Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và ý nghĩa của nó đối với đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

ĐỖ THỊ LAN

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở
NƢỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số

: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hạnh

Hà Nội – 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................ 4
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................ 4
2. Tình hình nghiên cứu .......................................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................... 9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................... 9
5. Cở sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu .......................................... 9
6. Đóng góp mới của luận văn ............................................................... 10
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .............................................................. 10
8. Kết cấu của đề tài .............................................................................. 10
NỘI DUNG .......................................................................................... 11

2.2.3 Giáo dục nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ
chuyên môn ........................................................................................... 56
2.3 Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phƣơng châm, phƣơng pháp giáo dục ....... 63
2.3.1 Học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế, học tập phải
kết hợp với lao động. ............................................................................. 64
2.3.2 Phải kết hợp phương pháp học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người,
học suốt đời, coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại ............... 66
2.3.3 Kết hợp các hình thức giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội ... 68
CHƢƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀO ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƢỚC
TA HIỆN NAY .................................................................................... 73
3.1 Yêu cầu và nội dung chủ yếu của công cuộc đổi mới toàn diện
giáo dục Việt Nam hiện nay ................................................................ 73
3.1.1 Những yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam
hiện nay ................................................................................................ 73
3.1.2 Nội dung của công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam hiện
nay ........................................................................................................ 78

2


3.2 Một số ý nghĩa của việc vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo
dục vào công cuộc đổi mới giáo dục ở nƣớc ta hiện nay ................... 90
3.2.1 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm “Học đi đôi với hành”, “Lý
luận đi đôi với thực tiễn” trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng
nhu cầu thực tiễn................................................................................... 90
3.2.2 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm “Tự học” của Hồ Chí Minh
đối với công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay ..................... 96
KẾT LUẬN ........................................................................................ 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 106

nền giáo dục và đào tạo Việt Nam, trong đó xác định:

4


"Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "Phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc
đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân" [9]
Để đảm bảo sự nghiệp đ i mới thành công, Đảng ta tiếp tục khẳng
định nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và ph biến rộng rãi tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh nói chung và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng , vận dụng
những tƣ tƣởng lý luận đó một cách sáng tạo vào thực hiện công cuộc đ i mới
toàn diện nền giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nƣớc.
Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về giáo
dục là một việc làm cần thiết nhằm đảm bảo sự nghiệp đ i mới thành công,
đồng thời trang bị cho chúng ta những tƣ tƣởng, lý luận đúng đắn, tiến bộ của
một nhà giáo dục, một nhà văn hóa lớn của thế giới, qua đó giúp mọi ngƣời
rút ra những giá trị, liên hệ với tình hình thực tiễn, và vận dụng vào công cuộc
đ i mới toàn diện nền giáo dục. Vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và ý nghĩa của nó đối với đổi mới giáo dục ở
nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án, luận văn viết về tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển
đất nƣớc. Nhìn chung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục đƣợc tiếp cận và tìm
hiểu ở nhiều góc độ khác nhau.
Trong phạm vi của đề tài mà ta có thể thống kê ra đây một số công
trình nghiên cứu sau:
* Nhóm những tác phẩm của Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục:

Nội dung cuốn sách trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và phát
triển tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục theo từng thời kỳ gắn với cuộc đời
hoạt động cách mạng của Ngƣời cũng nhƣ của đất nƣớc. Đồng thời cuốn sách

6


phân tích nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nêu bật tầm quan
trọng của việc vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc nâng cao
chất lƣợng đào tạo đại học hiện nay. Từ việc phân tích một số vấn đề trong
công tác đào tạo đại học hiện nay nhƣ: chất lƣợng sinh viên, đội ngũ giảng
viên, nội dung, chƣơng trình đào tạo, phƣơng pháp giảng dạy, các tác giả đã
đề xuất các giải pháp vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nâng
cao chất lƣợng đào tạo đại học hiện nay.
Liên quan đến nội dung của đề tài cũng đã có những luận văn, luận án
nghiên cứu khá rộng và sâu sắc:
Luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Tuyết Thanh (2010) “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào xây dựng xã hội học tập ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay”. Tác giả đã đƣa ra quan niệm của Hồ Chí Minh về
giáo dục và cho thấy đƣợc tính tất yếu trong việc vận dụng quan điểm đó vào
xã hội học tập ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn thạc sỹ của Ninh Thị Ánh Hồng (2014) “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục con người mới”. Luận văn đã nêu lên đƣợc quan điểm của
Hồ Chí Minh về giáo dục con ngƣời mới cũng nhƣ vận dụng những quan
niệm đó vào việc giáo dục con ngƣời Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra còn rất nhiều những bài báo, bài viết đăng trên tạp chí nhƣ bài
viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với việc phát triển nền giáo dục Việt
Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” của PGS.TS Nguyễn Thị Nga
trên tạp chí Triết học số 12 năm 2010. Tác giả đã phận tích một cách khái
quát tƣ tƣởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục trên những khía cạnh nhƣ

