Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam hiện nay và hoạt động của công tác xã hội ( Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu, Nghệ An) - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

TRƢƠNG THỊ ĐIỂM

CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá – Quỳnh Lưu – Nghệ An)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Công tác Xã hội
Mã số: 60 90 01 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi

Hà Nội – 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Vũ Mạnh Lợi.
Kết quả nghiên cứu của luận văn dựa trên quá trình thu thập thông tin, khảo
sát.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên
Trƣơng Thị Điểm


LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Mạnh Lợi

1.1 Các khái niệm công cụ ........................................................................................ 25
1.1.1. Người cao tuổi .................................................................................................25
1.1.2. Sức khỏe, chăm sóc sức khỏe ..........................................................................26
1.1.3. Nông thôn ........................................................................................................28
1.1.4. Công tác xã hội ...............................................................................................29
1. 2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ............................................................... 29
1.1.5. Thuyết phát triển nhu cầu con người ..............................................................29
1.1.6. Lý thuyết hiện đại hóa của William Goode .....................................................30
1.1.7. Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons .........................................31
1.1.8. Thuyết vị thế vai trò (G.H.Mead) ....................................................................31
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý người cao tuổi ................................................................. 35
1.4. Luật pháp và chính sách của Việt Nam đối với Người cao tuổi ........................ 36
1.5. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ........................................................................... 39

1


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CAO TUỔI Ở
NÔNG THÔN TẠI XÃ QUỲNH BÁ ................................................................................ 45
2.1. Đặc điểm đời sống người cao tuổi tại địa phương ............................................. 45
2.1.1. Quy mô gia đình và sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ............................45
2.1.2. Mối quan hệ giữa người cao tuổi và các thành viên trong gia đình .......................48
2.1.3. Hoạt động kinh tế và thu nhập của người cao tuổi .........................................54
2.2. Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn xã .......................... 64
2.2.1. Sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu ...................................................64
2.2.2. Hoạt động của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ...69
2.3. Tổ chức xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ........................ 77
2.3.1. Khám chữa bệnh miễn phí ...............................................................................77
2.3.2. Các tổ chức đoàn thể người cao tuổi tham gia ...............................................79
Chƣơng 3: TRIỂN VỌNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CAO TUỔI

Hình 2.16. Mức độ hài lòng của người cao tuổi với cư xử của mọi người trong hộ
gia đình ......................................................................................................................53
Hình 2.17. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động tạo thu nhập..............................54
Hình 2.18. Đánh giá thu nhập dành cho sinh hoạt cá nhân hàng ngày (%) ..............57
Hình 2.19. Lý do người cao tuổi không tham gia lao động tạo thu nhập .................58
Hình 2.20. Nguồn thu nhập của người cao tuổi không tham gia lao động tạo thu
nhập ...........................................................................................................................59
Hình 2.21. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia làm việc nhà trong 1 tháng qua...............60
Hình 2.22. Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình người cao tuổi ...........................62

3


Hình 2.23. Ước tính thu nhập trung bình của mỗi người trong hộ gia đình người cao
tuổi trong 12 tháng qua .............................................................................................63
Hình 2.24. Đánh gia kinh tế hộ gia đình mình so với các hộ khác trong thôn..........63
Hình 2.25. Tỷ lệ hộ nghèo theo quy đinh của Bộ LĐTB và XH ..............................64
Hình 2.26. Người cao tuổi tự đánh giá tình trạng sức khỏe theo độ tuổi ..................65
Hình 2.27. Người cao tuổi tự đánh giá tình trạng sức khỏe theo giới tính ...............66
Hình 2.28. Tỷ lệ đọc, viết của người cao tuổi ...........................................................66
Hình 2.29. Mức độ đi lại của người cao tuổi ............................................................67
Hình 2.30. Tỷ lệ người cao tuổi có bệnh mãn tính ...................................................68
Hình 2.31. Tỷ lệ người cao tuổi mắc 2 bệnh mãn tính..............................................68
Hình 2.32. Hoạt động sinh hoạt của người cao tuổi cần sự hỗ trợ ............................70
Hình 2.33. Tỷ lệ người cao tuổi có bảo hiểm y tế .....................................................79
Hình 2.34. Tỷ lệ người cao tuổi nhận được sự hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe trong 12
tháng qua ...................................................................................................................78
Hình 2.35. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia sinh hoạt tại các hội, câu lạc bộ ..............80

