Trật tự câu trong vai trò liên kết và tạo mạch lạc cho văn bản - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY
TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÒ LIÊN KẾT VÀ TẠO
MẠCH LẠC CHO VĂN BẢN LUẬN VĂN THẠC SĨ

Mã số: 5 04 08
Người hướng dẫn: GS.TS. ĐINH VĂN ĐỨC

HÀ NỘI - 2004

101
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I 5


102
1. Câu bao giờ cũng mang một nội dung thông tin nhất định. Điều này xuất phát từ vai trò của
ngôn ngữ. 39
III. CÁC KIỂU TRẬT TỰ CÂU VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ TRONG LIÊN KẾT VĂN BẢN 43
1. Trật tự trong sự tiếp nối về thời gian: 43
1.1. Sơ lƣợc về thời gian trong ngôn ngữ: 43
1.2. Yếu tố thời gian trong văn bản báo chí 44
2. Các kiểu liên kết : 46
2.1. Liên kết thuần tuý về thời gian: 46
2.2. Liên kết sự kiện với sự kiện trong mối quan hệ thời gian 47
2.3. Liên kết nội dung sự kiện trong mối quan hệ thời gian. 49
2. Trật tự trong sự tiếp nối về không gian 50
3. Trật tự trong quan hệ nhân - quả: 54
4. Trật tự nhận thức sự kiện. 59
5. Các trƣờng hợp có thể thay đổi trật tự các câu trong văn bản. 62
CHƢƠNG III 66
TRẬT TỰ CÂU TRONG VAI TRÕ TẠO MẠCH LẠC 66
CHO VĂN BẢN 66
I. NHẬN THỨC VỀ MẠCH LẠC. 66
1. Các cách hiểu về mạch lạc. 66
2. Phân biệt liên kết và mạch lạc. 69
3. Mạch lạc trong văn bản báo chí và sự thể hiện của nó 71
II. TRẬT TỰ CÂU - PHƢƠNG TIỆN TẠO MẠCH LẠC CHO VĂN BẢN 76
1. Mạch lạc theo thời gian 76
2. Mạch lạc theo không gian 81
3. Mạch lạc theo nội dung quan yếu. 84
4. Mạch lạc theo quan hệ lập luận 87
KẾT LUẬN 98
Thƣ mục tài liệu tham khảo 103

định chặt chẽ tới việc tổ chức, sắp xếp các các câu trong văn bản. Chúng
xuất hiện lần lƣợt theo một trật tự nhất định. Và nhƣ vậy, trật tự của các

2
câu sẽ có một vai trò nhất định trong việc liên kết văn bản và tạo mạch lạc
cho văn bản.
1.3. Trong các phƣơng thức liên kết văn bản, phép tuyến tính đƣợc
coi là phƣơng thức liên kết có tần số sử dụng cao nhất và nó là một trong 2
phƣơng thức liên kết lôgíc. Phép tuyến tính đƣợc Trần Ngọc Thêm định
nghĩa là "phƣơng thức sử dụng trật tự tuyến tính của các phát ngôn vào việc
liên kết những phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung".
Chúng tôi thấy rằng, về bản chất, các văn bản đƣợc hình thành đều đã có
một trật tự tuyến tính. Trật tự này đƣợc thể hiện trên tất cả các cấp độ của
hệ thống ngôn ngữ.
1.4. Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam, đã có một số công
trình nghiên cứu trật tự từ ở cấp độ từ và cấp độ câu. Trật tự từ đƣợc hiểu là
sự kết hợp các từ với nhau, nó đƣợc coi là một trong những phƣơng tiện
quan trọng để thể hiện các quan hệ ngữ pháp. Việc thay đổi trật tự từ hoặc
yếu tố cấu tạo từ (trong phạm vi từ, phạm vi câu) đều có ảnh hƣởng không
nhỏ tới nội dung và quan hệ ngữ nghiã giữa các yếu tố cấu tạo.
Văn bản là sản phẩm của ngôn ngữ, nó đƣợc hình thành từ các câu.
Vậy trật tự câu đƣợc biểu hiện nhƣ thế nào, chúng có vai trò gì trong tổ
chức văn bản, và đặc biệt là chúng có tham gia vào việc liên kết và tạo
mạch lạc cho văn bản hay không? Việc thay đổi trật tự các câu trong văn
bản có ảnh hƣởng đến nội dung thông tin của văn bản hay không? Những
điều này cho đến nay chƣa đƣợc nhắc đến và quan tâm nghiên cứu.
1.5. Mấy năm gần đây, vấn đề mạch lạc trong văn bản cũng đã đƣợc
đề cập trong một số công trình. Tuy nhiên, mạch lạc mới chỉ đƣợc nghiên
cứu nhƣ là một yếu tố không thể thiếu của văn bản và nó đƣợc thể hiện trên
nhiều khía cạnh khác nhau của văn bản chứ chƣa đi đến một định nghĩa


