CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CẢI CÁCH HỆ THỐNG NHTM VIỆT
NAM VỚI CÁC BÀI HỌC ĐÚC KẾT TỪ KINH NGHIỆM CỦA
TRUNG QUỐC
I. XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ NGÂN
HÀNG
1. Chiến lược phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010
1.1. Quan điểm xây dựng chiến lược tổng thể phát triển ngành ngân hàng Việt
Nam
- Chiến lược phát triển ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 là một
chiến lược tổng thể toàn ngành, mang tính đồng bộ và phải nằm trong chiến
lược tổng thể phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010.
- Đổi mới về cơ bản cấu trúc tài chính, cấu trúc tổ chức, cấu trúc sở
hữu và môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng trong cơ chế thị trường
định hướng XHCN- Trong đó, các tổ chức tín dụng phải được tự do hoá trong
hoạt động kinh doanh, được tạo điều kiện mở rộng không gian hoạt động ra
ngoài lãnh thổ, chấm dứt mô hình hoạt động đan xen giữa tín dụng thị trường và
tín dụng chính sách trong cùng một Định chế tài chính hạch toán độc lập.
- Khuyến khích vai trò chủ động của NHNN trong hoạch định, chỉ đạo chiến
lược và điều hành chính sách tiền tệ, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tiền tệ
bằng việc phát triển các công cụ thị trường, xoá bỏ vai trò “Bộ chủ quản” của
NHNN đối với NHTM đồng thời tăng cường năng lực và hiệu lực của hoạt
động thanh tra, kiểm soát, kiểm toán các hoạt động theo luật định.
- Để chống tụt hậu của nền KTQD vì công nghệ ngân hàng, các tiện
ích ngân hàng trong các lĩnh vực thanh toán, chuyển tiền, kiều hối, lưu thông
hàng hoá và lưu thông vốn phải được phát triển một cách phổ biến theo hướng
phát triển các cơ chế cho phép tăng tối đa trách nhiệm phán quyết tài chính trên
cơ sở hình thành và hoạt động hữu hiệu của Ban quản trị rủi ro, Ban kiểm soát,
kiểm toán và hệ thống thanh toán hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.2. Mục tiêu tổng quát của chiến lược tổng thể phát triển ngành NHTM Việt
Nam
Xuất phát từ thực trạng một diện mạo tổng quan của hoạt động tiền tệ
cải cách hệ thống doanh nghiệp, nhất là DNNN, trong đó trọng tâm là gắn xử lý
nợ của hệ thống ngân hàng với xử lý nợ của DNNN.
- Cơ cấu lại hoạt động và giám sát ngân hàng: Từng ngân hàng phải
xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh mới, trong đó chú trọng việc mở
rộng quy mô hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiện đại hoá công nghệ,
đa dạng hoá và nâng cao tiện ích các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa
trên nền kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Xây dựng các định chế quản lý và đảm
bảo an toàn hoạt động phù hợp với chuẩn mực quốc tế như quản trị rủi ro, quản
trị tài sản nợ/có, quản trị vốn, kiểm toán nội bộ…Xây dựng hệ thống kế toán và
thiết lập các chỉ tiêu, báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực kế toán hiện đại.
Có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, cả về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,
đáp ứng yêu cầu hội nhập và cạnh tranh quốc tế.
2. Chiến lược hội nhập quốc tế của ngành ngân hàng
2.1. Quan điểm chiến lược về hội nhập kinh tế quốc tế ngành ngân hàng
Nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá, các nước đang
rất tích cực tham gia vào quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế. Việt Nam cũng
đang chủ động tham gia vào quá trình hội nhập ấy, trong đó có hội nhập quốc tế
về ngân hàng. Việt Nam đã tham gia các thoả thuận song phương và đa phương
như AFTA, WTO, APEC, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ và đang trong quá
trình đàm phán gia nhập WTO.
Quán triệt quan điểm và chủ trương hội nhập quốc tế lĩnh vực ngân
hàng, cải cách ngân hàng phải được tiến hành toàn diện và đồng bộ với cải cách
các khu vực kinh tế khác, coi đó là cơ sở để nhanh chóng củng cố và tăng
cường sức mạnh của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị
trường trong nước và quốc tế. Mặt khác, phải cải cách triệt để thông qua việc
hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm tạo hành lang pháp lý có hiệu lực, đảm bảo
sự bình đẳng giữa các đối tác, gây sức ép đổi mới và tăng hiêu quả lên các
NHTM như giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ, có khả năng tự bảo vệ
trước cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội nhập. Các chính sách đưa ra phải
gắn với điều kiện quốc tế, nhất là về tỷ giá, lãi suất và phải đảm bảo quyền lợi
hiệp định song phương và đa phương.
