THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE Ở VIỆT NAM - Pdf 68

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA
LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE Ở VIỆT NAM
I. Tiềm năng phát triển du lịch MICE của Việt Nam
1. Lợi thế từ nguồn lực tự nhiên – lịch sử - văn hóa
Trên toàn cầu, hiện nay, hàng năm có tới 800 triệu người đi du lịch; 60% dòng du
khách hiện nay là có mục đích tìm hiểu những nền văn hóa khác lạ. Vì thế sản phẩm
quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa. Sức hấp dẫn du khách là bản sắc văn hóa của
điểm đến và trình độ văn hóa của những nhà tổ chức du lịch chuyên nghiệp.
Việt Nam từ lâu đã được các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên khắp thế
giới công nhận là một quốc gia có nhiều danh lam thắng cảnh. Không chỉ nổi tiếng về
vẻ đẹp tự nhiên, Việt Nam còn được nhớ đến như là một trong những quốc gia luôn kế
thừa, gìn giữ và phát huy những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc với hàng loạt những
làng nghề truyền thống xuất hiện cách đây hàng trăm năm như Làng tranh Đông Hồ,
Làng gốm Phù Lãng, Làng gốm Bát Tràng hay các loại hình nghệ thuật độc đáo vẫn còn
được lưu truyền cho tới tận ngày hôm nay như Hát chèo, Hát bộ, Hát ả đào, Cải lương,
Nhã nhạc cung đình Huế v.v…
Có thể nói nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên đa dạng, phong phú là một lợi thế
đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của du lịch Việt Nam nói chung và dịch vụ du
lịch MICE nói riêng. Trải dài từ Bắc xuống Nam, các danh lam thắng cảnh nổi tiếng
như Phong Nha – Kẻ Bàng, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Hồ Hoàn Kiếm, Cố đô
Huế, quần thể kiến trúc đền cổ của dân tộc Chăm tại Ninh Thuận, Bình Thuận hay Nha
Trang – Một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Đặc biệt, Vịnh Hạ Long được UNESSCO
công nhận là kì quan thiên nhiên thế giới. Những vẻ đẹp do thiên nhiên ban tặng đó
càng hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch quốc tế.
2. Lợi thế từ sự đầu tư xây dựng CSHT – KT của Chính phủ Việt Nam
Theo nhận định của bà Võ Thị Thắng – Nguyên tổng cục trưởng TCDL trong Hội
nghị Tổng kết đầu tư CSHT – KT du lịch thời kì 2001 – 2005 thì vốn ngân sách để tập
trung cho sự phát triển CSHT – KT du lịch tại các tỉnh – Thành phố trong giai đoạn đã
đạt hiệu quả tương đối cao. Từ năm 2001, thực hiện chủ trương tập trung cho sự phát
triển du lịch theo công văn số 1095/CP-KTTH ngày 28/11/2000 về việc xây dựng các
khu du lịch, ngân sách nhà nước đã được bố trí hỗ trợ đâu tư cho CSHT-KT du lịch cho

lạc, phiên dịch. Ngoài ra, hệ thống trung tâm thương mại Dimond Plaza, Vincom,
Parkson ở trung tâm thành phố rất thuận lợi chỉ việc mua sắm cũng như thăm quan,
nghỉ dưỡng trong vòng bán kính 200km từ trung tâm thành phố (bao gồm các vườn
quốc gia, các địa điểm du lịch sinh thái, các khu nghỉ dưỡng chất lượng cao dọc theo
các bãi biển v.v…) rất thuận tiện để tổ chức các tour du lịch khen thưởng, khích lệ cho
các đoàn du khách quốc tế.
