ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====================
TRƢƠNG THỊ THANH QUÝ
VAI TRÕ CỦA NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VIỆC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====================
TRƢƠNG THỊ THANH QUÝ
VAI TRÕ CỦA NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VIỆC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS,TS. Trần Phúc Thăng
Hà Nội - 2016
KHỎE CỘNG ĐỒNG - MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN ......................................37
2.1. Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cộng đồng ......................................... 37
2.1.1. Khái niệm sức khỏe .......................................................................................37
2.1.2. Sức khỏe cộng đồng và chăm sóc sức khỏe cộng đồng ..............................44
2.2. Vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ........ 48
2.2.1. Tính tất yếu của việc nhà nước thực hiện vai trò chăm sóc sức khỏe
cộng đồng ............................................................................................ 48
2.2.2. Nội dung và phương thức thực hiện vai trò của nhà nước đối với việc
chăm sóc sức khỏe cộng đồng ................................................................................53
2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc
sức khỏe cộng đồng .................................................................................. 61
2.3.1. Những yếu tố khách quan .............................................................................61
2.3.2. Những yếu tố chủ quan .................................................................................65
1
Chƣơng 3: VAI TRÕ CỦA NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VIỆC CHĂM SÓC SỨC
KHỎE CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ...............................................................70
3.1. Thành tựu và nguyên nhân những thành tựu của Nhà nước trong việc
thực hiện vai trò chăm sóc sức khỏe cộng đồng ......................................... 70
3.1.1. Thành tựu .................................................................................. 70
3.1.2. Nguyên nhân của những thành tựu ..............................................................88
3.2. Hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của Nhà nước trong việc thực
hiện vai trò chăm sóc sức khỏe cộng đồng ................................................. 95
3.2.1. Hạn chế ..........................................................................................................95
3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế ...............................................................107
3.3. Những vấn đề đặt ra với Nhà nước trong việc thực hiện vai trò chăm sóc sức
khỏe cộng đồng ở nước ta hiện nay ............................................................................112
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA
HĐH
Hiện đại hóa
KTTT
Kinh tế thị trường
Nxb
Nhà xuất bản
Tr
Trang
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
3
phần nâng cao hiệu quả, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo sự bình đẳng
trong tiếp cận các nguồn lực và tạo thêm nhiều cơ hội lựa chọn và tiếp cận các dịch
vụ y tế của người dân.
Khẳng định con người, sức khỏe con người luôn là vấn đề trọng tâm, nóng
bỏng của hiện thực xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “… con người là chủ
thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”[42, tr.30]. Xuất phát từ quan
điểm đó, sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng luôn được hết sức chú trọng. Đại
hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “phát triển mạnh sự
nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân”[42, tr.128].
Coi công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng là nhiệm vụ và trách nhiệm của Nhà
nước và các tổ chức xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định nhất.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường (KTTT) ở nước ta hiện nay, việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách cũng như tổ chức thực hiện trong ứng dịch
vụ chăm sóc sức khỏe thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống và sức khỏe của nhân dân.
5
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã
đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng
đồng. Tuy nhiên, trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao và
đa dạng, vai trò của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe nhân dân còn bộc lộ nhiều
hạn chế: Hệ thống chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay
còn rất nhiều vấn đề bất cập, nguồn lực đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng nguồn
lực này để cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn đặt ra. Ngành y tế Việt Nam chưa đáp ứng đủ cả về số lượng và chất lượng dịch
vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch
vụ y tế là rất khó khăn, nhất là người nghèo, cận nghèo và dân cư vùng sâu, vùng
xa. Sự bất bình đẳng trong việc cung ứng và thụ hưởng các dịch vụ y tế có xu
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1- Mục đích
Trên cơ sở lý luận về sức khỏe cộng đồng, vai trò của nhà nước và thực trạng
vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, luận án đề
xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc
chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay.
2.2- Nhiệm vụ
Để đạt mục đích nêu trên, từ góc độ triết học, luận án có những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về sức khỏe cộng đồng và vai trò của nhà
nước trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Hai là, phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc chăm sóc sức
khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra.
Ba là, đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò
của Nhà nước trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1- Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
ở Việt Nam hiện nay từ góc độ triết học.