Tuy vậy, việc nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chỉ ra
đƣợc ý nghĩa của nó đối với đ i mới giáo dục ở nƣớc ta hiện nay vẫn chƣa có
công trình nào nghiên cứu, tiếp cận dƣới góc độ của khoa học triết học. Song
những tƣ liệu trên là tài liệu quý giá để tác giả tham khảo trong quá trình viết
luận văn.

8


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Làm rõ nội dung tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về giáo dục, từ đó chỉ ra ý
nghĩa của việc vận dụng tƣ tƣởng này đối với đ i mới giáo dục ở nƣớc ta hiện
nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khái lƣợc những cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Làm rõ nội dung tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về giáo dục.
Chỉ ra một số ý nghĩa của việc vận dụng những tƣ tƣởng này đối với
đ i mới giáo dục ở nƣớc ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo
dục.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục thông qua các tác phẩm
của Hồ Chí Minh và công cuộc đ i mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay do
Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xƣớng và chỉ đạo thực hiện.
5. Cở sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận khoa


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ
GIÁO DỤC
1.1 Cơ sở thực tiễn của việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
giáo dục
1.1.1 Thực trạng Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trong trào lƣu xâm lƣợc thuộc địa của chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây, từ
năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau
khi đánh chiếm đƣợc nƣớc ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực
dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cƣớp đoạt tài nguyên, bóc lột
nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa.
Về kinh tế - xã hội: Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chƣơng
trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918), tiến hành chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông
Dƣơng với số vốn đầu tƣ trên quy mô lớn, tốc độ nhanh.
Do sự du nhập của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, tình hình
kinh tế Việt Nam có sự biến đ i: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình
thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cƣ dân mới.
Nhƣng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phƣơng thức sản
xuất tƣ bản chủ nghĩa vào nƣớc ta, mà vẫn duy trì các quan hệ kinh tế của chế
độ phong kiến. Chúng kết hợp hai phƣơng thức bóc lột tƣ bản và phong kiến
để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nƣớc Việt Nam không thể phát
triển lên chủ nghĩa tƣ bản một cách bình thƣờng đƣợc, nền kinh tế
Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế
Pháp.
Về chính trị, Pháp tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy
đàn áp nặng nề. Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị

11

12


mật, đề ngày 1-3-1899, một tên thống sứ Bắc kỳ đã nói với tên toàn quyền
Đông Dƣơng rằng: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ
rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại
dột” [47;10]
Hồ Chí Minh trong nhiều tác phẩm của mình đã nhiều lần vạch rõ bản
chất tội ác cũng nhƣ lên án chính sách ngu dân của thực dân Pháp:
“Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn
tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học và lúc
nào cũng chật ních. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa
cũng đều bị bắt và có khi bị giết mà không cần xét xử…Chúng tôi không có
quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập
hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền sống hoặc đi du lịch ở nước
ngoài, chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có
quyền tự do học tập” [18; 34, 35]
“May mắn thay! tuy chúng tôi thiếu trường học, nhưng nước Pháp đã
ban cho chúng tôi rất nhiều nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện và ty rượu
“Để có thể đánh lừa dư luận bên chính quốc và yên ổn bóc lột người
bản xứ, bọn cá mập của văn minh không những làm cho người Việt Nam ngu
độn bằng rượu cồn và thuốc phiện, lại còn thi hành một chính sách ngu dân
triệt để [19; 106]
“Lúc đó có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn
làng trong khi chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng. [18; 38]
Ngƣời viết tiếp:
“Ở Đông Dương nhân dân đòi trường học vì số trường học thiếu một
cách nhơ nhuốc. Mỗi năm cứ đến ngày khai trường, cha mẹ phải đến gõ mọi
cửa, xin xỏ mọi kẻ có thế lực, có khi chịu trả gấp đôi tiền ăn học, thế mà cũng



