Bài giảng
Hệ thống nông
nghiệp
1 / 71
MỤC LỤC
BÀI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của môn học
Trong giai đoan hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và thực tiễn
xã hội cùng với xu hướng quốc tế hóa toàn cầu các các mối quan hệ kinh tế thì việc tổ chức và
2 / 71
quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp trong đó có lĩnh
vực nông nghiệp.
Nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây đã có những biến đổi sâu sắc. Từ
một nền nông nghiệp tự cung tự cấp đã chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo cơ
chế thị trường. Sự chuyển biến đó dã tạo nên những động lực tích cực thúc đẩy nền nông nghiệp
phát triển với sức sống mới. Sản xuất nông nghiệp không còn bó hẹp trong phạm vi địa phương
nhỏ lẻ mà nó mang tính chất tổng hợp với những tác động ngày càng rõ nét hơn của cơ chế thị
trường, của các chính sách vĩ mô và tầm nhìn chiến lược trên phạm vi cả nước và quốc tế.
Sự phát triển của nông nghiệp không mang tính độc lập mà nó mang tính gắn kết, tương
tác lẫn nhau với các ngành, các lĩnh vực khác.
Chẳng hạn: sự tương tác đó nằm ngay trong mối quan hệ giữa các hoạt động trong nông
nghiệp như mối quan hệ giữa trồng trọt và chăn nuôi hay chăn nuôi với nuôi trồng thủy hải
sản...Sự tương tác giữa nông nghiệp với các hoạt động kinh tế khác như nông nghiệp với công
nghiệp cơ khí đã mang lại cho nông nghiệp các loại máy móc làm giảm sức người và nâng cao
năng suất lao động. Hay giữa nông nghiệp với công nghiệp hóa chất để có được các loại hóa
chất, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh mang lại hiệu quả cao. Mối quan hệ đó còn có giữa nông
nghiệp với ngành thương mại, công nghiệp chế biến tong việc bảo quản, chế biến và tìm đâu ra
- Xây dựng mô hình không chính xác để so
sánh với thực tế
- Mục đích nhằm hành động có mục tiêu
2. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống nông nghiệp bao gồm nhiều cấp độ phạm vi khác nhau, đó có thể là hệ thống
nông nghiệp của cả một khu vực, một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địhôa phương hay nhỏ
hơn là của một trang trại, một hộ gia đình.
Trong phạm vi nghiên cứu của môn học, chúng ta sẽ tìm hiểu hệ thống nông nghiệp ở cấp
phạm vi hộ gia đình. Bởi ví trong xu thế phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày nay, hộ gia đình
được coi là một tế bào, là cơ sở quan trong để phát triển nông nghiệp nông thôn ở các cấp cao
hơn.
Tuy nhiên, môn học không xem xét, nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ở cấp hộ gia đình
một cách cô lập, riêng rẽ mà luôn đạt nó trong mối quan hệ phụ thuộc, liên quan với các hệ
thống nông nghiệp ở mức độ phạm vi lớn hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu của môn học là hệ thống nông nghiệp ở cấp hộ gia đình nông
dân thì nội dung nghiên cứu của môn học nhằm vào giải quyết các vấn đề sau:
- Tìm hiểu hiện nay, hệ thống nông nghiệp ở cấp phạm vi hộ gia đình nông dân bao gômg
các loại hình hệ thống nông nghiệp nào? Ưu, nhược điểm của từng loại và sự phù hợp của chúng
đối với các vùng đất khác nhau.
- Cách thức nghiên cứu, phát triển một hệ thống nông nghiệp ở cấp độ hộ gia đình.
- Xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững ở cấp độ phạm vi hộ gia đình, làm căn cứ để
xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững ớ các cấp phạm vi lớn hơn.
4. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của môn học đựơc phân bổ trong 4 chương:
4 / 71
Bài mở đầu (1 tiết)
Chương I: Lý thuyết hệ thống (4 tiết)
Chương II: Các loại hệ thống nông nghiệp (4 tiết)
Chương III: Hệ thống nông nghiệp bền vững (5 tiết)
Lý thuyết hệ thống là tập hợp các bộ môn khoa học (sử học, kinh tế học, sinh học, lôgic
học, toán học, tin học...) nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề theo quan điểm toàn thể. Lý
thuyết hệ thống có đối tượng nghiên cứu là các quy luạt về sự ra đời và biến đổi của các hệ
thống, nội dung của nó bao gồm hàng lọat các cặp phạm trù và khái niệm như: hệ thống, phần
tử, môi trường....