4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang
có xu hướng gia tăng nhanh. Theo dự báo của Tổng cục Thống kê năm 2010 (GSO,
2010) cho thấy tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng
dân số vào năm 2017, tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già
hóa” từ năm 2017. Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập kỷ nữa dân số
Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng từ 35,5 năm 2009
lên hơn 100 vào năm 2032. Già hóa dân số sẽ có những khó khăn, thách thức trong
việc thực hiện chính sách, đảm bảo các nhu cầu trong cuộc sống, đặc biệt là nhu cầu
chăm sóc sức khỏe.
Ở Việt Nam, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi vừa mang ý
nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Từ xưa nhân
dân ta đã có những câu ca dao, tục ngữ như: “uống nước nhớ nguồn” hay “công
cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra...”. Người cao
tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống hiến cho xã hội vì vậy cần phải có những
chính sách phù hợp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Nhà nước ta đã có
những chính sách, sự quan tâm đến đời sống, sức khỏe của người cao tuổi.
Vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở thành thị và nông thôn khác
nhau do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất. Mô hình gia đình hạt nhân
ngày một phổ biến ở nông thôn. Ở nhiều gia đình, con cái trưởng thành đi làm ăn xa
không thường xuyên đóng góp hay chăm sóc cho cha mẹ đã già. Nhiều người cao
tuổi không cùng sống với con cái trong một mái nhà, họ tự lo từng bữa cơm, tự
chăm sóc. Ở nông thôn những gia đình làm nông nghiệp, sau thời gian vào vụ mùa
những người nông dân thường nhàn rỗi ít có công việc làm thêm tại địa phương lực
lượng lao động chính (là thanh niên; trung niên) ở nông thôn di cư ra những thành
phố lớn tìm việc làm để tăng thu nhập, dẫn đến tình trạng hiện nay ở nông thôn chủ
yếu chỉ có người già và trẻ em. Họ là hai đối tượng cần được chăm sóc thì ngược
lại, họ tự chăm sóc lẫn nhau. Nhiều người cao tuổi đã đến lúc cần được nghỉ ngơi,


Lưu – Nghệ An) để tìm hiểu thêm về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông
thôn.

7


2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu quốc tế và khu vực
2.1.1. Già hóa dân số và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Già hóa dân số đã và đang là vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới, do
giảm sinh và tăng tuổi thọ ngày càng có nhiều nước dân số bị già hóa nhanh. Giữa
năm 2005 và 2050, một nửa số dân tăng trên thể giới là do tăng dân số ở độ tuổi 60
trở lên, trong khi đó số trẻ em (những người dưới 15 tuổi) sẽ giảm nhẹ. Hơn nữa, ở
những vùng phát triển hơn, dân số 60 tuổi trở lên dự tính tăng gần gấp đôi (từ 245
triệu năm 2005 lên đến 406 triệu vào năm 2050), trong khi dân số dưới 60 tuổi sẽ
giảm (từ 971 triệu năm 2005 xuống còn 839 triệu năm 2050).1
Số lượng người cao tuổi ngày một gia tăng nhanh chóng, trong năm 2010
ước tính có khoảng 524 triệu người ở độ tuổi 65, chiếm 8% dân số của thế giới
nhưng đến năm 2050, con số đó tăng lên gần 1.5 tỉ và chiếm 16% dân số thế giới.
Già hóa dân số phát triển nhanh ở các nước kém phát triển.2
Già hóa dân số dẫn đến sự thay đổi trong nhân khẩu học. Điều này đặt ra
những thách thức mới cho các gia đình, cộng đồng và các quốc gia nói chung, đặc
biệt là mô hình gia đình hạt nhân, ít thế hệ sinh sống trong một gia đình trong việc
quan tâm đến người cao tuổi. Người cao tuổi sẽ sống lâu hơn và cũng sẽ có rất ít
người trẻ để hỗ trợ họ. Ngoài ra, điều này cũng tác động đến độ tuổi lao động các
nguồn lực cho dịch vụ y tế và hỗ trợ xã hội. (Population ageing and the well-being
of older persons in Thailand: Past trends, current situation and future challenges,
2008, John Knodel Napaporn Chayovan).
Sự gia tăng nhanh chóng về số người cao tuổi đã ảnh hưởng đến các dịch vụ
y tế, đặc biệt là chi phí cho y tế ngày một cao, việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc y