14


ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi. Có học lịch sử nước Pháp đi nữa thì
người ta không hề đả động đến chương nói về cách mạng. Người ta cấm học
sinh đọc tác phẩm của Huy-gô, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ. Nói tóm lại trường
học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó” [18; 424, 425].
Chính vì thực dân sợ những tƣ tƣởng tiến bộ, nên chúng không muốn
cho thanh niên Việt Nam đi du học ở nƣớc ngoài, kể cả ở nƣớc Pháp:
“Người Việt Nam nào có ý định đi du học nước ngoài thì sẽ bị coi như
một người nổi loạn, một người chống Pháp, có tội lớn, người ta hãm hại
người đó và cả gia đình họ. An-be Xa-rô, nguyên toàn quyền Đông Dương,
nay là Bộ trưởng bộ thuộc địa, đã nói rõ chính sách bao vây tinh thần ấy
bằng những lời lẽ sau đây: “Để cho lớp thượng lưu trí thức được đào tạo ở
nước ngoài thoát khỏi vòng kiêm tỏa của chúng ta, chịu ảnh hưởng văn hóa
và chính trị của nước khác, thì thật là một điều nguy hiểm vô cùng. Những
người trí thức đó trở về nước đã đưa hết tài năng của họ để tuyên truyền vận
động chống lại chúng ta là những người bảo hộ đã ngăn cấm không cho họ
học tập” [19; 426].
Để hạn chế việc thanh niên nƣớc ta sang Pháp học tập, bọn thực dân đã
đặt ra nhiều điều lệ khe khắt, nhƣ điều 500b trong nghị đinh ngày 20-6-1921
về học chính ở Đông Dƣơng mà Hồ Chí Minh đã vạch ra trong “Bản án chế
độ thực dân Pháp”:
“Người bản xứ nào vô luận là dân thuộc địa hay dân bảo hộ, muốn
sang chính quốc tiếp tục học tập đều phải được ông toàn quyền cho phép”
[19; 108].
Mà đƣợc phép của toàn quyền có phải là một việc dễ dàng đâu.
“Nếu vì trường hợp đặc biệt, một thanh niên nào được phép sang học ở
bên Pháp thì chính phủ Pháp cố đưa du học sinh Việt Nam vào học ở những

phái, thong ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết để phục vụ cho bọn xâm

16


lược – người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm
hơn cả sự dốt nát nữa” [18; 424].
Nhƣ vậy qua những lời lẽ sắc bén và dẫn chứng cụ thể, Hồ Chí Minh đã
bóc trần đƣợc phần nào bản chất tội ác của thực dân Pháp và cho chúng ta
thấy đƣợc ý đồ thâm độc của chúng. Để rồi kết luận đƣợc rút ra là, chính
quyền Pháp muốn:
“Làm cho dân ngu để trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các
thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất” [19; 108].
1.1.2 Thực trạng giáo dục Việt Nam sau Cách Mạng Tháng Tám
Cách Mạng Tháng Tám là một bƣớc ngoặt lịch sử vĩ đại trong lịch sử
cách mạng Việt Nam. Từ thân phận bị áp bức, nô lệ, nhân dân Việt nam vụt
đứng lên làm chủ cuộc đời mình và xây dựng một xã hội của mình.
Sau ngày Cách mạng thành công, chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó có nền giáo dục hết sức lạc hậu với
90% dân số mù chữ, huyện lớn mới có trƣờng tiểu học, vài tỉnh mới có một
trƣờng trung học cơ sở, cả nƣớc có 5 năm trƣờng trung học ph thông toàn
cấp và cả Đông Dƣơng mới có một trƣờng đại học với vài trăm sinh viên. Do
vậy, bên cạnh việc tiến hành chiến dịch chống nạn mù chữ, Chính phủ Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải bắt tay ngay vào việc xây dựng nền giáo dục
mới của một nƣớc độc lập và dân chủ.
Ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là: đại chúng, dân tộc và
khoa học, theo tôn chỉ phụng sự lý tƣởng quốc gia và dân chủ. Tính dân tộc,
có ý nghĩa là nội dung giáo dục phải giáo dục lịch sử dân tộc, giáo dục tinh
thần yêu dân tộc, tin tƣởng vào sức mạnh của dân tộc. Đó là cơ sở của toàn bộ
nội dung giáo dục, thực tế dân tộc là cơ bản của nền giáo dục nhằm đào tạo

do chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa t chức và hệ thống giáo dục cũ
đƣợc hồi phục ở vùng tạm bị chiếm, do chính quyền thực dân và Bảo Đại
quản lý.

