
Sự kiện trong luận văn này đƣợc hiểu là những hành động, sự việc,
hiện tƣợng… có tác dụng làm rõ chủ đề của văn bản. Sự kiện này tồn tại
trong câu và trong văn bản.
12
14
đoạn hiện thực hoá bằng những câu nói cụ thể. Trật tự tuyến tính của các
thành phần câu chỉ đƣợc hình thành ở giai đoạn thứ ba. Có nhiều nhân tố
ảnh hƣởng đến sự hình thành trật tự từ của câu nói: nhân tố thứ nhất là nhân
tố định hƣớng chiến lƣợc và định hƣớng của ngƣời nói. Nhân tố thứ hai là
quan hệ tôn ti giữa các sự vật ở thế giới bên ngoài tham gia vào biểu vật
của câu. Ảnh hƣởng của nhân tố quan hệ tôn ti vào cấu trúc cú pháp của
câu không phải là trực tiếp mà gián tiếp thông qua các thành tố trong cấu
trúc ngữ nghĩa của câu nhƣ: chủ thể, hành động, đối tƣợng, địa điểm...
4. Cho đến nay có thể thấy 2 cách hiểu về trật tự từ nhƣ sau:
4.1. Theo cách hiểu rộng: Nói đến trật tự từ là nói đến thứ tự trƣớc
sau của các đơn vị ngôn ngữ ở cả 3 cấp độ: hình vị, từ và câu.
Trật tự ở cấp độ hình vị là sự sắp xếp thứ tự các hình vị trong cấu tạo
từ theo nguyên tắc tự do hoặc không tự do. Kết quả sẽ cho ta từ đơn hoặc từ
ghép. Đối với từ ghép, nếu là từ ghép chính phụ (có quan hệ chính phụ về
mặt ngữ nghĩa) thì trật tự phổ biến là yếu tố chính đứng trƣớc, yếu tố phụ
đứng sau, khi ta thay đổi trật tự trƣớc sau của các yếu tố thì nghĩa của từ
cũng thay đổi theo.
Ví dụ: gà con - con gà; bồ câu trắng - trắng bồ câu...
Nếu là từ ghép đẳng lập thì có thể thay đổi trật tự trƣớc sau của các
thành tố mà ít bị ảnh hƣởng về mặt ngữ nghĩa.
Ví dụ: nhỏ bé - bé nhỏ; ông cha - cha ông...
Trật tự ở cấp độ từ là sự sắp xếp thứ tự các từ để cấu tạo cụm từ, cấu
tạo ngữ. Ở cấp độ này, sự sắp xếp cũng tƣơng tự nhƣ ở cấp độ hình vị. Về
nguyên tắc có 2 cách kết hợp tự do hoặc không tự do. Chẳng hạn, khi
nghiên cứu trật tự của các thành tố trong danh ngữ trong tiếng Việt, chúng
ta thấy danh từ bao giờ cũng ở vị trí trung tâm, các thành tố phụ đƣợc phân
BẢN
1. Vị trí của câu trong văn bản
16
1.1. Ở cấp độ văn bản, do văn bản đƣợc hình thành nhờ các câu, các
câu này cũng phải tuân thủ nguyên lý tính hình tuyến của hệ thống ngôn
ngữ. Có nghĩa là, câu nọ nối tiếp câu kia theo một trật tự nối tiếp nhau. Sự
nối tiếp này không phải là sự nối tiếp vô tổ chức mà phải tuân theo những
quy tắc nhất định. Những quy tắc đó phản ánh sự sắp xếp các yếu tố ngôn
ngữ theo một trật tự trƣớc sau. Cho nên, các câu trong văn bản bao giờ
cũng có một vị trí nhất định. Vị trí của từng câu trong văn bản không phải
là tự do, sự tồn tại của các câu trong văn bản bị chế định bởi một loạt các
nhân tố trong ngôn ngữ cũng nhƣ ngoài ngôn ngữ (do các câu xung quanh;
do việc sử dụng từ nối, các liên từ đứng ở đầu câu; do nhiệm vụ thông
báo… hay nói một cách khái quát là do văn bản quy định).
1.2. Khi tham gia vào văn bản, các câu có vai trò không giống nhau,
vị trí của các câu cũng không phải tuỳ tiện mà nó bị quy định bởi các câu
xung quanh và toàn bộ văn bản. E.Uýtmet đã viết: “Câu không thể giữ
trong văn bản một vị trí tuỳ tiện, bởi vì phát ngôn chứa trong đó cần đứng ở
một vị trí nhất định của văn bản”. Mỗi câu trong văn bản đều phải có một
vị trí tƣơng ứng với vai trò của nó trong việc triển khai nội dung thông tin
(chủ đề) của văn bản. Do đó, việc sắp xếp các câu trong văn bản có những
quy luật nhất định và phải tuân thủ những điều kiện nhất định.
Tác giả Bùi Minh Toán trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp văn bản",
Trƣờng ĐHSPII, đã bàn đến vị trí của câu trong văn bản và sự ảnh hƣởng
qua lại giữa vị trí của câu và văn bản. Ông coi văn bản là một chỉnh thể,
trong đó các câu là những yếu tố cấu tạo nên chỉnh thể đó. Chính vì thế,
mỗi câu trong văn bản đều phải chịu sự chi phối của văn bản về cả hình
văn bản, các câu này đƣợc xem xét dƣới 3 góc độ:
Góc độ 1 xét theo nội dung thông tin. Theo đó sẽ có thông tin chung,
thông tin bao quát, thông tin phụ trợ…
Góc độ 2 xét theo quan hệ của các câu trong văn bản. Theo đó sẽ có
các kiểu quan hệ nguyên nhân - kết quả, nhận định - chứng minh...