3.2- Phạm vi nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng bao quát rất nhiều phương diện khác nhau, từ
đời sống vật chất đến đời sống tinh thần, từ điều kiện ăn, mặc ở đến môi trường
7
sống… Trong giới hạn của đề tài, luận án không có điều kiện nghiên cứu tất cả
những phương diện trên mà chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của Nhà nước trong
việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng trên phương diện y tế, thông qua việc ban hành
khung khổ pháp lý, xây dựng mạng lưới y tế, đầu tư ngân sách, xây dựng và sử dụng
nguồn nhân lực, kiểm tra, giám sát xử lí vi phạm, tuyên truyền, vận động, cũng như
Luận án góp phần làm rõ thêm chức năng xã hội của nhà nước trong điều kiện
phát triển KTTT định hướng XHCN.
- Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy
vấn đề nhà nước trong triết học; triết học trong các trường y, dược; một số chuyên
đề của chủ nghĩa xã hội khoa học trong chương trình Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác-Lênin dành cho các trường cao đẳng, đại học ở nước ta và góp phần
làm cơ sở lý luận cho việc xác định một số nhiệm vụ của ngành y tế Việt Nam.
6. Kết cấu tổng quát của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương, 12 tiết.
9
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, phát triển KTTT định hướng XHCN, Đảng
hết sức chú trọng nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn Nhà nước và khẳng định rõ chủ
trương: “Tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm
Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”[42,
tr.246]. Trong thực tiễn đổi mới, chúng ta nhận thức rằng phát triển xã hội và quản
lý xã hội đều vì hạnh phúc con người, phục vụ con người. Trong quá trình ấy, Nhà
nước có vai trò nòng cốt, là người xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp
luật, chiến lược và các chương trình quốc gia về việc huy động, quản lý và phân
phối các nguồn lực vật chất, nâng cao chất lượng các dịch vụ giáo dục, y tế và tạo
điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được
hưởng các thành quả đó, cũng như được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất.
Trước yêu cầu đó, việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về chăm sóc sức khỏe
cộng đồng và đặc biệt là vai trò của nhà nước đối với chăm sóc sức khỏe cộng
hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Lý luận chính trị(2), tr.77-80, năm 2007 của tác giả Đỗ
Văn Thống cho rằng, quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), nhất
là ở nông thôn cùng với việc xuất hiện nhiều làng nghề, một mặt đã cải thiện đáng
kể đời sống vật chất của người dân. Mặt khác, việc khai thác, tiêu hủy các cánh
rừng tự nhiên, chất thải độc hại không được xử lý, ô nhiễm môi trường đã tác động
rất lớn đến đời sống và sức khỏe của nhân dân. Từ việc khảo sát thực trạng sức khỏe
người dân từ các làng nghề ở nông thôn Việt Nam, tác giả đưa ra những dẫn chứng
và khẳng định, sức khỏe cộng đồng ở những làng nghề rất đáng lo ngại, họ thường
gặp một số bệnh dị ứng, bệnh liên quan đến hô hấp, mắt, cơ khớp, xương…. “Kết
quả nghiên cứu cho biết hiện nay môi trường không khí ở các khu vực đô thị và các
khu công nghiệp đang bị ô nhiễm nặng ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người”[94,
tr.79]. Những thách thức về môi trường và sự phát triển bền vững là không nhỏ
trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam. Nhà nước có trách nhiệm giải quyết
vấn đề này nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Cuốn sách “Sức khỏe toàn cầu” Nxb Y học, năm 2008 do Nguyễn Thị Kim
Chúc(dịch), đã phân tích các khái niệm sức khỏe và các yếu tố kinh tế-xã hội ảnh
hưởng và tác động rất lớn đến tình trạng sức khỏe của người dân ở mỗi quốc gia:
11
thu nhập, công bằng, về hỗ trợ giáo dục, văn hóa, dân tộc, thực phẩm, điều kiện vệ
sinh, các yếu tố môi trường, hành vi và đặc biệt là dịch vụ y tế. Tác giả của cuốn
sách khẳng định muốn nâng cao sức khỏe cộng đồng cần tác động vào nhiều yếu tố
trên. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng không phải cứ chi tiêu nhiều thuốc có nghĩa
là sẽ dẫn đến sức khỏe cộng đồng tốt, “Nhật Bản chi 6,5% GDP cho chăm sóc sức
khỏe, trong khi Mỹ chi tiêu nhiều gấp đôi. Nhưng người Mỹ vẫn có tuổi thọ trung
bình thấp hơn người Nhật”[23, tr.311] và khẳng định “có nhiều bằng chứng về
phương thức tốt nhất sử dụng tiền và nguồn lực trong lĩnh vực y tế hơn là phương
thức phân phối nguồn lực tối ưu nhất cho y tế”[23, tr.312]. Trên cơ sở phân tích các
dân tiếp cận được với các dịch vụ y tế. Tác giả chỉ ra sự khác biệt của công tác xã
hội trong chăm sóc sức khỏe là hoạt động cung cấp dịch vụ trong chăm sóc sức
khỏe cho người bệnh, nhóm người bệnh, gia đình người bệnh, cộng đồng dân cư là
những đối tượng bị tổn thương về mặt thể chất, tâm lý, xã hội. Những đối tượng này
gặp vấn đề với các cơ sở y tế, và họ không tự hòa nhập được với cộng đồng trong
chăm sóc sức khỏe. Với phương thức hoạt động như vậy, có thể nói công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe đang chia sẻ trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân
trong lĩnh vực y tế.