18


Trong vùng tự do, từ ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng n (1912-1946), hoạt động của ngành giáo dục đã có những biến động to lớn, sâu
sắc để thích ứng với cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong chỉ thị Toàn dân
kháng chiến, Trung ƣơng Đảng chỉ rõ kháng chiến phải toàn diện, trong đó
văn hóa, giáo dục là một lĩnh vực quan trọng. Trong tác phẩm “Kháng chiến
nhất định thắng lợi”, Trƣờng Chinh, T ng bí thƣ của Đảng đã nhấn mạnh rằng
kháng chiến về mặt văn hoá có hai nhiệm vụ: một là đánh đ văn hoá ngu
dân, nô dịch, xâm lƣợc của thực dân Pháp; hai là xây dựng nền văn hoá mới
của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên ba nguyên tắc: dân tộc - khoa học
- đại chúng, coi "văn hoá, giáo dục cũng là một mặt trận đấu tranh của nhân
dân ta".
Tháng 4 - 1947, Hội nghị cán bộ Trung ƣơng Đảng xác định chú
trọng mở mang giáo dục kháng chiến, chƣơng trình học phải thiết thực, nhằm
mục đích đào tạo nhân tài, cần dùng cho kháng chiến trƣớc hết, về tất cả các
ngành y tế, canh nông, quân giới cũng nhƣ thƣơng mại, ngoại giao. Học sinh
phải vừa học vừa tham gia sản xuất để tự túc một phần nào, tiếp tục phát triển
bình dân học vụ; chú ý mở trƣờng ở các vùng quốc dân thiểu số.
Từ giữa năm 1947, phần lớn các trƣờng học sau khi sơ tán đến các
vùng tự do, vùng căn cứ du kích, đã đi vào hoạt động. Các trƣờng cao đẳng
kinh tế, kỹ thuật ở Huế chủ yếu chuyển ra vùng Hà Tĩnh, Nghệ An, các
trƣờng ở Hà Nội, ở Liên khu III một số lên Việt Bắc, một số vào Thanh
Hóa… Nhằm đƣa sự nghiệp giáo dục đi vào n định và có bƣớc phát triển
mới trong hoàn cảnh kháng chiến, tháng 1-1948, Trung ƣơng Đảng đã họp hội
nghị giáo giới chấn chỉnh và mở mang việc học trong thời chiến, định chƣơng

quan, chủ quan, nhiều giáo viên, học sinh phải ở lại vùng địch kiểm soát và
dạy, học theo chƣơng trình, nội dung cũ. Đến đầu năm 1948, với âm mƣu "lấy
chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng ngƣời Việt đánh ngƣời Việt", thực dân
Pháp đã ra sức bình định vùng tạm bị chiếm, gây nhiều khó khăn cho việc học