6 / 71
1.1.3.1. Khái niệm hệ thống
“Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo thành chỉnh thể thống nhất và
không ngừng vận động, trong sự thống nhất đó luôn làm nảy sinh tính trội của hệ thống”.
S = E . R . P
Trong đó:
S: Hệ thống
E: Các phần tử
R: Mối quan hệ tương tác giữa các phần tử
P: Những thuộc tính mới, giá trị mới
Ví dụ : nông hộ, doanh nghiệp, trường học....
1.1.3.2. Phần tử của hệ thống
Phần tử của hệ thống là thành phần, bộ phận tạo nên hệ thống. Mỗi phần tử có một chức
năng nhất định, và có tính độc lập tương đối.
1.1.3.3. Môi trường của hệ thống
Môi trường của hệ thống là những yếu tố nằm ngoài hệ thống nhưng có tác động quyết
định đến sự vận động của hệ thống
Đối với một hệ thống, môi trường là tập hợp tất cả những đối tượng mà sự thay đổi tính
chất của chúng có ảnh hưởng đến hệ thống, cũng như những đối tượng mà tính chất của chúng
bị thay đổi do hành vi của hệ thống.
Một hệ thống chỉ có thể tồn tại và phát triển lành mạnh khi nó quan hệ chặt chẽ với môi
trường, môi trường phải đồng nhất với hệ thống. Tuỳ theo từng hệ thống mà môi trường của hệ
thống có khác nhau.
1.1.3.4. Đầu vào, đầu ra của hệ thống
Đầu vào của hệ thống là các yếu tố nằm ngoài hệ thống nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến
2
V1
R1
V2
R2
1
3
2
8 / 71
1.2. PHÂN LOẠI HỆ THỐNG
Dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau, người ta có các cách phân loại hệ thống khác nhau.
Sau đây là một số cách phân loại hệ thống chủ yếu.
1.2.1. Phân loại theo sự phụ thuộc vào yếu tố thời gian.
Dựa vào thời gian, người ta chia hệ thống ra làm hai loại là hệ thống động và hệ thống
tĩnh.
- Hệ thống tĩnh là hệ thống không có sự thay đổi (hay thay đổi rất nhỏ) theo thời gian.
- Hệ thống động là hệ thống có những trạng thái luôn thay đổi theo thời gian.
1.2.2. Phân loại theo tính chất thay đổi trạng thái của hệ thống.
Bao gồm 2 loại:
- Hệ thống ngẫu nhiên: là hệ thống biến đổi không theo một quy luật nào cả.
- Hệ thống tái định: là hệ thống phát triển theo một quy luật nhất định.
1.2.3 .Phân loại hệ thống theo mối quan hệ với môi trường.
- Hệ thống đóng: là hệ thống không tương tác với hoàn cảnh, môi trường, là hệ thống mà
ở đó vật chất và năng lượng chỉ trao đổi trong phạm vi hệ thống.
- Hệ thống mở: là hệ thống tác động tích cực với môi trường bên ngoài, là hệ thống có
khả năng cho vật chất và năng lượng đi qua ranh giới của hệ thống. Các hoạt động của hệ thống
quan hệ với các yếu tố môi trường tác động
Vật chất và năng lượng đi vào gọi là dòng vào (hay gọi là đầu vào)
Vật chất và năng lượng đi ra khỏi hệ thống gọi là dòng ra (hay đầu ra)
Vật chất và năng lượng trao đổi giữa các thành phần của hệ thống gọi là dòng nội lưu.
phần tử thì đòi hỏi độ phân cấp càng lớn.
Có hai dạng phân cấp phổ biến là phân cấp hình quạt và phân cấp hình thoi
10 / 71
Phân cấp hình quạt Phân cấp hình thoi
- Hệ phi thứ bậc: là hệ có cơ cấu không phân cấp. Có những tổ chức không phân cấp,
nghĩa là có sự bình đẳng về quyền lực. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống phi thứ bậc là dựa
trên tinh thần hợp tác chứ không dựa trên quyền lực.
