HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI CÔNG TY ANGIMEX VÀ CÁC CÔNG TY TRONG NGÀNH - Pdf 67

Ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu
cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty cổ phần Xuất Nhập Khẩu An Giang
HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI CÔNG TY
ANGIMEX VÀ CÁC CÔNG TY TRONG NGÀNH
4.1. Giới thiệu Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu An Giang
4.1.1 Tổng quan
- Tên doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU AN GIANG.
- Tên giao dịch quốc tế: AN GIANG IMPORT – EXPORT COMPANY.
- Tên viết tắt: ANGIMEX.
- Biểu tượng của Công ty:
- Trụ sở chính: Số 1, đường Ngô Gia Tự, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Điện thoại: 84.76.841548 – 841048 – 841286 Fax: 84.76.843239.
- E-mail:
- Website: www.angimex.com.vn
- Mã số thuế: 1600230737-1.
- Lĩnh vực hoạt động chính:
 Tổ chức thu mua, chế biến lúa gạo tiêu thụ nội địa và cung ứng, xuất khẩu trực tiếp
 Kinh doanh làm đại lý xe Honda
 Kinh doanh in bao đóng gói gạo
 Dịch vụ đào tạo công nghệ thông tin
 Dịch vụ và kinh doanh điện thoại di động
 Mua bán và xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng và phân bón
 Xuất khẩu cá và nhập khẩu bã đậu nành.
4.1.2 Quá trình hình thành và một số điểm chính
4.2.1. Quá trình hình thành
- Công ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu An Giang (Angiang Import – Export Company), viết tắt là
Angimex, được thành lập vào ngày 23/07/1976 theo Quyết định số 73/QĐ-76 do Chủ tịch tỉnh Trần Tấn
Thời ký, với tên gọi ban đầu là Công ty Ngoại thương An Giang. Tháng 9/1976, Công ty chính thức đi
vào hoạt động, trụ sở đặt tại Châu Đốc.
- Năm 1979: Đổi tên thành Công ty Liên hợp xuất khẩu tỉnh An Giang, trụ sở tại thị xã Long Xuyên.
- Năm 1982: Thành lập Trạm giao nhận TP. Hồ Chí Minh (nay là chi nhánh TP.HCM)

Phòng
Tài chính Kế toán
Bộ phận
Công nghệ thông tin
Bộ phận Marketing
Bộ phận
Chiến lược & Kế hoạch Kinh doanh
Bộ phận Dự án
Giám đốc
lương thực
Giám đốc
Trung tâm Honda ANGIMEX
Giám đốc
Trung tâm Kinh doanh Tổng hợp ANGIMEX
Giám đốc
Trung tâm Đào tạo ANGIMEX
Phòng Bán hàng
Phòng điều hành Kế hoạch
lương thực
GVHD: Th.S Huỳnh Phú Thịnh SVTH: Lê Ngọc Tuyền
Trang 3 3
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ tổ chức Công ty Angimex
Ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu
cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty cổ phần Xuất Nhập Khẩu An Giang
Chi nhánh lương thực ANGIMEX Long Xuyên
Chi nhánh
lương thực ANGIMEX
Thoại Sơn
Cửa hàng ANGIMEX 3
Chi nhánh

đã làm ảnh hưởng hạn chế đến kế hoạch kinh doanh của Công ty trong các thời điểm rất thuận lợi
cho việc xuất khẩu, đó là những lúc giá bán cao, nhu cầu thị trường tiêu thụ mạnh, Công ty có tồn
kho đáp ứng được cho xuất khẩu. Tuy nhiên, với nếp và gạo thơm thì vẫn được cho tiếp tục ký các
hợp đồng xuất khẩu bình thường.
• Tình hình thị trường:
Giá gạo thế giới trong hai năm trở lại đây có những biến động mạnh, đặc biệt là trong thời gian
gần đây. Nguyên nhân là do nhu cầu tăng mạnh, nhất là thị trường Châu Phi, Trung Đông; thêm
vào đó do nguồn cung cũng khan hiếm ở một số nước xuất khẩu, như trường hợp của Thái Lan,
sau khi đẩy mạnh xuất khẩu, đã phải mở cửa kho dự trữ để cung cấp cho nội địa, cả Ấn Độ và Việt
Nam cũng hạn chế xuất khẩu nhằm đảm bảo nguồn cung trong nước. Bên cạnh đó, do tình trạng
đầu cơ trục lợi cũng góp phần đẩy giá gạo tăng cao.
Tại thị trường xuất khẩu, từ tháng 2 đến đầu tháng 5 năm 2008, giá gạo xuất khẩu của Việt
Nam tăng liên tục, trong ba tháng tăng thêm 830 USD/tấn, từ 370 USD/tấn (tháng 2) lên 500-600
USD/tấn (tháng 3) rồi lên 600-800 USD/tấn và cuối cùng là 1.200 USD/tấn (tại cuộc đấu thầu ở
Philippines giữa tháng 4 của Hiệp hội lương thực Việt Nam). Vào lúc này, giá gạo của Thái Lan
cũng đã đạt 1.000 USD/tấn (FOB – 100%B), 980 USD/tấn (FOB 5% tấm). Như vậy, so với cùng
kỳ năm 2007, giá bán gạo của Thái Lan tăng 209%-211%, gạo Việt Nam tăng 220%-223%.
Đối với thị trường nội địa, bên cạnh do giá gạo xuất khẩu tăng còn do tình trạng đầu cơ nên đã
gây ra giá gạo tăng cao trong thời gian gần đây.
• Hoạt động kinh doanh:
Theo cơ cấu hình thức tiêu thụ, Công ty đã đạt được số lượng xuất khẩu như sau:
GVHD: Th.S Huỳnh Phú Thịnh SVTH: Lê Ngọc Tuyền
Trang 5 5
Ứng dụng thương mại điện tử vào việc quảng bá thương hiệu
cho ngành hàng gạo xuất khẩu của Công ty cổ phần Xuất Nhập Khẩu An Giang
Biểu đồ 4.: Biểu đồ hình thức tiêu thụ năm 2006
1
Công ty kinh doanh xuất khẩu gạo với ba hình thức là xuất khẩu trực tiếp, cung ứng và ủy thác.
Trong đó, xuất khẩu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn nhất (71.79%), đến xuất khẩu ủy thác chiếm
24.12% và cung ứng chiếm 4.09%.