2.3. Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng Việt Nam
Có thể chia lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế về ngân hàng theo ba giai
đoạn quan trọng với các nội dung như sau:
(1)- Giai đoạn từ nay đến năm 2005. Trọng tâm của giai đoạn này là
thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, cụ thể là từng
bước cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính Hoa Kỳ cung cấp 12 phân
ngành dịch vụ tại Việt Nam theo lộ trình 7 mốc. Trước mắt, nới lỏng các hạn
chế đối với ngân hàng Hoa Kỳ về nhận tiền gửi, cho phép phát triển một số loại
hình tín dụng và thanh toán, tiếp cận nghiệp vụ tái cấp vốn của NHTW, tham
gia hoạt động tư vấn và môi giới kinh doanh ngoại tệ. Trong giai đoạn này, Việt
Nam cũng chuẩn bị đàm phán theo yêu cầu của GATS để gia nhập WTO.
(2)- Giai đoạn 2006-2010. Nội dung quan trọng về hội nhập kinh tế
quốc tế của giai đoạn này là tiếp tục thực thi các cam kết trong Hiệp định
Thương mại Việt- Mỹ, bắt đầu thực hiện Hiệp định chung về thương mại dịch
vụ (GATS) của WTO theo hướng thực hiện các hiệp định song phương đã ký
kết với các nước thành viên WTO, đồng thời bắt đầu thực hiện các yêu cầu đã
cam kết trong hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN. Cụ
thể là tiếp tục mở cửa dịch vụ ngân hàng và hình thức pháp lý trong hoạt động
ngân hàng đối với các trung gian tài chính Hoa Kỳ, đảm bảo đến năm 2010, các
ngân hàng Hoa Kỳ được đối xử như đối với các trung gian tài chính trong nước.
Đối với các nước thành viên WTO (không kể Mỹ) và các nước ASEAN, lộ trình
mở cửa dịch vụ tài chính- ngân hàng bắt đầu được thực hiện với nội dung tương
tự như giai đoạn 2001-2005. Cạnh tranh quyết liệt hơn (mặc dù vẫn có sự can
thiệp nhất định của NHNN do Việt Nam được hưởng những ưu đãi nhất định
đối với nước đang phát triển), cả về loại hình và chất lượng dịch vụ, những
khống chế hoạt động đối với các trung gian tài chính nước ngoài đã giảm rõ rệt.
(3)- Giai đoạn 2011-2020. Tiếp tục thực hiện những yêu cầu còn lại
của GATS và AFAS về mở cửa dịch vụ tài chính ngân hàng.
Theo các cam kết quốc tế đó, Việt Nam đã chủ động từng bước tự do
hệ thống ngân hàng của mình và đã đạt được những thành tưu đáng kể. Từ
những kinh nghiệm của Trung Quốc- một đất nước có nhiều nét tương đồng với
Việt Nam, vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của nước mình, Việt Nam đã tiến
hành công cuộc cải cách, đổi mới hệ thống ngân hàng nhằm đưa hệ thống ngân
hàng Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế.
1. Cải cách khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng
Trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa hội nhập, đặc biệt là trong
lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hệ thống pháp luật đòi hỏi phải rõ ràng minh
bạch và có tính thực thi cao. Theo nguyên tắc đó, Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) đã đặc biệt quan tâm đến việc xác lập một môi trường, khuôn khổ
pháp lý rõ ràng, có hiệu lực cũng như phù hợp với các thông lệ quốc tế. Trong
đó nguyên tắc là đảm bảo sự hoạt động an toàn, hiệu quả, tự chịu trách nhiệm,
đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng…Cụ thể là:
- Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về ngân hàng, đặc biệt là Luật sửa
đổi Luật các tổ chức tín dụng đang chờ phê duyệt; hoàn thiện văn bản pháp luật
về chống rửa tiền…
- Các văn bản của Thống đốc NHNN đã được ban hành nhằm xác lập
môi trường kinh doanh ngân hàng bình đẳng hơn giữa các ngân hàng, đảm bảo
sự độc lập trong hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật: Tự quyết
định lãi suất và mức độ rủi ro đối với khách hàng (cơ chế lãi suất thoả thuận-
Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN); tự quyết về tài sản bảo đảm tiền vay
(Nghị định 85/2002/NĐ-CP)
- Một số văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng như:
Nghị định 05/2001/CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 63 về quản lý ngoại hối;
Nghị định 16/2001/CP về tổ chức và hoạt động của công ty thuê tài chính; Nghị
định 64/2001/CP về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán; Nghị định 85/2002/CP bổ sung cho Nghị định 178/1999/NĐ-CP về
bảo đảm tiền vay…
- NHNN đã xây dựng một số dự thảo văn bản pháp quy mới nhằm
điều chỉnh những nghiệp vụ mới phát sinh như nghiệp vụ môi giới tiền tệ, thanh
sáp nhập hoặc hợp nhất các ngân hàng. Trong năm 2001 và 2002, việc thực hiện
chính sách trên đây đã đạt được những kết quả hết sức khả quan, giải thể 5 ngân
hàng, sáp nhập và bán lại 5 ngân hàng và đang tiếp tục xử lý các ngân hàng yếu
kém còn lại
2
.
- Đối với các NHTM QD: Hiện nay, việc cổ phần hoá các NHTM QD
cũng đang được xem xét và sẽ nhanh chóng được tiến hành trong thời gian tới
nhằm giảm bớt sự cồng kềnh trong bộ máy quản lý nhiều cấp, dễ dàng phát huy
tính năng động trong kinh doanh.