liên hệ giữa các thế hệ tập trung nhiều hơn vào mối quan hệ giữa người cao tuổi và
các thành viên trong gia đình. Sussman (1991) cho rằng hiện đại hoá là nhân tố
chính ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa các thế hệ trong gia đình. Khi mô hình gia
đình gia đình hạt nhân ngày một tăng lên thay thế cho gia đình truyền thống, gia
đình hai thế hệ ngày một phổ biến, trẻ em ngày càng ít được gặp gỡ thường xuyên
với những thành viên lớn tuổi. Mối quan hệ giữa những người lớn tuổi với trẻ em
ngày một mờ dần, sự quan tâm chăm sóc người lớn tuổi ngày một ít đi, hay chăng
đó chỉ là quan tâm về mặt vật chất còn về mặt tinh thần, sức khỏe không được chú
ý.4
Ge Lin (2002) sử dụng luận điểm về hiện đại hoá của Goode rằng khi một
xã hội hiện đại hoá, cấu trúc gia đình mở rộng sẽ chuyển đổi thành gia đình hạt
3
4

Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân.
Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân.

9


nhân do đó làm suy yếu mối quan hệ qua lại giữa các thế hệ. Sự suy giảm những hỗ
trợ từ gia đình, cả về mặt xã hội và kinh tế là chịu tác động của công nghiệp hoá
và hiện đại hoá. Quá trình đô thị hoá cũng diễn ra nhanh chóng ở nông thôn, sự
suy giảm quyền lực, việc làm của người cao tuổi đã xảy ra trên khắp thế giới. 5
Vai trò của gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi cũng ngày càng thay
đổi, gia đình có trách nhiệm chăm sóc trẻ nhỏ và người lớn tuổi, nhưng hiện nay với
mô hình gia đình hạt nhân, với sự hiện đại hóa và công nghiệp hóa thì vai trò đó
của gia đình lại được Nhà nước và các tổ chức xã hội đảm nhiệm. Số lượng, và tỷ lệ
phần trăm của những người lớn tuổi sống một mình đang gia tăng ở hầu hết các
nước. Ở một số nước châu Âu, hơn 40 % phụ nữ trong độ tuổi từ 65 tuổi trở lên

cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất. So với các nước khác trên thế giới thì tốc độ
già hóa dân số Việt Nam khá cao. Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn „già hóa‟
sang „già‟) là ngắn hơn nhiều nước: Pháp mất 115 năm; Mỹ mất 69 năm, Nhật Bản
và Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất 20 năm. Là một nước
thuộc nhóm nước đang phát triển thì đây thực sự là thách thức lớn cho Việt Nam
trong việc thích ứng với sự già hóa nhanh, ảnh hưởng đến cơ cấu độ tuổi lao động,
các hệ thống chính sách và dịch vụ... [18, tr.19]
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người cao tuổi
Ngoài những yếu tố về di truyền, lối sống, bệnh tật, khả năng thích ứng với
ngoại cảnh còn có những yếu tố ngoại cảnh như môi trường xã hội, thể chế, mức
sống, tài chính, đạo đức truyền thống, sự giúp đỡ của gia đình và cộng đồng. Dựa
vào những yếu tố này có thể biết và hiểu rõ hơn về những tác động đến sức khỏe
người cao tuổi và có những biện pháp hỗ trợ hiệu quả. Người cao tuổi sau bao nhiêu
năm cống hiến cho xã hội, lo cho con cái và khi về già họ cần có sự quan tâm, sự
tôn trọng của những người xung quanh để không cảm thấy cô đơn và có cảm giác bị
bỏ rơi. Những yếu tố kính trọng, “uống nước nhớ nguồn” sẽ tác động tích cực cho
sức khỏe người cao tuổi, ngược lại, sự lãng quên, mâu thuẫn giữa các thế hệ, sa sút
đạo đức tác động tiêu cực đến sức khỏe người cao tuổi. (Người cao tuổi và an sinh
xã hội, 1994, Trịnh Duy Luân, Lê Truyền, Bùi Thế Cường).
Số người cao tuổi tăng lên sẽ làm tăng thêm áp lực cho kinh tế, xã hội để duy
trì cuộc sống khỏe mạnh cho người cao tuổi, vấn đề tài chính cho các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe ngày càng quan trọng, chi phí khám chữa bệnh tăng. Trong báo cáo
tổng quan về chính sách chăm sóc người già của PGS.TS Phạm Thắng và TS Đỗ
Thị Khánh Hỷ đã nêu lên những khó khăn, thách thức trong công tác chăm sóc sức

11


khỏe cho người cao tuổi, những bệnh tật, chi phí khám chữa bệnh, dịch vụ chăm sóc
sức khỏe...