1.2.6. Phân loại theo khả năng điều khiển.
- Hệ thống có khả năng điều khiển được: là hệ thống mà trạng thái và hành vi của nó có
thể được định hướng tới mục tiêu cho trước. Sự định hướng này được thực hiện:
+ Do tác động điều khiển có ý thức của con người: hệ thống bị điều khiển.
+ Do có cơ chế điều khiển tồn tại khách quan bên trong hệ thống: hệ thống tự điều khiển.
- Hệ thống không có khả năng điều khiển được: là hệ thống không thể định hướng trạng
thái hoặc hành vi của nó tới mục tiêu cho trước.
1.3. HỆ THỐNG KINH KẾ
1.3.1. Khái niệm
Hệ thống kinh tế là một bộ phận của hệ thống kinh tế xã hội, nó là tập hợp các quá trình
sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng cùng với những mối quan hệ của con người trong và
giữa những quá trình đó.
Hệ thống kinh tế có thể là toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc một bộ phận của nó (ngành,
địa phương, xí nghiệp, nông hộ...)
1.3.2. Đặc điểm của các hệ thống kinh tế
+ Tính thống nhất của mọi bộ phận, phần tử của nó nhằm phục vụ một mục tiêu chung
đặt ra cho toàn hệ. Tính thống nhất đó có được nhờ sự điều khiển thích hợp dựa trên 2 nguyên
tắc:
- Mục tiêu của toàn hệ thống đồng thời là mục tiêu của mỗi bộ phận và phần tử.
I
BA X
III
BA
+ Khi nghiên cứu một hệ thống phải đặt trong môi trường của nó, xem xét sự tương tác
giữa hệ thống với môi trường để có thể xác định rõ hơn hành vi và mục tiêu hoạt động của hệ
thống cũng như các ràng buộc mà điều kiện ngoại cảnh áp đặt lên hệ thống.
12 / 71
+ Khi nghiên cứu các hệ thống ta phải tiến hành phân cấp hệ thống vì các hệ thống ngày
càng phát triển, sự phức tạp của hệ thống càng tăng lên. Việc phân cấp hệ thống khi nghiên cứu
sẽ giúp chúng ta có thể điều khiển được hệ thống kịp thời và nắm rõ được cấu trúc bên trong của
hệ thống.
+ Các hệ thống thực tế có tính hữu đích rất cao, mọi hoạt động đều nhằm tới mục tiêu đã
định, trong khi các phần tử nằm trong hệ thống ngoài mục tiêu chung còn có mục tiêu riêng, vì
vậy phải lồng ghép kết hợp nhiều mục tiêu.
+ Mỗi hệ thống đều quan tâm tới hành vi của mình, song hành vi lại phụ thuộc vào cấu
trúc. Do đó phải kết hợp cấu trúc và hành vi.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Phương pháp nghiên cứu hệ thống là các quy tắc mà người nghiên cứu sử dụng để tìm
raượng nghiên cứu quy luật vân động của đối tượng nghiên cứu.
Có các phương pháp nghiên cứu hệ thống chủ yếu sau:
a) Phương pháp mô hình hóa
Là phương pháp nghiên cứu hệ thống trong trường hợp biết rõ được 3 yếu tố là đầu vào,
đầu ra và cơ cấu của hệ thống. Mô hình là sự mô tả hệ thống qua các đặc trưng cơ bản của hệ
nhờ kinh nghiêm và nhân thức của con người.
Trình tự sử dụng phương pháp mô hình hóa bao gồm các bước:
- Xây dựng mô hình của hệ thống phải nghiên cứu
+ Xác định ý đồ và mục tiêu nghiên cứu
+ Quy định các đặc trưng quan trọng cần nghiên cứu
+ Quan sát một số hành vi của hệ thống
+ Thiết lập ràng buộc giữa mục tiêu, ý đồ và các đặc trưng thông qua các kết quả
quan sát hành vi (mô hình).
- Phân tích, nghiên cứu trên mô hình lý thuyết đã thu được ở bước trên.
- Đối chiếu kết luận rút từ mô hình với kết quả thực tế để đối chứng xem kết luận rút từ
Trong quá trình nghiên cứu hệ thống thường có 2 cách thức nghiên cứu như sau:
+ Nghiên cứu hoàn thiện hay cải tiến một hệ thống đã có sẵn. Dùng phương pháp phân
tích hệ thống tìm ra điểm “hẹp” hay chỗ “thắt lại” của hệ thống. Đó là những chỗ gây ảnh hưởng
không tốt (gây hạn chế) đến hoạt động của hệ thống, cần được sửa chữa, khai thông (tác động
vào) để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn.