18
Góc độ 3 xét theo thời gian sự kiện xuất hiện trong từng câu. Điều
này có liên quan chặt chẽ đến việc sắp xếp các sự kiện và phân bố nội dung
thông tin.
Trong luận văn của chúng tôi, các góc độ này không đƣợc trình bày
một cách riêng rẽ mà có sự phối kết hợp lẫn nhau, nằm trong mối quan hệ
gắn bó với nhau. Tuy nhiên, có những văn bản chỉ đƣợc xét ở một góc độ
nào đó, cũng có văn bản cùng một lúc xét ở nhiều góc độ khác nhau. Sở dĩ
nhƣ thế là bởi vì chúng tôi xuất phát từ mối quan hệ giữa 3 bình diện của
ngôn ngữ là bình diện cú pháp (kết học), nghĩa học và dụng học. Trật tự
trong ngôn ngữ, với tƣ cách thuộc bình diện thứ nhất luôn luôn có liên hệ,
bị chi phối bởi bình diện thứ 2 và thứ 3.
Ở bình diện cú pháp, các câu kết hợp với nhau để tạo thành văn bản.
Ở bình diện nghĩa học, các câu kết hợp với nhau để làm hoàn chỉnh
ngữ nghĩa và nội dung thông tin của văn bản.
Ở bình diện dụng học, các câu kết hợp với nhau để thể hiện ý đồ hay
chiến lƣợc giao tiếp của ngƣời tạo lập văn bản.
2. Các kiểu trật tự thông thường:
2.1. Đứng trƣớc hai yếu tố ngôn ngữ, chẳng hạn là A và B, chúng ta
sẽ đặt câu hỏi liệu A và B có thể kết hợp đƣợc với nhau hay không? Nếu
kết hợp đƣợc thì theo trật tự nào, A đứng trƣớc B hay B phải đứng trƣớc A?
Và tại sao lại nhƣ vậy?
không gian nhất định.
2.3. Về cơ bản, các sự vật, hiện tƣợng xảy ra trong thế giới khách
quan khi đƣợc con ngƣời nhận thức và phản ánh thông qua phƣơng tiện
ngôn ngữ sẽ đƣợc sắp xếp theo 2 hƣớng: Theo đúng nhƣ thực tiễn và không
theo đúng nhƣ thực tiễn.
Trên thực tế, có thể sự kiện A diễn ra trƣớc sự kiện B, đây là trật tự
lô gíc của sự kiện. Nhƣng vì những lý do khác nhau mà trong văn bản, sự
kiện B lại đƣợc ngƣời tạo lập văn bản sắp xếp trƣớc sự kiện A mà vẫn
20
không làm tổn hại đến lôgic sự kiện, tức là vẫn tôn trọng trình tự các sự
việc xảy ra trong hiện thực.
Chính vì thế, chúng ta cần phân biệt trật tự lôgic của sự kiện với trật
tự lôgic của sự trình bày. Căn cứ để phân biệt dựa vào các chỉ số về thời
gian, không gian và những quy luật mang tính cố định của tự nhiên.
Ví dụ: "8h sáng ngày 31.7.2000, Phòng cảnh sát hình sự công an
tỉnh Khánh Hoà có chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1967 đến trình báo việc
chị bị bọn cướp giật mất chiếc túi xách. Theo chị Hà thuật lại, chị là người
Hà Nội đi dulịch tại Nha Trang. Vào đêm 30.7.2000, trong lúc đang ngồi
ăn cháo vịt ở đường Hùng Vương (Nha Trang), lợi dụng lúc bị mất điện,
một tên từ bóng tối lao ra, hắn giật chiếc túi xách chạy về hướng khách sạn
Viễn Đông. Tất cả số tài sản, nữ trang chị Hà đựng trong túi xách bị mất
gồm 5 triệu đồng, 3 sợi dây chuyền trong đó có 1 sợi đính viên đá Saphia,
1 đôi bông tai, 1 kính đeo mắt trị giá 120USD và một số đồ trang sức
khác".(12.8.00).0
Có thể thấy rõ trong ví dụ này có 2 sự kiện, đó là: Chị Hà bị mất cắp;
và chị Hà đến công an trình báo. Trật tự lôgíc của sự kiện là: việc mất cắp
xảy ra trƣớc, việc đến đồn công an trình báo xảy ra sau. Còn trật tự lôgíc
của sự trình bày là: việc trình báo công an đƣợc nêu trƣớc, việc mất cắp
có thể lựa chọn hoặc AB, hoặc BA. Có trƣờng hợp chỉ đƣợc chọn AB mà
không thể chọn BA. Lý do của sự lựa chọn phần nhiều là do nhu cầu nhấn
mạnh về mặt lôgic - ngữ nghĩa.
3.2. Đối với văn bản chúng ta thấy nhƣ sau: trật tự của 2 câu A và B
đƣợc sắp xếp theo 2 cách: có thể là AB hoặc BA. Nếu nhƣ, mối quan hệ
lôgic - ngữ nghĩa của A và B chỉ là sự liệt kê 2 thuộc tính của cùng một sự
vật, bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì khi đó có sự vận dụng linh hoạt trật tự AB
hay BA. Tuy nhiên, sự thay đổi trật tự có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc
làm tăng hoặc giảm ngữ nghĩa của văn bản. Ngƣợc lại, nếu nhƣ mối quan
hệ lôgic - ngữ nghĩa của A và B là mối quan hệ chính - phụ, khái quát - cụ
22