12


gia đình và 50,9% chia sẻ kinh nghiệm làm ăn với con cháu. Sự hỗ trợ đối với con
cháu vừa thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, vừa khiến người được
hỏi cảm nhận được bản thân mình vẫn có ích dù đã nhiều tuổi.
Sự hỗ trợ, mối tương tác qua lại giữa cha mẹ với con cháu hay giữa con cháu
với cha mẹ là thể hiện sự yêu thương, đạo lý từ xưa. Việc phát huy tinh thần này
trong cuộc sống hằng ngày sẽ giúp cho người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn cả về
tinh thần và vật chất.
* Mối quan hệ tình cảm, tinh thần giữa người cao tuổi và con cháu: “Kính
trên nhường dưới”, kính lão, là truyền thống đạo đức bao đời nay. Tuy nhiên với
sự phát triển của kinh tế, xã hội, sự thay đổi của mô hình gia đình, nhiều người
cao tuổi sống riêng với con cái, khoảng cách về không gian sống, lối sống đã tác
động đến tình cảm giữa người cao tuổi với con cháu và ngược lại.
Đối tượng tâm sự, trò chuyện của người cao tuổi là những người thân trong
gia đình. Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006 cho thấy 37,5% người cao tuổi
thường trò chuyện, tâm sự với vợ hoặc chồng của mình khi vui buồn trong cuộc
sống, 24,8% trò chuyện với con cái và 12,5% tâm sự, trò chuyện với bạn bè và hàng
xóm. Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt giữa người cao tuổi là nam và người cao tuổi
là nữ trong việc trò chuyện, tâm sự. Phụ nữ nói chuyện với con cái nhiều hơn nam
giới. 37% phụ nữ cao tuổi cho biết họ nói chuyện với con, 19,1% với chồng và
12,6% với bạn bè, hàng xóm. Trong khi đó, 56% người cao tuổi là nam trò chuyện
với vợ, 12% với con cháu và 12,6% với bạn bè hoặc hàng xóm.
Không chỉ có con cháu mới hỗ trợ, giúp đỡ cha mẹ, ngược lại cha mẹ cũng
hỗ trợ, giúp đỡ con cháu như trông nom, giáo dục con cháu. Trong nghiên cứu của
Đặng Cảnh Khanh, người cao tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục con
cái các giá trị truyền thống trong gia đình. 1/4 số người cao tuổi được hỏi thường
xuyên trao đổi với con cháu, đặc biệt là trong việc giáo dục các giá trị văn hóa
truyền thống. Người cao tuổi là nhóm có mực độ quan tâm đến việc giáo dục con


7

Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân.
Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân.
9
Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân.
8

14


thành thị có sức khỏe bình thường trở lên là 51,2 % còn ở nông thôn là 48,2%.
Những nơi có mức sống cao thì sức khỏe người cao tuổi tốt hơn.
Các cuộc nghiên cứu, điều tra về người cao tuổi cũng đã phản ánh tình hình
sức khỏe người cao tuổi nói chung, hay sức khỏe của nam người cao tuổi so với nữ
người cao tuổi. VNAS thu thập số liệu từ tháng 10 – 12/2011 tại 12 tỉnh, thành phố
đại điện cho 6 vùng sinh thái của Việt Nam (bao gồm Thái Nguyên, Hưng Yên,
Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đắk Lắk, Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang
và TP. Hồ Chí Minh). Hơn 4.000 người đại diện cho nhóm dân số cận cao tuổi
và cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên) đã được mời tham gia cuộc điều tra này. Tại thời
điểm điều tra, có tới trên 50% số người cao tuổi được phỏng vấn cho rằng, tình
trạng sức khỏe hiện tại là yếu hoặc rất yếu. Đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau lưng
là các triệu chứng thường gặp nhất người cao tuổi. Gần 40% người cao tuổi được
chẩn đoán có bệnh huyết áp. Trên 30% người cao tuổi được chẩn đoán viêm khớp.
Tiếp theo là một số bệnh như tim mạch, răng miệng, viêm phế quản hoặc bệnh phổi
mãn tính, song tỷ lệ mắc các bệnh này không quá 20%. Người cao tuổi ở thành thị
mắc tiểu đường cao hơn nông thôn. Tỷ lệ người cao tuổi gặp ít nhất một khó khăn
trong sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo hay đi đại tiểu tiện là
30%. Hơn 80% người cao tuổi bị chấn thương trong vòng 12 tháng qua được điều