+ Nghiên cứu xây dựng một hệ thống mới: cách làm này cần có sự tính toán, cân đối kỹ
càng, tổ chức sắp đặt sao cho các bộ phận trong hệ thống dự kiến nằm đúng vị trí trong mối quan
hệ tương đương của các phần tử, có thứ tự ưu tiên để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất.
* Các nguyên tắc trong phương pháp nghiên cứu hệ thống
Khi nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ta phải tuôn theo các nguyên tắc sau:
- Tìm ra mối quan hệ trong hệ thống nông nghiệp
14 / 71
- Phải có sự tham gia của nhiều ngành khoa học
- Các nghiên cứu được hướng chủ yếu vào người nông dân
- Phải có tính nhắc lại và liên tục.
15 / 71
CHƯƠNG II
CÁC LOẠI HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
2.1.1. Hệ sinh thái nông nghiệp.
* Khái niệm hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì trên cơ sở quy luật
khách quan của hệ sinh thái, là các đơn vị sản xuất nông nghiệp, là các hệ sinh thái nhân tạo do
lao động của con người tạo ra.
Ví dụ: nông trường hợp tác xã, nông trại hoặc làng xóm . . .
Hệ sinh thái nông nghiệp cũng có tổ chức bên trong của nó, có thể chia ra các hệ sinh thái
phụ sau:
+ Đồng ruộng cây hàng năm (lúa, cây công nghiệp ngắn ngày :mía, đay, đỗ...)
+ Vườn cây lâu năm
+ Đồng cỏ chăn nuôi
của các loài
- Chu trình vật chất khép kín
- Có sự tự phục hồi lớn, có quá trình
phát triển lịch sử
- Đa dạng và phức tạp về thành phần
loài thực vật và động vật
- Ổn định lâu dài
- Mục đích chủ yếu là cung cấp cho con
người các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi
- Chu trình vật chất hở
- Khi con người biết nuôi trồng mới có
HSTNN
- Có số lượng loại cây trồng vật nuôi rất đơn
giản
- Kém ổn định hơn
17 / 71
giữa một hệ thống sinh học - sinh thái và môi trường tự nhiên là đại diện, một hệ thống xã hội -
văn hoá qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật.
- Touve 1988: Hệ thống nông nghiệp thích ứng với phương thức khai thác nông nghiệp
của một không gian nhất định do xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp các nhân tố tự
nhiên, kinh tế xã hội, văn hoá và kỹ thuật.
- Mzoyer 1986: Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai thác môi trường
được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sức sản xuất thích ứng với các điều
kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng các điều kiện và nhu cầu của thời
điểm ấy.
- Shainer và cộng sự (1982):`Hệ thống nông nghiệp là hệ thống hoạt động nông nghiệp
độc lập / ổn định của những bố trí sản xuất giữa các hoạt động sản xuất của nông hộ do người
nông dân quản lý, trong mối tương tác với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội phù hợp với
mục đích, nhu cầu và tiềm năng sản xuất, quản lý của nông hộ.
Hệ thống nông nghiệp là hệ thống thứ bậc được lồng vào nhau của các hệ sinh thái nông
*. Đặc trưng của nông nghiệp du canh
Nông nghiệp du canh du cư là một loại hình sản xuất nông nghiệp xuất hiện sớm nhất
trong lịch sử nông nghiệp. Nông nghiệp du canh có hai kiểu: Định cư nhưng du canh và du canh
du cư.
- Định cư nhưng du canh thường có ở những vùng miền núi, đồng bào dân tộc sống thành
làng bản ở vùng thấp áp dụng
- Du canh du cư thường thường có ở đồng bào dân tộc thiểu số sống ở những vùng miền
núi cao, khi du canh thì họ cũng du cư luôn.
Cả hai kiểu trên gọi chung là nông nghiệp du canh và chúng có những đặc điểm căn bản
sau:
+ Chủ yếu người dân khai thác độ phì tự nhiên của ruộng đất bằng cách đốt rừng, làm
rẫy, làm nương, gieo trồng. Khi đã nghèo kiệt lại chuyển đến làm chỗ khác, không quan tâm đến
việc phục hồi trả lại dinh dưỡng cho đất.