4
Phƣơng pháp nghiên cứu mà luận văn sử dụng chủ yếu là phƣơng
pháp miêu tả, phƣơng pháp phân tích.
5. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng.
Cụ thể nhƣ sau:

Chƣơng I Trật tự câu - tính hình tuyến của văn bản.
Chƣơng II Trật tự câu trong vai trò liên kết văn bản
Chƣơng III Trật tự câu trong vai trò tạo mạch lạc cho văn bản

5
bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và
những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và
với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lƣới của những quan hệ và
liên hệ ấy" (Trần Ngọc Thêm, 1985).
1.2. Mặc dù mỗi tác giả định nghĩa văn bản theo một cách khác nhau,
song tựu trung lại có thể thấy trong các định nghĩa ấy đều thống nhất với
nhau ở chỗ: đều coi văn bản là sản phẩm ngôn ngữ, đƣợc hình thành từ các
câu (hoặc phát ngôn) và có nội dung (thông báo) nhất định.
2. Khái niệm văn bản đƣợc sử dụng trong luận văn này đƣợc hiểu
theo các tiêu chí nhƣ sau:
Về hình thức: Nó phải bao gồm một chuỗi câu, ít nhất là từ 2 câu trở
lên. Câu đầu tiên của văn bản là câu tự nghĩa (hiểu theo tiêu chí của Trần
Ngọc Thêm, đó là câu hoàn chỉnh cả về hình thức và nội dung).
Về nội dung: Các văn bản này phải đảm bảo có một nội dung thông
tin nhất định (còn đƣợc gọi là chủ đề).
Ví dụ: "Là con út trong một gia đình nông dân nghèo, các anh chị
đều đã có gia đình ra ở riêng, còn anh Nhơn sống với cha mẹ già trên 70
tuổi. Nhà chỉ làm một công ruộng nên hàng ngày anh Nhơn phải đi làm
thêm để phụ giúp gia đình. Công việc đào mướn, giăng lưới, cắm câu mỗi
ngày cũng chỉ kiếm 10.000 đồng đến 20.000 đồng không đủ để trang trải
cuộc sống hay ốm đau bệnh tật của cha mẹ già. Vì thế mà gia đình anh
nghèo đến nỗi không có tiền để câu điện thắp sáng trong nhà" (20.3.02)

7
Hình thức của văn bản trên đây là 1 chuỗi gồm 4 câu kết hợp với
nhau. Trong đó câu đầu tiên của văn bản là câu tự nghĩa. Tức là, câu này có
thể tách ra độc lập một mình. Bản thân câu này cũng chuyển tải một nội
dung thông tin trọn vẹn mà không cần sự hỗ trợ của những câu khác.
Nội dung của văn bản nói về cuộc sống nghèo khó của anh Nhơn và
gia đình anh.

3.1.2. Trong các định nghĩa về câu, đáng chú ý là những định nghĩa
sau đây:
"Câu là một đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên
trong quá trình tƣ duy, thông báo, nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ
pháp và có tính chất độc lập" (Trung tâm KHXH và nhân văn, 2002).
"Câu là một đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên
ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tƣ tƣởng tƣơng đối trọn
vẹn có kèm theo thái độ của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền
đạt tƣ tƣởng, tình cảm với tƣ cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất" (Hoàng
Trọng Phiến, 1991).
3.1.3. Trong lĩnh vực văn bản, câu thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu
đồng nhất với phát ngôn.
Trần Ngọc Thêm trong "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" không
định nghĩa thế nào là câu nhƣng lại đƣa ra ý kiến về câu nhƣ sau" "Mọi mối
liên kết trong văn bản đều xuất phát từ những ngữ đoạn có hình thức hoàn
chỉnh. Và các ngữ đoạn này thƣờng tƣơng ứng với khái niệm câu. Nhƣng
sự tƣơng ứng này lại thích hợp với kiểu định nghĩa câu theo mặt hình
thức".