2.2.3. Chính sách và phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi
Nhà nước đã và đang có những chủ trương, chính sách, pháp luật dành cho
người cao tuổi, để đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cả về tinh thần, vật chất và sức khỏe
cho họ.
Theo điều 17 Luật người cao tuổi (2009), đối tượng được hưởng chính sách
bảo trợ xã hội gồm: Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người phụng
dưỡng nhưng người này đang được hưởng chế độ trợ cấp chế độ xã hội hàng tháng,
và người đủ 80 tuổi trở lên không thuộc trường hợp trên mà không có lương hưu,
trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng. Quy định này đã giúp người cao
tuổi cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi không có thu nhập đảm bảo có
được cuộc sống tốt hơn. Trong Nghị định 06/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011, xác
định mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng đối với
người cao tuổi là 180.000 đồng, thay vì 120.000 đồng như quy định cũ. Thể hiện sự
quan tâm của xã hội đối với người cao tuổi, góp phần giúp cuộc sống người cao tuổi
đảm bảo hơn. Hiện tại, người cao tuổi ở nông thôn ở địa bàn nghiên cứu đã được
hưởng chính sách về trợ cấp xã hội.

16


Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/ 2004/TT- BYT hướng dẫn
thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao
tuổi được… chăm sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được
chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ
ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người
cao tuổi tại địa phương. Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong
chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi… Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc
sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà. Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm
quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại địa
phương. Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa bị ốm

tác chăm sóc người cao tuổi còn hạn chế... và đề ra những nhiệm vụ đối với các Bộ,
ban ngành. Thể hiện tính cấp thiết của vấn đề già hóa dân số, đồng thời thể hiện sự
quan tâm của các tổ chức, ban ngành trong xã hội đối với người cao tuổi.
Phát huy hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi là một nhiệm vụ quan
trọng, sau nhiều năm lao động và cống hiến, nuôi dạy giáo dục con cái người cao
tuổi cần được đảm bảo vể nơi ăn chốn ở, chăm sóc khi ốm đau, được tôn trọng.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì việc đảm bảo an sinh xã hội cho
người cao tuổi ngày một quan trọng hơn (Bùi Thế Cường, 1992, Người có tuổi và hệ
thống An sinh xã hội). Ở Việt Nam hiện nay có những mô hình an sinh xã hội được
ghi nhận đó là: Mô hình an sinh xã hội truyền thống, trong đó gia đình và dòng họ
đóng vai trò chăm sóc chính; mô hình an sinh xã hội được xây dựng theo cấu trúc
kinh tế tập trung bao cấp, theo đó trợ cấp nhà nước đóng vai trò chính (trong thời kỳ
bao cấp); tiếp đến là bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội đóng vai trò (sau
đổi mới) và hiện nay là mô hình an sinh xã hội hỗn hợp gồm Nhà nước, gia đình, họ
hàng, cộng đồng. (Báo cáo sơ bộ tổng quan vai trò nhà nước và gia đình trong
chăm sóc người cao tuổi, 2014, TS. Trần Thị Minh Thi và Cộng sự).
Tóm lại, các nghiên cứu đã nêu lên được quá trình già hóa dân số nhanh
chóng với số lượng người cao tuổi gia tăng mạnh mẽ hàng năm, những đặc điểm và
các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của người cao tuổi, sự quan tâm hỗ trợ từ phía
gia đình đối với người cao tuổi và ngược lại. Tuy nhiên, sự chăm sóc sức khỏe cho
người cao tuổi hiện nay của gia đình đang có những thay đổi trong bối cảnh hạt
nhân hóa gia đình truyền thống cũng như dưới tác động của các biến đổi về thể chế,