Bên cạnh TP.HCM thì các trung tâm kinh tế- thương mại lớn trong cả nước như
Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ và các tỉnh, thành phố du lịch nổi tiếng như Sapa- Lạng
Sơn, Hội An- Quảng Nam, Vịnh Hạ Long- Quảng Ninh, Nha Trang- Khánh Hòa, Quy
Nhơn- Bình Định, Mũi Né- Phan Thiết, Phú Quốc- Kiên Giang cũng đã và đang nỗ lực
không ngừng trong việc nâng cao số lượng và cải thiện chất lượng phục vụ của các
khách sạn, các khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn 3-5 sao nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của du khách du lịch MICE đến Việt Nam trong giai đoạn tới.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch MICE đều rất chú trọng phát triển và
nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng. Sở Du lịch Hà Nội cho biết nhìn
chung hệ thống cơ sở lưu trú thành phố tiếp tục khẳng định vị thế hàng đầu trong cả
nước, trong đó các khách sạn từ 3-5 sao có khả năng cạnh tranh được với khách sạn
trong khu vực về giá cả lẫn chất lượng. Ngoài ra, phương thức bán hàng qua mạng đã
được hầu hết các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn lớn áp dụng. Hơn thế, một số doanh
nghiệp còn chú trọng xây dựng những trang web chuyên đề cho từng loại thị trường.
Nếu việc quảng bá được thực hiện tốt thì thị trường du lịch Việt Nam cũng không thua
kém các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Singapore.
II. Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế theo loại hình du lịch MICE ở Việt
Nam
Loại hình du lịch MICE đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1994. Tuy nhiên, du lịch
MICE chỉ thực sự nhận được sự quan tâm đầu tư từ phía nhà nước lẫn doanh nghiệp từ
năm 2000, và xuất hiện trên bản đồ du lịch MICE của thế giới kể từ sau sự kiện Việt
Nam tổ chức thành công Cuộc họp thượng đỉnh APEC 2006. Nhận ra được tiềm năng
phát triển rất lớn của loại hình du lịch này, Chính phủ Việt Nam cùng các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực du lịch đã mạnh dạn đầu tư mạnh mẽ vào du lịch MICE và xác

TCDL Việt Nam với 5 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có phần giới thiệu về hình thức du
lịch MICE cũng như các đường link gắn kết với website của các công ty du lịch lữ hành
nổi tiếng, các vùng du lịch trọng điểm trong cả nước, Ngoài ra Câu lạc bộ MICE Việt
Nam cũng có một website khá chuyên nghiệp bằng hai ngôn ngữ Anh - Việt giới thiệu
hoạt động du lịch MICE tại Việt Nam, trong website còn có các đường link dẫn đến
website các thành viên câu lạc bộ như Hãng hàng không Việt Nam - Vietnam Airlines,
Saigontourist..
Bên cạnh đó, các tỉnh, thành phố du lịch nổi tiếng như Hà Nội, Quảng Nam, Vịnh
Hạ Long, Nha Trang- Khánh Hòa, TP.HCM, Bà Rịa- Vũng Tàu đều xây dựng những
website riêng nhằm quảng bá, giới thiệu về ngành du lịch của tỉnh, thành phố. Trong đó
website cua Sở Du lịch Hà Nội và TP.HCM đặc biệt quan tâm đến MICE vì đây là hai
điểm nổi bật thu hút khách MICE hiện nay.
Các công ty du lịch lữ hành, cung cấp dịch vụ MICE như website của Hanoi
Tourist, BenThanh Tourist, Viettravel và Fiditourist v.v…đã bắt đầu có những bài viết,
chuyên mục riêng biệt về du lịch MICE như một cách thể hiện quan tâm, đầu tư của
công ty vào loại hình này khi mà du lịch MICE mang đến cho họ những nguồn thu
không nhỏ. Ưu điểm của hầu hết các website quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam là
đều có từ 2 ngôn ngữ cơ sở trở lên, giúp cho các DKQT thuận lợi hơn trong việc tìm
kiếm thông tin.