Cuốn sách “Y xã hội học và xã hội học về sức khỏe”, Nxb CTQG, Hà Nội,
năm 2013 của tác giả Đào Văn Dũng và Đỗ Văn Dung (đồng chủ biên), trên cơ sở
phân tích khái niệm sức khỏe bằng cách tiếp cận khái niệm này dưới nhiều góc độ:
Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các tác giả nêu khái niệm sức khỏe cộng đồng và
khẳng định có 3 nhóm cơ bản: yếu tố sinh học, yếu tố thiên nhiên khí hậu và các
yếu tố kinh tế-xã hội quyết định đến sức khỏe cộng đồng. Từ đó, đi đến phân tích
bối cảnh tác động đến chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong điều kiện KTTT định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay, phân tích những thời cơ, thuận lợi: Đảng và Nhà
nước đặc biệt quan tâm đến chăm sóc sức khỏe nhân dân; kinh tế phát triển, có điều
kiện đầu tư cho chăm sóc sức khỏe; giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí,
tăng cường hiểu biết về chăm sóc sức khỏe trong nhân dân, đội ngũ cán bộ y tế ngày
càng đông đảo với trình độ ngày càng cao; mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y
tế…cũng như những thách thức, khó khăn đối với chăm sóc sức khỏe cộng đồng:
lúng túng và thiếu triệt để trong thực hiện các chính sách trong lĩnh vực y tế; phân
hóa giàu nghèo; cơ cấu bệnh tật có nhiều thay đổi; nhu cầu và chi phí chăm sóc sức
13
khỏe tăng trong khi tỷ lệ chi tiêu công cho y tế còn hạn chế; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm
y tế thấp… Bên cạnh đó, cuốn sách chỉ ra khái niệm những nội dung của chăm sóc
sức khỏe nhân dân, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu chí công bằng trong chăm
chăm sóc và chữa bệnh trong xã hội Phương Tây như là một bộ phận của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Rằng phương thức hành động của y học cận đại là
hợp pháp hóa nó trong mục đích là tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. Với
ngành y học, việc chăm sóc sức khỏe đã lớn mạnh thành một ngành công nghiệp
đóng góp cho việc duy trì tính hợp pháp của trật tự xã hội, cũng như góp phần tạo ra
một lĩnh vực sản xuất mới[115, tr.546]. Theo tác giả, bệnh tật và cả những cách
chữa trị của nó, vốn là những hành động chính trị. Bởi vì, mỗi giai đoạn trong sự
phát triển của nền kinh tế lại tạo ra những điều kiện cho sự phát triển những bệnh tật
đặc thù và cũng đưa ra một cách chữa bệnh đặc thù.
Cuốn “Sociology”, Nxb New York năm 1987 của tác giả Ian Robeetson cho
rằng, giữa thế kỉ XIX, thuyết Vi trùng học của Louis Pasteur thực sự là một cuộc
cách mạng trong lĩnh vực y học. Nó chấm dứt cách nhìn siêu thực về bệnh tật, mở
ra một khả năng nghiên cứu về sức khỏe không phải chỉ từ phía các bác sĩ, mà từ cả
các nhà tâm lý học, tâm thần học, nhân chủng học và các nhà văn hóa[114, tr.432].
Thuyết Vi trùng học là cơ sở khoa học cho việc xem xét bệnh tật và sức khỏe trong
mối quan hệ với các nhân tố xã hội và văn hóa trong nhiều thập kỉ giữa thế kỷ XIX.
