Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm , bệnh giáo điều - Pdf 67

Từ triết lý “Dĩ bất biến ứng vạn biến” đến triết lý hành động Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh được bạn bè và các dân tộc ưa chuộng hòa bình trên khắp năm
châu ca ngợi về sự kết hợp nhuần nhuyễn những nét tinh hoa trên thế giới. Sự kết
hợp này được thể hiện rõ trong suy nghĩ và hành động của Người.
1 -
Ngày 31-5-1946, trước khi đi Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cụ Huỳnh Thúc
Kháng rằng: Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó
khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ dĩ bất biến ứng vạn biến.
Thực ra câu "Dĩ bất biến ứng vạn biến" chỉ là một vế trong đôi câu đối hoàn chỉnh
mà vế thứ hai là "Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm" (Lấy tâm chúng sinh làm tâm của mình)
trong nền văn hóa, triết học phương Đông.
Như chúng ta đã biết, mối quan hệ giữa bất biến và vạn biến, giữa cái không thay
đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng, giữa cái nhất (cái một) và cái đa (cái
nhiều),... là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim, từ Đông sang
Tây. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó
với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện
tượng thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, thay đổi khôn lường nhưng đều xoay
quanh trục của nó, đó là bản thể, cái mà Trang Tử gọi là "Chốt của đạo".
Trong mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng thì bản thể là bất biến, không sinh
không diệt; còn các hiện tượng biến chuyển không ngừng nay còn mai mất. Trong
mỗi nền triết học, cái bất biến - bản thể không thêm không bớt này được gọi bằng
những cái tên khác nhau, chẳng hạn như “Brahman” trong triết học Ấn Độ, “Đạo”
trong học thuyết Lão Trang, “Thái cực” trong Kinh dịch, “vật chất” trong chủ nghĩa
duy vật, “tâm” trong chủ nghĩa duy tâm; ...
Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, bản thể là vật chất, nhưng nó luôn vận động
biến đổi, luôn chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác; nó vĩnh viễn, vô cùng, vô
tận; nó bất biến so với hiện tượng luôn luôn thay đổi. Mọi sự vật hiện tượng đều là
những dạng cụ thể của vật chất, có kết cấu hoặc nguồn gốc vật chất, do vật chất
sinh ra. Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang vận
động, chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân, kết quả của nhau.

tức xây dựng một nhà nước mà dân làm chủ, có nghĩa là bao nhiêu lợi ích đều vì dân,
bao nhiêu quyền hạn đều của dân, tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
Có như vậy mới đem lại được tự do, hạnh phúc cho dân.
Ở đây cần lưu ý rằng, điều kiện tiên quyết để có tự do, hạnh phúc, dân chủ là nước
phải độc lập; nhưng không phải cứ có độc lập là có ngay tự do, dân chủ, hạnh phúc.
Do đó, khi đã có độc lập rồi thì tự do, hạnh phúc, dân chủ lại nổi lên. Như vậy, mặc
dù bốn yếu tố này nằm trong mối liên hệ mật thiết, không tách rời nhau, nhưng nhìn
chung chúng lại chia ra làm hai cấp độ, một bên là độc lập, còn bên kia là tự do,
hạnh phúc, dân chủ. Hai cấp độ này không tách rời nhau vì nếu có cái thứ nhất mà
không có cái thứ hai thì cái thứ nhất cũng trở nên vô nghĩa.
Theo Người, có độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng
chẳng để làm gì. Ngược lại, muốn có cái thứ hai thì đầu tiên, trước hết phải có cái
thứ nhất. Cái thứ nhất là tiền đề không thể thiếu được, nhưng cái thứ hai mới là mục
đích cuối cùng. Người cho rằng thắng đế quốc, phong kiến còn tương đối dễ, nhưng
thắng bần cùng, nghèo nàn lạc hậu còn khó hơn nhiều. Từ đó, Người cho rằng đã hy
sinh làm cách mạng, thì nên làm cho đến nơi để khỏi phải hy sinh nhiều lần, để dân
chúng được hạnh phúc.
Lô-gíc đó tất yếu dẫn đến tư tưởng của Người là gắn giải phóng dân tộc (nước độc
lập) với chủ nghĩa xã hội (dân được hưởng tự do, hạnh phúc, dân chủ) - tư tưởng
trung tâm, cốt lõi của Người.
Như vậy, triết lý "Dĩ bất biến ứng vạn biến" có nghĩa là lấy cái bất biến (cái không
thay đổi) ứng phó với cái vạn biến (cái thay đổi); ứng phó với cái vạn biến nhưng
không xa rời, vứt bỏ, đánh mất cái bất biến; tuyệt đối không thể đem cái bất biến ấy
ra mua bán, đổi chác. Hoàn cảnh luôn thay đổi, cuộc sống cũng như sự nghiệp cách
mạng luôn thay đổi, phát triển, bởi vậy, sách lược trong từng lĩnh vực cụ thể cũng
phải mềm dẻo, uyển chuyển, thay đổi (cái vạn biến). Nhưng dù có mềm dẻo, uyển
chuyển, thay đổi như thế nào đi chăng nữa cũng không được quên mục đích cuối
cùng (cái bất biến), bởi nếu không sẽ dễ bị lạc vào cái mê cung, rừng rậm của vạn
biến, cái vụn vặt mà không biết đường ra. Đó là cái nhìn toàn cảnh có tính chất vĩ
mô đối với cách mạng cả nước. Dĩ nhiên, nếu đi sâu vào từng lĩnh vực, phạm vi nhỏ