+ Thường có ở những vùng miền núi đất dốc, mật độ dân cư thưa thớt.
+ Đầu tư tư bản trong nông nghiệp du canh là rất thấp, lao động thủ công, đơn giản chủ
yếu là cơ bắp với các công cụ thô sơ.
+ Trong nông nghiệp du canh thì chăn nuôi phát triển đan xen với trồng trọt, không được
phân thành khu nuôi nhốt riêng.
19 / 71
Đây là một hệ thống nông nghiệp canh tác lạc hậu gây nhiều hậu quả xấu cần phải được
cải biến, khắc phục. Hiện ở nước ta vẫn còn tồn tại (năm 1999 còn khoảng 400.000 hộ)
Ngày nay, trước áp lực của dân số thì mức độ du canh đã giảm dần và chuyển hướng
sang bỏ hoá chi kỳ ngắn.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương đúng dắn nhằm phát triển nông
nghiệp trong đó có các chính sách định canh, định cư đối với đồng bào dân tộc miền núi, kết hợp
lồng ghép với nhiều chính sách khác như; xã hội, văn hoá, giáo dục, phát triển nông thôn . . . tín
dụng, áp dụng chuyển giao tiến độ kỹ thuật . . .Cho nên đã từng bước đẩy lùi loại hình canh tác
lạc hậu này, nó chỉ còn ở một số dân tộc ít người ở vùng núi. Tuy còn một số ít nhưng hình thức
du canh cũng đã có những thay đổi. Dưới tác động của các chương trình khuyến nông, kỹ thuật
canh tác trên đất dốc người dân cũng đã biết đến các kỹ thuật bảo vệ và nâng cao độ phì của đất,
*. Khái niệm: Hệ thống nông nghiệp cố định là hệ thống sản xuất nông nghiệp được tiến
hành trên những vùng, khu vực hay trên những mảnh đất cố định qua các năm.
Do các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác nhau nên hình thành nên các kiểu hệ
thống cố định khác nhau.
* Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hoá
Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hoá là hệ thống nông nghiệp chuyên sản xuất ra một
hoặc hai loại sản phẩm nhất định.
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý hay tập quán xã hội mà vùng nào đó hay một
đơn vị sản xuất nào đó với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế cao hoặc do sự phân công lao động xã
hội mà họ chỉ chuyên sản xuất một hoặc hai loại sản phẩm chính.
* Ưu điểm
Tạo ra được năng suất, hiệu quả cao, dễ dàng tập trung sản phẩm tạo điều kiện tốt cho thu
mua và chế biến, dễ dàng cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
* Nhược điểm
Thường kém tính bền vững vì tính đa dạng thấp, dễ phát sinh dich bệnh sâu hại nguy
hiểm và khó tiêu diệt. Nó cũng dễ làm cạn kiệt một loại dinh dưỡng nào đó mà cây trồng ưa
thích. Việc sử dụng lao động cũng dễ gây nên tình trạng căng thẳng về sức lao động vì tính thời
vụ rất cao.
* Hệ thống nông nghiệp hỗn hợp.
Là hệ thống sản xuất bao gồm nhiều loại sản phẩm, cả sản phẩm trồng trọt lẫn sản phẩm
chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản.
21 / 71
Hệ thống nông nghiệp hỗn hợp rất đa dạng, có nhiều mô hình khác nhau như: nông lâm
kết hợp, mô hình VACR, mô hình canh tác lúa cá, lúa tôm, mô hình SALT...
a. Hệ thống trồng trọt thuỷ sản
Các mô hình lúa - cá, lúa - tôm... là những ví dụ về hệ thống trồng trọt thủy sản
* Ưu điểm:
- Cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
- Tốn ít vốn nhưng lại dễ mang lại hiệu quả, ít rủi ro và được nông dân ưa thích (do dễ
đánh bắt, dễ nuôi, vui thích, sẵn sàng cung cấp cho bữa ăn ngon...)
- VAC làm giảm bớt thậm chí xoá bỏ sự cạnh tranh về nguyên liệu giữa các đối tượng
trong hệ thống do khả năng kết hợp trong hệ thống mà có được.