Tuy nhiên, hoạt động quảng bá du lịch MICE của các công ty kinh doanh trong
lĩnh vực này còn thiếu tính sáng tạo và chưa tích cực. Các tập đoàn, công ty hoặc
DKQT muốn tìm kiếm những thông tin cần thiết về du lịch MICE tại Việt Nam thường
gặp nhiều hạn chế do hầu hết các website du lịch ở nước ta chưa đăng ký trên các công
cụ tìm kiếm internet phổ biến trên thế giới, cũng như các website được thiết kế thiếu
chuyên nghiệp, hình ảnh kém sinh động, không tạo nên sự thu hút đối với người truy
cập, không được cập nhật thường xuyên và hạn chế ngôn ngữ sử dụng.
1.2. Tổ chức và tham gia các hoạt động xúc tiến du lịch MICE
1.2.1. Tổ chức các sự kiện văn hóa, chính trị trong nước
Trong giai đoạn 2000-2010, Việt Nam đã tổ chức thành công 3 sự kiện quốc tế lớn
của khu vực và thế giới đó là SEAGAMES 22, ASEM 5 và Năm APEC Việt Nam với

Đại hội thể thao châu Á trong nhà Asia Indoor Game 3 vào năm 2009, Diễn đàn du lịch
ASEAN 2009 (ATF-2009). Hình ảnh Việt Nam được giới truyền thông ca ngợi và đánh
giá cao trong công tác tổ chức cả về nội dung lẫn hậu cần.
Đối với ngành du lịch Việt Nam, sự kiện này mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng
trong việc đẩy mạnh sự phát triển của ngành du lịch trong nước, trong đó trọng tâm
chính là du lịch MICE – loại hình du lịch mà chính sự thành công của các sự kiện trên
đã chứng mình tiềm năng phát triển rất lớn của nó tại Việt Nam trong tương lai. Sau sự
kiện APEC 2006, ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch MICE nói riêng có
những bước phát triển mạnh mẽ, Trong năm 2007 thì số dự án đầu tư du lịch trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam đã lên tới 47 dự án với tổng số vốn hơn1,86 tỷ USD, tăng
19,57% so với năm 2006, trong đó hơn 50% là các dự án đầu tư xây dựng các khách sạn
cao cấp cũng như các trung tâm thương mại tầm cỡ quốc tế [14].
1.2.2. Tham gia các sự kiện xúc tiến du lịch quốc tế
Trong giai đoạn 2000-2010, các doanh nghiệp Việt Nam đã phối hợp các ban
ngành, cơ quan chức năng thực hiện các sự kiện văn hóa, lễ hội đặc sắc như các kỳ
Festival Huế, Tuần văn hóa - du lịch Hội An năm 2000, Festival hoa Đà Lạt, Con đường
gốm sứ ở Hà Nội, Festival biển Nha Trang. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phối
hợp với Chính phủ thực hiện các chương trình “Năm du lịch Việt Nam” được phát động
vào năm 2003 với các chương trình cụ thể như Năm du lịch Hạ Long 2005, Năm du
lịch Điện Biên Phủ 2006, Năm du lịch Nghệ An 2007, Năm du lịch Quảng Nam 2008
và Năm du lịch Tuyên Quang 2009 với chủ đề “Về thủ đô gió ngàn – Chiến khu Việt
Bắc” và gần đây là Chương trình đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (2010)…
Tất cả những chương trình trên đều tạo nên một nét văn hóa đặc trưng của du lịch
Việt Nam, đây là môt trong những yếu tố giúp Việt Nam trở thành sự lựa chọn của
nhiều DKQT, trong đó có khách du lịch MICE. Như đã đề cập trên, du khách MICE là
những người có thu nhập cao, có địa vị trong xã hội và mức chi tiêu trung bình vào các
hoạt động ngoài hội nghị cao. Vì vậy, việc tổ chức nhiều chương trình, lễ hội văn hóa
đặc sắc sẽ thu hút được sự chú ý của du khách MICE khi lựa chọn điểm đến, đồng thời
góp phần nâng cao hơn mức chi tiêu của du khách MICE và các dịch vụ và sản phẩm du
lịch gắn liền với các lễ hội này.