thực tiễn là lý luận suông, tức lý luận để mà lý luận, lý luận trở thành trò chơi của lý
tính và lý trí. Người còn ví không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi; lý
luận và kinh nghiệm như hai con mắt của con người, có kinh nghiệm mà không có lý
luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ. Bơm to, thổi phồng kinh nghiệm sẽ rơi
vào bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa; ngược lại, bơm to, thổi phồng lý luận sẽ rơi vào
bệnh giáo điều, kinh viện. Đó là hai loại bệnh tương đối phổ biến ở nước ta trước kia
và hiện nay vẫn còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Ở Hồ Chí Minh không chỉ triết lý gắn với hành động, đi liền với hành động mà ngược
lại, ngay hành động cũng nói lên triết lý. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, hoạt động
thực tiễn, hành động biểu hiện tư tưởng trung thành hơn gấp nhiều lần những bài
văn được ngòi bút đẽo gọt. Cái đánh giá đúng sai của tư tưởng không phải nằm
trong tư tưởng mà phải ở trong hoạt động thực tiễn. Chính thực tiễn, suy cho cùng là
cái duy nhất kiểm tra tính đúng đắn của tư tưởng, là tiêu chuẩn của chân lý. Thực
tiễn được tổng kết biến thành lý luận, tư tưởng. Như vậy, hoạt động thực tiễn nói lên
tư tưởng.
Bác đã lấy tâm của mọi người làm tâm của mình bằng những hoạt động thiết thực,
cụ thể như ra đi tìm đường cứu nước và khi đã tìm được cái "cẩm nang" thì trở về
nước thức tỉnh nhân dân, tổ chức, đoàn kết, huấn luyện họ, đưa họ ra tranh giành tự
do, độc lập. Đến độ chín muồi, Người đã tiến hành thành lập Đảng, đề ra chiến lược,
sách lược cách mạng cho từng thời kỳ, kêu gọi toàn dân đoàn kết, đẩy mạnh phong
trào thi đua yêu nước, ... từ đó đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng
lợi khác.
Mỗi triết lý hành động đồng thời cũng là một triết lý sống, quy định một phong cách
sống tương ứng. Triết lý hành động "Dĩ bất biến ứng vạn biến" đồng thời cũng là
triết lý sống "Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm" (Lấy tâm của mọi người làm tâm của mình).
Để đi sâu vào triết lý sống này ta hãy xem tâm, lòng mong muốn của người dân Việt
Nam khi đó là gì? Đó là nước được độc lập, dân được tự do, mọi người được hạnh
phúc. Bác đã lấy cái tâm (mong muốn) của mọi người làm cái tâm (mong muốn) của
mình khi Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng

phải cải tạo bản thân mình; một dân tộc, một đảng viên và mỗi con người ngày hôm
qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn
được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân. Như vậy, với cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, minh mẫn, với
lòng dạ trong sáng (cái bất biến), chúng ta không những nhìn sự vật, hiện tượng
biến đổi bên ngoài (cái vạn biến) một cách rõ ràng, khách quan, mà còn tránh được
bệnh chủ quan duy ý chí.
Tóm lại, ở Hồ Chí Minh, từ triết lý:" Dĩ bất biến ứng vạn biến" dẫn đến triết lý hành
động, triết lý sống "Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm"; hai cái đó quyện chặt vào nhau, gắn
liền mật thiết, chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau; triết lý hướng đến hành
động, hành động nói lên triết lý, trong triết lý đã bao hàm xu thế hành động, trong
hành động có triết lý, triết lý và hành động gắn chặt với nhau tạo nên triết lý hành
động Hồ Chí Minh mà không phải vĩ nhân nào cũng có được./


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status