9
Ở một chỗ khác, tác giả định nghĩa phát ngôn nhƣ sau: "Phát ngôn là
một bộ phận của đoạn văn, với cấu trúc và nội dung nhất định nào đó (đầy
đủ hoặc không đầy đủ) đƣợc tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức. Ở
dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát
ngôn…"
Từ 2 cách hiểu trên đây của Trần Ngọc Thêm, chúng ta thấy tác giả
đã đồng nhất câu với phát ngôn. Và trong khi phân tích văn bản, tác giả
dùng cả 2 thuật ngữ câu và phát ngôn.
Diệp Quang Ban không sử dụng thuật ngữ phát ngôn mà sử dụng
thuật ngữ câu. Tuy nhiên, ông lại giải thích rằng đó là câu - phát ngôn chứ

pháp. Và mỗi câu đều có nội dung thông tin nhất định .
4. Những khái niệm có liên quan đến văn bản.
4.1. Liên kết.
Liên kết là một thuộc tính rất quan trọng của văn bản, nó quyết định
tới việc biến một chuỗi câu trở thành văn bản.
Có thể hiểu một cách chung nhất về liên kết nhƣ sau: Liên kết là
những mối quan hệ hình thức và nội dung của các câu trong văn bản.
Đơn vị tham gia liên kết văn bản rất phong phú. Nó có thể là từ, là
ngữ, thậm chí cả một câu. "Mọi mối liên kết trong văn bản đều xuất phát từ
những ngữ đoạn có hình thức hoàn chỉnh và hƣớng tới những ngữ đoạn có
hình thức hoàn chỉnh" (Trần Ngọc Thêm, 1985).
Về vấn đề liên kết, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn ở chƣơng II.
4.2. Mạch lạc.
Không giống nhƣ liên kết, mạch lạc gần đây mới đƣợc nhiều ngƣời
quan tâm nghiên cứu và coi đây là cái quyết định việc hình thành một văn

11
bản. Trong số những ngƣời nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản, đáng
chú ý là tác giả Diệp Quang Ban với cuốn sách "Giao tiếp văn bản mạch lạc
liên kết đoạn văn". Mặc dù chƣa đƣợc định nghĩa một cách rõ ràng thế nào
là mạch lạc nhƣng Diệp Quang Ban đã tổng kết mạch lạc của văn bản đƣợc
biểu hiện trên ba phạm vi khái quát sau đây:
- Mạch lạc trong quan hệ nghĩa - lôgic giữa các từ ngữ trong văn bản.
- Mạch lạc trong quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái đƣợc nói
tới trong tình huống bên ngoài văn bản.
- Mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.
Trong luận văn của chúng tôi, mạch lạc đƣợc hiểu trƣớc hết là lôgíc
của sự trình bày văn bản. Lôgic này có liên quan chặt chẽ đến nhiều
phƣơng diện khác, chẳng hạn nhƣ lôgíc khách quan, lôgíc nhận thức
Điều này chúng tôi sẽ trình bày kỹ trong chƣơng III của luận văn.

khi chị Trang xi nhan, giảm tốc độ để rẽ thì chiếc xe của 2 thanh niên kia
áp sát. Tên ngồi sau giật phắt chiếc túi xách trong đó có 2 điện thoại di
động, 2.450.000 đồng và một số giấy tờ, đồ trang điểm khác chị Hiển đang
để kẹp giữa 2 người. Sau đó, chiếc xe của bọn cướp giật rồ ga chạy vào
đường Phan Bội Châu (9.12.03).
Chủ đề của văn bản trên đây nói về hành vi cướp giật tài sản của
ngƣời đi đƣờng.
4.4. Sự kiện
Sự kiện trong luận văn này đƣợc hiểu là những hành động, sự việc,
hiện tƣợng… có tác dụng làm rõ chủ đề của văn bản. Sự kiện này tồn tại
trong câu và trong văn bản.