20


tập của nhân dân, nhất là vùng thôn quê, miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu
số. Tuy vậy, sau khi thực dân Pháp lập lại chính quyền tay sai, “trao trả độc
lập” cho Việt Nam do chính quyền Bảo Đại làm đại diện, hệ thống trƣờng lớp
các cấp học đƣợc củng cố, tái giảng. Hệ thống trƣờng, lớp tiểu học đƣợc tái
lập, duy trì ở nhiều địa phƣơng. Một số tỉnh có trƣờng trung học. Các đô thị
lớn nhƣ Hà Nội, Nam Định, Huế, Sài Gòn có một số trƣờng đại học, cao
đẳng, trung học. Năm 1949, Hà Nội có Trƣờng Albert Sarraut, cho trẻ con
Pháp và một số ít trẻ con Việt Nam; Trƣờng Chu Văn An cho học sinh Việt
Nam, trƣờng nữ học Trƣng Vƣơng cho nữ học sinh, và 4-5 trƣờng tiểu học..
Trƣờng tƣ thục có Trí Tri, Dũng Lạc, Hồng Bàng, Thăng Long, có hai ban
Tiểu học và Trung học. Có 2 ngành học: Sơ học cấp tốc, 9 tháng cho học sinh
từ 5 đến 18 tu i và Tráng niên giáo dục, 4 tháng cho ngƣời trên 18 tu i. Ngoài
ra còn có Trƣờng Đại học Y khoa… Nam Định có 3 trƣờng ở thành phố:
Trƣờng công (Ecole Muncipale), 450 học sinh; Lê Bảo Tịnh, 69 học sinh;
Sacré Coeur, 200 học sinh. Huế do Nha học chính và văn hóa Trung phần
quản lý, có trƣờng Khải Định, Đồng Khánh. Tây Nguyên do Phòng học vụ,
sau đ i thành Ty Thanh tra tiểu học kiêm bình dân học vụ Tây Nguyên quản
lý. Đắc Lắc, Gia Lai mỗi tỉnh có 1 trƣờng tiểu học, Kontum có 3 trƣờng ở
Komplong, Daglây, Cheo Reo. Các trƣờng đại học, cao đẳng chủ yếu dành
cho con em tầng lớp trên và những ngƣời khá giả. Đại đa số con em nhân dân
lao động không đƣợc đi học, nếu có thì cũng chỉ hết bậc Tiểu học. Những
ngƣời đến trƣờng đều phải tiếp thu nền giáo dục thực dân, phục vụ cho cuộc

Ngày 9-1-1950 trở thành ngày học sinh, sinh viên toàn quốc.
Tóm lại, sau Cách Mạng Tháng Tám, do những biến động của lịch
sử, chính trị mà giáo dục Việt Nam vẫn bị phân chia, chƣa có sự thống nhất
về mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp. Tuy vậy, những cố gắng của chính
phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về lĩnh vực giáo dục lúc bấy giờ cũng góp

22


phần tạo nên nền tảng cho sự ra đời của những tƣ tƣởng giáo dục của Hồ Chí
Minh sau này.
1.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo
dục
1.2.1 Truyền thống giáo dục Việt Nam
Trƣớc khi ra nƣớc ngoài tiếp xúc với văn minh thế giới, Hồ Chí Minh đã
đƣợc quê hƣơng và gia đình trang bị cho một vốn văn hóa dân tộc khá vững
vàng, tạo cho Ngƣời một bản lĩnh để tiếp thu có chọn lọc những giá trị chân
chính của văn hóa nhân loại, để “hòa mà không đồng”.
Do ảnh hƣởng của hệ tƣ tƣởng Nho giáo đối với Việt Nam mà nền giáo
dục truyền thống cũng mang đậm màu sắc nho học.
Giáo dục thời này đƣợc chia làm hai loại: giáo dục để đào tạo ngƣời ra
làm quan và dạy học trong làng xã: dạy nhân, lễ, nghĩa. Tƣ tƣởng giáo dục
Nho học này đã thấm đẫm vào bao thế hệ Nho sĩ ở Việt Nam thời bấy giờ.
Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã đƣợc học, đƣợc dạy dỗ trực tiếp từ ông cha của
mình là cụ Hoàng Đƣờng và ông Nguyễn Sinh Sắc, những nhà Nho n i tiếng
của đất Nam Đàn, Nghệ Tĩnh thời đó. Hồ Chí Minh đƣợc học chữ Hán và
tiếng tăm đồn đại về sự thông minh trác việt đã lan tỏa khắp vùng Nghệ Tĩnh
nói chung. Không những vậy, Ngƣời còn đƣợc ngƣời cha Nguyễn Sinh Sắc,
trong khi dạy chữ đã chú trọng giáo dục lòng thƣơng ngƣời, thƣơng nƣớc gắn
với thƣơng nòi, yêu nhân dân lao động. Cho nên một điểm n i bật xuyên suốt

Nhƣ vậy có thể nói Hồ Chí Minh do những ảnh hƣởng nhất định từ nền
giáo dục truyền thống và những tƣ tƣởng duy tân thời bấy giờ nên đã bắt đầu
có những nhận thức đ i mới, tiến bộ về công tác giáo dục, tạo tiền đề cho việc
hình thành những tƣ tƣởng của ngƣời về nền văn hóa giáo dục mới sau này.
1.2.2 Tư tưởng giáo dục Phương Đông – Phương Tây cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX
* Tư tưởng giáo dục Phương Đông

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status