Tiếp đó, tác giả cũng đưa ra thuyết xung đột về y học và sức khỏe, trong đó nhấn
mạnh rằng, sự không bình đẳng trong xã hội ảnh hưởng rất lớn đến mô hình bệnh
tật và chăm sóc sức khỏe. Sự mất cân đối, không bình đẳng về sức khỏe chính là
hậu quả của phân tầng xã hội, sự phân biệt chủng tộc và giai cấp. Sức khỏe cũng là
một nguồn giá trị như mọi nguồn giá trị khác, còn hệ thống chăm sóc sức khỏe thì
được hình thành trên cơ sở sự chạy đua của con người để dành lấy sức khỏe tốt. Hệ
thống này có thể là giảm bớt hoặc giữ nguyên, hoặc làm tăng lên những bất bình
đẳng về sức khỏe vốn đã có trong xã hội [114, tr.493-450]. Dựa trên quan điểm này,
các nhà dịch tễ học ở Phương Tây thời kì đó đã kết luận rằng các loại bệnh của
người da đen ở Mỹ đều bắt nguồn từ sự định kiến và tệ phân biệt chủng tộc. Quan
điểm xung đột về y tế, về sức khỏe và bệnh tật cho đến nay vẫn còn được sử dụng
rộng rãi ở Mỹ và một số nước Tây Âu.
“The solid facts; Social determinants of health” của tác giả Richard Wilkison
và Micheal Marmot, năm 1998 đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe.
người lao động”, Nxb Y học, Hà Nội, năm 2005 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú
…đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề sức khỏe ở nhiều khía cạnh khác nhau.
16
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận và thực trạng
vai trò của nhà nƣớc đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trên thế giới, đối với cả những nước phát triển và đang phát triển, vấn đề
chức năng xã hội của nhà nước được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: kinh tế,
pháp luật, chính trị, văn hóa…. Không chỉ dừng lại ở đó, ngày nay, chức năng xã
hội của nhà nước còn thể hiện ở nhiều phương diện khác, phong phú và đa dạng
hơn: thiết lập hệ thống bảo hiểm, an sinh, phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, giảm
thất nghiệp…đặc biệt, trong lĩnh vực y tế nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho
nhân dân. Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này:
Trong cuốn sách “Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công-nhận
thức, thực trạng và giải pháp”, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, năm 2002 của tập
thể tác giả do Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên gồm nhiều bài viết bàn về dịch vụ công,
đã luận giải vai trò của nhà nước trong cung ứng các dịch vụ công như: giáo dục; y
tế… xuất phát từ chức năng của nhà nước. Trong công trình này, có nhiều bài viết
của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài luận án:
Bài viết “Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ
công” (trang 9-20) của tác giả Nguyễn Ngọc Hiến khẳng định, xuất phát từ chức
năng phục vụ, Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm cung ứng cho nhân dân những
dịch vụ công cộng, thiết yếu, tối cần thiết của cả cộng đồng: y tế, giáo dục…bởi
những dịch vụ này tư nhân không muốn cung ứng vì không có lợi nhuận hoặc
không đủ quyền lực và vốn liếng để tổ chức cung ứng (tiêm chủng, cứu hỏa, an
ninh…). Tác giả nhấn mạnh: “Cũng có những loại dịch vụ mà tư nhân có thể cung
cấp, nhưng cung cấp không đầy đủ, hoặc thị trường tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng,
gây ra tình trạng độc quyền, đẩy giá lên cao, làm ảnh hưởng tới lợi ích người tiêu
bảo hiểm y tế; tăng hợp tác quốc tế…
Bài viết “Đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học”(trang
279) của Hà Quang Ngọc khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, Nhà nước có trách nhiệm chăm
lo cho đời sống của nhân dân, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế…Nhu cầu của nhân
dân ngày càng tăng, trong khi ngân sách nhà nước thì có hạn, do đó, giải pháp tháo
gỡ mâu thuẫn này đòi hỏi phải xã hội hóa, nhằm chia sẻ gánh nặng về tài chính:
“Việc đẩy mạnh và mở rộng xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, y tế,
18
giáo dục, khoa học có ý nghĩa quan trọng. Nó không chỉ làm giảm gánh nặng đối
với hoạt động của Nhà nước mà còn góp phần xây dựng và phát triển kinh tế- xã
hội, trực tiếp tham gia vào quá trình cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước vững
mạnh”[52, tr.289]. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người
dân, mỗi tổ chức doanh nghiệp và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia vào giải
quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai xã hội hóa trong
lĩnh vực y tế đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, nguyên nhân không phải xuất phát từ
chủ trương mà do quá trình thực hiện. Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp tháo
gỡ những bất cập trên nhằm thúc đẩy dịch vụ y tế phát triển theo đúng chủ trương,
đường lối của Đảng và Nhà nước.