18


kinh tế, xã hội, văn hóa trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa. Gia đình có còn
đóng vai trò chính trong việc chăm sóc người cao tuổi nữa không hay vai trò đó
đang dần được chuyển đổi sang cho nhà nước và các tổ chức xã hội? Luận văn là nỗ
lực làm rõ hơn vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn, mức độ

dịch vụ (công và tư) đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã.
+ Tìm hiểu những hỗ trợ xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe cho người
cao tuổi tại xã.
6. Ý nghĩa của nghiên cứu
6.2. Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp thêm hiểu biết lý luận và thực tiễn về vai trò gia đình, nhà
nước, và các tổ chức xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở
nông thôn. Về mặt lý luận, luận văn đóng góp thêm hiểu biết về khía cạnh an sinh
của người cao tuổi trong quá trình chuyển đổi mô hình gia từ truyền thống sang hiện
đại, vai trò ngày càng gia tăng của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc cung
cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Những thông tin thu được từ
thực tế sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho những nghiên cứu xã hội về
người cao tuổi và là tư liệu tham khảo cho các hoạt động thực tiễn trongng lĩnh vực
này.
6.3. Ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay người cao tuổi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang
có xu hướng gia tăng nhanh và đang là mối quan tâm của cộng đồng thế giới. Ở
Việt Nam, cùng với quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, phân
công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đa dạng, nhiều chức năng của gia
đình đang dần được chuyển cho các thiết chế, tổ chức bên ngoài gia đình đảm
nhiệm hoặc cùng đảm nhiệm. Trong bối cảnh đó, an sinh xã hội đối với người cao
tuổi nói chung cũng như việc chăm sóc người cao tuổi nói riêng ở nông thôn cũng
đang trong quá trình chuyển đổi từ chỗ gia đình thực hiện là chính sang hình thức
ngày càng có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng, các tổ chức xã hội, nhà nước và
xã hội. Những vấn đề về việc làm, thu nhập, tinh thần, sức khỏe... đối với người cao
tuổi cũng đang được cả gia đình, cộng đồng và xã hội quan tâm một cách toàn diện.
Chăm lo cuộc sống, sức khỏe cho người cao tuổi không chỉ là trách nhiệm của cá
nhân, gia đình mà toàn xã hội. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp mọi người nhận thức rõ

20

lượng, đề tài cũng vận dụng các lý thuyết như:

21


Thuyết nhu cầu: trong thuyết nhu cầu của Maslow tập trung vào thang bậc
nhu cầu của con người, tìm hiểu nhu cầu nào của người cao tuổi được đáp ứng và
nhu cầu nào chưa.
Thuyết hiện đại hóa: Thuyết hiện đại hóa giúp chỉ ra nguyên nhân của sự
thay đổi cấu trúc gia đình. Trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa, có sự thay đổi từ
mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hạt nhân, đồng thời có nhiều
gia đình có người trong độ tuổi lao động đi làm ăn xa dài ngày, để lại con cái nhỏ
cho cha mẹ già trông nom. Điều này ảnh hưởng đến vai trò của gia đình trong việc
chăm sóc người cao tuổi. Nếu như trước đây gia đình đóng vai trò chăm sóc người
cao tuổi là chủ yếu thì nay phần nào chức năng này được chuyển sang cho Nhà
nước và các tổ chức xã hội ở địa phương.
Thuyết cấu trúc chức năng: xem gia đình như một thiết chế xã hội, một hệ
thống con với chức năng, cấu trúc nhất định, với các vai trò, chuẩn mực, giá trị gắn
với vị trí của mỗi thành viên, mối quan hệ, gắn kết giữa các thành viên trong gia
đình nhằm đảm bảo cho sự vận hành bình thường của hệ thống (trong trường hợp
này là gia đình). Cùng với sự thay đổi của xã hội trong quá trình hiện đại hóa, đô thị
hóa, cấu trúc gia đình thay đổi dẫn đến thay đổi trong một số chức năng của gia
đình như chức năng chăm sóc các thành viên phụ thuộc là người già và trẻ em.
Thuyết này gợi ra rằng khi phân tích sự thay đổi trong mô hình chăm sóc người cao
tuổi trong gia đình, cần chú ý đến sự thay đổi cơ cấu của gia đình và mối quan hệ
của gia đình với các thiết chế khác tại địa phương (nhà nước, tổ chức xã hội tại địa
phương).
Thuyết vai trò: vai trò của gia đình trong vấn đề chăm sóc người cao tuổi khi
mà có sự thay đổi về xã hội và mô hình gia đình.
9.3. Phương pháp thu thập thông tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status