- Đối với các NHTM CP: Năm 1997, số lượng các NHTM CP là 51
ngân hàng, đến nay (30/4/2003) số lượng các NHTM CP là 37 ngân hàng, dự
kiến đến năm 2005, số lượng các NHTM CP sẽ là 25 ngân hàng
3
.
Song song với các hoạt động trên, các NHTM cũng đang tích cực phát
triển và mở rộng mạng lưới ngân hàng. Trên các nước tiên tiến hiện nay bình
quân có khoảng 1000 ngân hàng trên 1 triệu dân trong khi ở Việt Nam bình
quân chỉ có khoảng 55 ngân hàng trên một triệu dân
4
. Do vậy, các ngân hàng
2 Tạp chí T i chính Sà ố 5/2003
3 Báo cáo tình hình thực hiện Nghị Quyết 07-NQ-TW ng y 27/11/2001 cà ủa NHNN
4 Tạp chí T i chính Tháng 8/2003à
đang hoàn thiện các chi nhánh cấp II, cấp III tại các tụ điểm dân cư, trường học,
thị xã, thị trấn, các khu công ghiệp… Đồng thời mở thêm các chi nhánh phục
vụ tại các doanh nghiệp lớn, các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm…
3. Cơ cấu lại tài chính
Cơ cấu lại tài chính trong hoạt động ngân hàng là một trong những
vấn đề được quan tâm hàng đầu. Mục tiêu của việc cơ cấu này là làm cho việc
Nếu lợi nhuận thực hiện đạt và vượt mức đăng ký thì ngân hàng sẽ nộp thuế và
trích lập các quỹ trên cơ sở mức lợi nhuận đạt bằng 105% lợi nhuận thực hiện
năm trước, phần lợi nhuận còn lại thì được dùng toàn bộ số vượt đó để bổ sung
tăng thêm vốn điều lệ
5
.
(2) Gia tăng vốn từ các nguồn bên ngoài. Các nguồn bên ngoài có thể
giúp ngân hàng tăng vốn gồm: Vốn từ ngân sách cấp bổ sung, nguồn vay cho
mục đích cơ cấu lại các NHTM của WB và IMF, vốn do phát hành cổ phiếu
hoặc chứng khoán cấp cao. Cho đến nay, các NHTM QD chủ yếu vẫn dựa vào
nguồn ngân sách cấp bổ sung. Từ năm 2002 đến nay, NHNN đã phối hợp với
Bộ Tài chính trình Chính phủ thực hiện hai đợt cấp bổ sung vốn điều lệ cho các
NHTM QD. Đợt I đã thực hiện trong năm 2002 với số vốn cấp cho 5 NHTM
QD là 4900 tỷ đồng. Tiếp đến, ngày 4/6/2003, trên cơ sở thống nhất giữa Bộ Tài
chính và NHNN, Bộ Tài chính đã có một loạt quyết định cấp bổ sung 400 tỷ
đồng cho mỗi ngân hàng: Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương,
5 Tạp chí Ngân h ng Sà ố 13/2003
Ngân hàng ĐT&PT. Riêng Ngân hàng NN&PTNT được cấp 700 tỷ đồng. Như
vậy, cùng với số vốn được cấp đợt I trong năm 2002 thì tổng số vốn điều lệ các
NHTM QD được cấp bổ sung cả hai đợt đến nay là 6.800 tỷ đồng.
6
Đối với các
NHTM CP thì sau hơn 3 năm NHNN chỉ đạo tiến hành chấn chỉnh rất quyết liệt
thì đến nay đã có 32 ngân hàng tăng đủ vốn điều lệ theo quy định (70 tỷ VND),
một số ngân hàng còn đạt mức cao hơn
7
. Tuy nhiên, trong diều kiện nguồn vốn
Ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn thì yêu cầu tăng vốn cho các ngân
hàng sẽ trở thành mọt vấn đề nan giải và khó có thể đáp ứng được trong thời
gian ngắn. Ở các nước, việc phát hành cổ phiếu hay chứng khoán cấp cao để gia
kết hợp đối chiếu rà soát nợ giúp cho các ngân hàng đánh giá xác suất rủi ro từ
người vay, xác định khả năng thu hồi nợ. Từ việc đánh giá khách hàng liên quan
đến món vay, các NHTM thực hiện việc hoàn chỉnh về mặt pháp lý các hồ sơ
tín dụng. Đây là giải pháp làm rõ thực chất các khoản nợ xấu.
Thứ tư, đối với các khoản nợ tồn đọng có tài sản đảm bảo, cần tập
trung nghiên cứu xem xét, phân tích nguyên nhân làm chậm quá trình chuyển
hoá các tài sản này thành tiền. Lưu ý, khi xem xét giá trị tài sản gán nợ, xiết nợ
phải hợp lý, phù hợp với giá thị trường, thủ tục chuyển quyền sở hữu phải thuận
tiện, đơn giản…
Thứ năm, đối với các khoản nợ tồn đọng không có tài sản đảm bảo thì
việc xử lý cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành các cấp trong việc
nhắc nhở, đôn đốc, cưỡng chế đối với khách hàng.