13
Chẳng hạn ví dụ vừa nêu trên đây có 5 sự kiện tham gia vào việc làm
rõ chủ đề hành vi cƣớp giật đó là: Hai chị Trang và Hiển đèo nhau đi trên
phố; hai gã thanh niên bám sát 2 chị; hai gã thanh niên áp sát 2 chị; một tên
giật chiếc túi xách; 2 gã thanh niên rồ ga chạy mất.
4.5. Trật tự câu
Câu là đơn vị tham gia cấu tạo văn bản. Trật tự câu đƣợc hiểu là thứ
tự xuất hiện của câu trong văn bản. Nghiên cứu về trật tự câu trong văn bản
cũng có nghĩa là nghiên cứu vị trí và chức năng mà chúng đảm nhận trong
văn bản.
Vì thế, chúng tôi có thể đi đến một định nghĩa thống nhất cho khái
niệm trật tự đƣợc sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu văn bản, mà cụ thể là
đƣợc sử dụng trong luận văn này nhƣ sau: Trật tự câu trong văn bản là sự
tổ chức, sắp xếp các câu trong văn bản theo một thứ tự nào đó nhằm triển
khai nội dung thông tin theo một mục đích nhất định.
II. TRẬT TỰ - BIỂU HIỆN TÍNH HÌNH TUYẾN CỦA NGÔN
NGỮ
1. Tính hình tuyến là một trong hai nguyên lý cơ bản của hệ thống

tiếng Tiệp, sự phân bố này là sự phân đoạn thực tại câu. Loại nhân tố thứ
yếu là loại nhân tố chỉ ảnh hƣởng gián tiếp đến sự phân bố trƣớc sau của
chủ ngữ và vị ngữ. Trong tiếng Tiệp, đó là những nhân tố nhƣ: ngữ pháp,
nhịp điệu, nhân tố có thể chêm hoặc không thể chêm vào các thành phần
câu khác.
3. Từ quan điểm của ngôn ngữ học tâm lý mà xem xét, GS, TSKH
Lý Toàn Thắng khi nghiên cứu trật tự từ trong câu đã khẳng định: câu nói
(cũng nhƣ trật tự các thành phần của nó) chỉ đƣợc tạo ra dần qua các giai
đoạn: định hƣớng của ngƣời nói, mã hoá định hƣớng bằng ngôn ngữ và giai

15
đoạn hiện thực hoá bằng những câu nói cụ thể. Trật tự tuyến tính của các
thành phần câu chỉ đƣợc hình thành ở giai đoạn thứ ba. Có nhiều nhân tố
ảnh hƣởng đến sự hình thành trật tự từ của câu nói: nhân tố thứ nhất là nhân
tố định hƣớng chiến lƣợc và định hƣớng của ngƣời nói. Nhân tố thứ hai là
quan hệ tôn ti giữa các sự vật ở thế giới bên ngoài tham gia vào biểu vật
của câu. Ảnh hƣởng của nhân tố quan hệ tôn ti vào cấu trúc cú pháp của
câu không phải là trực tiếp mà gián tiếp thông qua các thành tố trong cấu
trúc ngữ nghĩa của câu nhƣ: chủ thể, hành động, đối tƣợng, địa điểm
4. Cho đến nay có thể thấy 2 cách hiểu về trật tự từ nhƣ sau:
4.1. Theo cách hiểu rộng: Nói đến trật tự từ là nói đến thứ tự trƣớc
sau của các đơn vị ngôn ngữ ở cả 3 cấp độ: hình vị, từ và câu.
Trật tự ở cấp độ hình vị là sự sắp xếp thứ tự các hình vị trong cấu tạo
từ theo nguyên tắc tự do hoặc không tự do. Kết quả sẽ cho ta từ đơn hoặc từ
ghép. Đối với từ ghép, nếu là từ ghép chính phụ (có quan hệ chính phụ về
mặt ngữ nghĩa) thì trật tự phổ biến là yếu tố chính đứng trƣớc, yếu tố phụ
đứng sau, khi ta thay đổi trật tự trƣớc sau của các yếu tố thì nghĩa của từ
cũng thay đổi theo.
Ví dụ: gà con - con gà; bồ câu trắng - trắng bồ câu
Nếu là từ ghép đẳng lập thì có thể thay đổi trật tự trƣớc sau của các