- Góp phần sử dụng hợp lý hơn sức lao động trong nông hộ
- Sản xuất theo mô hình kết hợp VAC góp phần làm tăng giá trị lao động, tăng sản phẩm
và tăng thu nhập cho hộ gia đình.
c. Hệ thống nông lâm kết hợp:
Nông lâm kết hợp là chế độ sử dụng đất mà ở đó có các cây trồng nông nghiệp được bố
trí với các cây lâm nghiệp theo không gian hoặc luân canh và có sự tương tác giữa hai nhóm đó
cả về mặt sinh thái và kinh tế.
Mô hình nông lâm kết hợp có mục đích là sản xuất ra được một lượng sản phẩm tối đa
phục vụ cho con người mà vẫn duy trì được sức sản xuất lâu bền của đất. Dựa trên sự mối quan
hệ tương tác giữa các điều kiện sinh thái nông nghiệp , lâm nghiệp. . .ở trên cùng một vùng đất
và các điều kiện kinh tê xã hội của vùng sinh thái
Trên thế giới ở những vùng nhiệt đới, hệ thống nông lâm kết hợp chủ yếu có bốn phương
thức cơ bản đó là:
* Luân canh cây nông nghiệp và cây rừng
* Cây lâm nghiệp và chăn nuôi
* Cây nông nghiệp + cây lâm nghiệp + chăn nuôi
* Trồng trọt + chăn nuôi + cây rừng + thuỷ sản
Địa bàn áp dụng mô hình hệ thống nông lâm kết hợp rất rộng rãi. Nhưng đầu tiên có lẽ và
phổ biến nó được áp dụng ở những vùng núi cao đất dốc miền núi . .
2.3. PHÂN LOẠI HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP THEO MỤC TIÊU
23 / 71
Việc nghiên cứu hệ thống nông nghiệp tập trung chủ yếu vào nghiên cứu nông hộ. Hộ
nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì
tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn được thực hiện chủ yếu qua sự
hoạt động của hộ nông dân.
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả
nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Ellis 1988 đã đưa ra khái niệm
hộ nông dân như sau: “Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử
phải chỉ cần cho họ mà họ có thể đem bán để mua những thứ khác cấn thiết nếu họ thấy làm ra
sản phẩm nào đó có hiệu quả hơn. Nhưng những thành quả sản xuất thu được cũng chỉ đủ chi
dùng cho cuộc sống và tối đa là tái sản xuất.
Hộ nông dân tự cung tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:
- Khả năng mở rộng diện tích (có thể bằng tăng vụ) có hay không?
- Có thị trường lao động không? Vì người nông dân có thể bán sức lao động để tăng thu
nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao.
- Có thị trưòng vật tư không vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm một ít vật tư
(nếu có tiền để mua và có lãi).
- Có thị trường sản phẩm không vì người nông dân phải bán đi một ít sản phẩm để mua
các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác.
Trong các điều kiện này người nông dân có phản ứng một ít với thị trường nhất là thị
trường lao động và thị trường vật tư.
2.3.2. Hệ thống nông nghiệp bán tự cung tự cấp và bán sản xuất hàng hoá.
Đây là những hệ thống đủ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, tái sản xuất và bắt đầu có tích
luỹ. Nó biểu hiện trình độ kinh tế ở mức cao hơn so với các hệ thống tự cung tự cấp, thường
xuất hiện ở giai đoạn sau của sự phát triển của hệ thống, biểu hiện tiềm lực kinh tế vững vàng
hơn. Trong hệ thống này, người nông dân có quan tâm nhiều hơn đến thị trường và như vậy
năng suất cây trồng cao hơn, hiệu quả lao động sản xuất lớn hơn.
Hộ nông dân thuộc kiểu này vẫn chưa phảilà một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn
toàn phụ thuộc vào thị trường. Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách
sản xuất của hộ.
2.3.3. Hệ thống nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
Người nông dân với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia
đình. Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật tư lao
động và thị trường sản phẩm.
“Nông nghiệp hàng hoá là một bộ phận của nền kinh tế hàng hoá, là kiểu tổ chức kinh tế
xã hội sản xuất ra nông sản phẩm (nông, lâm, ngư sản) không phải để tự mình tiêu dùng mà để
25 / 71