Bài “Đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân” , Tạp chí
Cộng sản, số 31/2002, tr.10 của tác giả Phạm Mạnh Hùng cho rằng, để đảm bảo
được tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe, hệ thống tài chính cần có hai yếu tố
cơ bản: Một là: Ngân sách nhà nước phải là nguồn kinh phí chính dành cho y tế;
Hai là: Nhà nước phải có chính sách và biện pháp hữu hiệu để tổ chức cho nhân
dân chi trả phần còn lại. Từ khảo sát thực trạng, tác giả chỉ rõ: chi tiêu công cho y tế
ở nước ta còn thấp, trong khi đó, việc tổ chức cho nhân dân chi trả phần còn lại
chưa được thực hiện tốt. Người dân chủ yếu chi trả thông qua viện phí trực tiếp cho
rộng diện bao phủ qua mỗi năm, giải pháp viện phí đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho
chi tiêu các dịch vụ y tế, nhất là khám chữa bệnh tại các bệnh viện….Bên cạnh
những kết quả đạt được, tác giả cũng chỉ ra những yếu kém và hạn chế: Chất lượng
dịch vụ y tế còn chưa đáp ứng với nhu cầu của nhân dân; hệ thống y tế chậm đổi
mới, chưa thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN và sự thay đổi của cơ
cấu bệnh tật; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc thiết yếu còn thấp; công tác y tế
dự phòng còn nhiều bất cập; một bộ phận cán bộ y tế còn vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, làm phai mờ lòng tin của nhân dân đối với ngành y tế….Theo tác giả,
nguyên nhân của thực trạng trên là do: quản lý Nhà nước trong lĩnh vực y tế còn
nhiều bất cập, chưa có hệ thống chính sách tài chính y tế đồng bộ; Đầu tư ngân sách
nhà nước cho y tế còn thấp, đặc biệt sử dụng kém hiệu quả; chưa thực sự huy động
được các nguồn lực từ cộng đồng; đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu và yếu, chế độ đãi
ngộ chưa thỏa đáng; ngay cả lãnh đạo các cấp vẫn còn chưa có nhận thức đúng đắn
về sức khỏe và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
20
Luận án Chính trị học “Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công
bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay”, Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm
2011 của Võ Thị Hoa phân tích cho chúng ta khái niệm công bằng xã hội, ở đó, Nhà
nước có vai trò đảm bảo công bằng xã hội cho mọi người dân về cơ hội và những
điều kiện để nắm bắt và tranh thủ cơ hội, biến cơ hội thành hiện thực để phát triển.
Từ đó, chỉ ra những thành tựu mà Nhà nước đã đạt được trong việc thực hiện công
bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân: các chính sách khám chữa bệnh miễn phí
cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách hỗ trợ viện phí, hỗ trợ bảo hiểm xã
hội cho hộ nghèo…được thực hiện khá tốt đem lại niềm tin cho nhân dân vào chế
độ. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong vai trò của Nhà nước đối
với việc thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: Chính sách
Luận án triết học “Vấn đề thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Việt
Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay”, Học viện Chính trịHành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2012 của Dương Thị Thục Anh đã
luận giải chức năng xã hội của Nhà nước. Trên cơ sở phân tích quan điểm của Chủ
nghĩa Mác- Lênin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về chức năng xã hội của
Nhà nước Việt Nam, Luận án đã đi vào khảo sát thực trạng việc thực hiện chức
năng xã hội của Nhà nước trong chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân và
chỉ ra một số thành tựu: hoạt động của Nhà nước trong công tác y tế có nhiều tiến
bộ, tạo điều kiện cho người dân được chăm sóc sức khỏe, có nhiều chính sách ưu
tiên đối với các đối tượng, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, người nghèo, người
thuộc diện chính sách, chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên…đồng thời cũng
chỉ ra những hạn chế của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe nhân dân: hệ thống y
tế chậm đổi mới; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu của người dân; điều
kiện chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế; đầu
tư nhà nước và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển y tế chưa hiệu quả; chính
sách sử dụng và đào tạo cán bộ y tế còn nhiều bất cập….Từ đó tác giả Luận án đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện
chức năng xã hội.
Bài viết “Hướng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân”, Tạp chí
Tuyên giáo, số 6 năm 2013, trang 68-70 của tác giả Đào Văn Dũng, Phạm Gia
22