đề - thuật đề ở cấp độ câu sang thể thống nhất chủ đề - thuật đề tiếp theo ở
cùng cấp độ và vào việc xây dựng chuỗi liên tục các đơn vị chủ đề - thuật
đề tạo thành văn bản. Vai trò tạo lập văn bản của trật tự từ gắn liền với sự
phân đoạn chủ đề - thuật đề.
III. TRẬT TỰ CÂU - BIỂU HIỆN TÍNH HÌNH TUYẾN CỦA VĂN
BẢN
1. Vị trí của câu trong văn bản

17
1.1. Ở cấp độ văn bản, do văn bản đƣợc hình thành nhờ các câu, các
câu này cũng phải tuân thủ nguyên lý tính hình tuyến của hệ thống ngôn
ngữ. Có nghĩa là, câu nọ nối tiếp câu kia theo một trật tự nối tiếp nhau. Sự
nối tiếp này không phải là sự nối tiếp vô tổ chức mà phải tuân theo những
quy tắc nhất định. Những quy tắc đó phản ánh sự sắp xếp các yếu tố ngôn
ngữ theo một trật tự trƣớc sau. Cho nên, các câu trong văn bản bao giờ
cũng có một vị trí nhất định. Vị trí của từng câu trong văn bản không phải
là tự do, sự tồn tại của các câu trong văn bản bị chế định bởi một loạt các
nhân tố trong ngôn ngữ cũng nhƣ ngoài ngôn ngữ (do các câu xung quanh;
do việc sử dụng từ nối, các liên từ đứng ở đầu câu; do nhiệm vụ thông
báo… hay nói một cách khái quát là do văn bản quy định).
1.2. Khi tham gia vào văn bản, các câu có vai trò không giống nhau,
vị trí của các câu cũng không phải tuỳ tiện mà nó bị quy định bởi các câu
xung quanh và toàn bộ văn bản. E.Uýtmet đã viết: “Câu không thể giữ
trong văn bản một vị trí tuỳ tiện, bởi vì phát ngôn chứa trong đó cần đứng ở
một vị trí nhất định của văn bản”. Mỗi câu trong văn bản đều phải có một
vị trí tƣơng ứng với vai trò của nó trong việc triển khai nội dung thông tin
(chủ đề) của văn bản. Do đó, việc sắp xếp các câu trong văn bản có những
quy luật nhất định và phải tuân thủ những điều kiện nhất định.
Tác giả Bùi Minh Toán trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp văn bản",
Trƣờng ĐHSPII, đã bàn đến vị trí của câu trong văn bản và sự ảnh hƣởng

1.3. Khi xem xét vai trò của câu trong việc liên kết và tạo mạch lạc
văn bản, các câu này đƣợc xem xét dƣới 3 góc độ:
Góc độ 1 xét theo nội dung thông tin. Theo đó sẽ có thông tin chung,
thông tin bao quát, thông tin phụ trợ…
Góc độ 2 xét theo quan hệ của các câu trong văn bản. Theo đó sẽ có
các kiểu quan hệ nguyên nhân - kết quả, nhận định - chứng minh