%
Trong đó, gạo 5%, 15% và 25% luôn chiếm tỷ lệ cao. Trong khi gạo 5% có xu hướng tăng dần
thì gạo 15% và 25% thu hẹp dần, điều này là do Công ty chủ trương xuất khẩu gạo cao cấp, có giá
trị gia tăng cao với kim ngạch xuất khẩu cao hơn các loại gạo cấp thấp. Đồng thời cũng do các thị
trường Công ty xuất đến có những yêu cầu cao về chất lượng gạo.
• Thị trường xuất khẩu trực tiếp
Bảng 4.2: Sản lượng xuất khẩu gạo trực tiếp tại các thị trường
3
ĐVT: tấn
Thị trường 2003 2004 2005 2006
Châu Á 269,469 71,104 144,408 84,159
Châu Phi 4,000 142,030 152,905 78,255
Châu Đại Dương - - - 5,650
Châu Âu 245 - 118 3,234
Châu Mỹ - - - 5,000
Tổng 273,714 213,134 297,430 176,298
Thị trường chủ yếu của Công ty là Châu Á, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng sau đó có xu
hướng giảm dần, vì Công ty chủ trương mở rộng sang các thị trường khác. Đó là thị trường Châu
Phi, qua bốn năm liên tiếp Angimex đã tăng số lượng xuất, từ 1.46% tổng số lượng tiêu thụ năm
2003 tăng lên 44.39% vào năm 2006. Đến năm 2006, Công ty mở rộng sang hai thị trường mới là
Châu Đại Dương với 5650 tấn và Châu Mỹ với 5000 tấn.
4.2. Hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Công ty ANGIMEX
Để đánh giá hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin của Angimex, ta đánh giá trên hai mặt là
công nghệ thông tin và website.
4.2.1. Công nghệ thông tin
Để có thể thấy được hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin của một doanh nghiệp, ta có thể
xem xét trên bốn nhân tố là nhận thức, nhân lực, nối mạng và nội dung. Đây còn được gọi là 4N
trong thương mại điện tử. Sau đây, ta sẽ xem xét ứng dụng công nghệ thông tin trong Công ty
Angimex với 4N
4.2.2. Nhận thức

tiếp nhận. Công việc này được giao cho 01 nhân viên.
Bên cạnh đó, các nhân viên trong Công ty đều có khả năng sử dụng vi tính khá tốt. Năm 2005,
Công ty đã hoàn thành công tác đào tạo tin học cơ bản cho 90 cán bộ công nhân viên Công ty
nhằm nâng cao khả năng sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác nghiệp vụ, với
sự hỗ trợ từ Trung tâm Phát triển công nghệ thông tin NIIT – ANGIMEX. Cũng từ phía Trung tâm,
Công ty được hỗ trợ tư vấn, cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin (viết phần mềm, thiết kế
web, xây dựng giải pháp,..) khi có cần thiết.
4.2.4. Nối mạng
Hiện nay, Công ty đang sử dụng dịch vụ đường truyền ADSL của hai nhà cung cấp VNPT và
Viettel. Trong đó, đường truyền của Viettel là chính, Công ty đã thiết lập mạng riêng ảo VPN trên
đường truyền này nhằm phục vụ chủ yếu cho mảng Kế toán của công ty. VPN sẽ giúp tăng tính
bảo mật trong việc truyền thông tin kế toán giữa trụ sở chính và các xí nghiệp, chi nhánh, cửa
hàng. Còn đường truyền của VNPT dùng để Công ty giao tiếp thông tin với bên ngoài như truy cập
web, e-mail, chat,…
Hình thức giao tiếp chính trong Công ty là e-mail, Công ty có hai hình thức e-mail là online
(trực tuyến) và offline (ngoại tuyến). E-mail online dùng để giao tiếp với khách hàng, đối tác, phía
4 Nguồn: Bản công bố thông tin Công ty Xuất Nhập khẩu An Giang
GVHD: Th.S Huỳnh Phú Thịnh SVTH: Lê Ngọc Tuyền
Trang 8 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status