19
Góc độ 3 xét theo thời gian sự kiện xuất hiện trong từng câu. Điều
này có liên quan chặt chẽ đến việc sắp xếp các sự kiện và phân bố nội dung
thông tin.
Trong luận văn của chúng tôi, các góc độ này không đƣợc trình bày
một cách riêng rẽ mà có sự phối kết hợp lẫn nhau, nằm trong mối quan hệ
gắn bó với nhau. Tuy nhiên, có những văn bản chỉ đƣợc xét ở một góc độ
nào đó, cũng có văn bản cùng một lúc xét ở nhiều góc độ khác nhau. Sở dĩ
nhƣ thế là bởi vì chúng tôi xuất phát từ mối quan hệ giữa 3 bình diện của
ngôn ngữ là bình diện cú pháp (kết học), nghĩa học và dụng học. Trật tự
trong ngôn ngữ, với tƣ cách thuộc bình diện thứ nhất luôn luôn có liên hệ,
bị chi phối bởi bình diện thứ 2 và thứ 3.
Ở bình diện cú pháp, các câu kết hợp với nhau để tạo thành văn bản.
Ở bình diện nghĩa học, các câu kết hợp với nhau để làm hoàn chỉnh
ngữ nghĩa và nội dung thông tin của văn bản.
Ở bình diện dụng học, các câu kết hợp với nhau để thể hiện ý đồ hay
chiến lƣợc giao tiếp của ngƣời tạo lập văn bản.
2. Các kiểu trật tự thông thường:
2.1. Đứng trƣớc hai yếu tố ngôn ngữ, chẳng hạn là A và B, chúng ta
sẽ đặt câu hỏi liệu A và B có thể kết hợp đƣợc với nhau hay không? Nếu
kết hợp đƣợc thì theo trật tự nào, A đứng trƣớc B hay B phải đứng trƣớc A?
Và tại sao lại nhƣ vậy?
Những câu hỏi trên đã đƣợc giải đáp phần nào trong các cấp độ ngôn

ngôn ngữ sẽ đƣợc sắp xếp theo 2 hƣớng: Theo đúng nhƣ thực tiễn và không
theo đúng nhƣ thực tiễn.
Trên thực tế, có thể sự kiện A diễn ra trƣớc sự kiện B, đây là trật tự
lô gíc của sự kiện. Nhƣng vì những lý do khác nhau mà trong văn bản, sự
kiện B lại đƣợc ngƣời tạo lập văn bản sắp xếp trƣớc sự kiện A mà vẫn

21
không làm tổn hại đến lôgic sự kiện, tức là vẫn tôn trọng trình tự các sự
việc xảy ra trong hiện thực.
Chính vì thế, chúng ta cần phân biệt trật tự lôgic của sự kiện với trật
tự lôgic của sự trình bày. Căn cứ để phân biệt dựa vào các chỉ số về thời
gian, không gian và những quy luật mang tính cố định của tự nhiên.
Ví dụ: "8h sáng ngày 31.7.2000, Phòng cảnh sát hình sự công an
tỉnh Khánh Hoà có chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1967 đến trình báo việc
chị bị bọn cướp giật mất chiếc túi xách. Theo chị Hà thuật lại, chị là người
Hà Nội đi dulịch tại Nha Trang. Vào đêm 30.7.2000, trong lúc đang ngồi
ăn cháo vịt ở đường Hùng Vương (Nha Trang), lợi dụng lúc bị mất điện,
một tên từ bóng tối lao ra, hắn giật chiếc túi xách chạy về hướng khách sạn
Viễn Đông. Tất cả số tài sản, nữ trang chị Hà đựng trong túi xách bị mất
gồm 5 triệu đồng, 3 sợi dây chuyền trong đó có 1 sợi đính viên đá Saphia,
1 đôi bông tai, 1 kính đeo mắt trị giá 120USD và một số đồ trang sức
khác".(12.8.00).0
Có thể thấy rõ trong ví dụ này có 2 sự kiện, đó là: Chị Hà bị mất cắp;
và chị Hà đến công an trình báo. Trật tự lôgíc của sự kiện là: việc mất cắp
xảy ra trƣớc, việc đến đồn công an trình báo xảy ra sau. Còn trật tự lôgíc
của sự trình bày là: việc trình báo công an đƣợc nêu trƣớc, việc mất cắp
đƣợc nêu sau.
2.4. Nhƣ vậy, sẽ có 2 loại trật tự cơ bản: Trật tự tự nhiên (hay còn
gọi là trật tự khách quan) và trật tự trình bày (còn gọi là trật tự chủ quan).
Trật tự khách quan là trật tự diễn biến của các sự kiện diễn ra trong

vật, bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì khi đó có sự vận dụng linh hoạt trật tự AB
hay BA. Tuy nhiên, sự thay đổi trật tự có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc
làm tăng hoặc giảm ngữ nghĩa của văn bản. Ngƣợc lại, nếu nhƣ mối quan
hệ lôgic - ngữ nghĩa của A và B là mối quan hệ chính - phụ, khái quát - cụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status