cạnh việc củng cố
quan hệ với các đối
- tác truyền thống,
đẩy mạnh phát
triển MICE
- Tiếp nhận thông
tin, học hỏi kinh
nghiệm và ký kết
hợp tác với đối tác
- Đẩy mạnh hoạt
động quảng bá Việt
Nam như một điểm
đến hấp dẫn cho các
chương trình du lịch
kết hợp tổ chức hội
thảo, hội nghị.
Kết quả đạt được - Làm việc với trên
100 đối tác là các
nhà tổ chức MICE
chuyên nghiệp đến
từ Mỹ, Châu Úc,
Châu Á, Nam Mỹ -
Việt Nam được lựa
chọn là điểm đến ưa
chuộng nhất Châu
Á.
Nguồn: Tổng hợp thông tin từ website www.congdongdulich.com
2. Số lượng khách du lịch quốc tế của dịch vụ du lịch MICE ở Việt Nam
Trong giai đoạn 2000-2010 Việt Nam đã đón hàng triệu du khách quốc tế, được
thể hiện cụ thể qua thống kê sau của Tổng cục Du lịch Việt Nam.

nước, nâng lượng du khách MICE ước tính đến Việt Nam lên gần 720.000 khách, tăng
xấp xỉ 50% so với năm 2005. Vào năm 2007, MICE Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ
tăng trưởng là 30% với lượng khách ước tính đạt 940.000 khách. Mặc dù năm 2008 là
một năm tương đối khó khăn đối với nền kinh tế toàn cầu, nhưng số vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam không bị sụt giảm mà còn tăng lên, kéo theo đó là
số công ty nước ngoài đặt trụ sở tại Việt Nam tăng cao, số nhân công phát triển, và hệ
quả tất yếu là nhu cầu tìm đến loại hình du lịch MICE tăng cao [3], làm tổng số du
khách MICE đến Việt Nam tăng nhẹ lên 1.076.000 người, đạt tăng trưởng 14% so với
năm trước. Sang năm 2009, trái với dự đoán của Diễn đàn du lịch ASEAN 2009 (ATF)
rằng đây sẽ là một năm bùng nổ du lịch MICE của khu vực, số lượng du khách quốc tế
đến Việt Nam nói riêng và các nước trong khu vực nói chung đều đồng loạt giảm mạnh
như hệ quả tất yếu của cuộc khủng hoảng tài chính đang lan rộng trên quy mô toàn cầu.
Có thể nói đây là một tín hiệu đáng mừng vì ngành du lịch Việt Nam đang phát triển
đúng hướng.
Xét về mặt tỷ trọng, lượng du khách MICE chiếm khoảng 23% trong tổng lượng
khách du lịch đến Việt Nam trong 5 năm qua bất chấp những biến động bất lợi khách
quan của nền kinh tế thế giới. Điều này đã chứng tỏ du lịch MICE có một nội lực đáng
kể và tiềm năng to lớn. Do đó, các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch đẩy mạnh hơn
nữa tốc độ phát triển và khai thác hiệu quả loại hình du lịch tiềm năng này trong giai
đoạn tới.
3. Mức chi tiêu của du khách MICE đến Việt Nam
Theo những thống kê tương đối mà tập đoàn Visa khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương công bố vào năm 2005 thì mức chi tiêu qua thẻ Visa của du khách quốc tế đến
Việt Nam trong qúy 4 năm 2005 là 1,4 tỷ đồng. Mức chi tiêu chủ yếu của khách quốc tế
đến Việt Nam khi sử dụng thẻ Visa chủ yếu dành cho các dịch vụ như chỗ ở 29%, mua
sắm 16%, đi lại 11%, ăn uống 7% và các hoạt động thể thao và giải trí là 4% [4]. Như
vậy du khách MICE chi tiêu nhiều hơn so với các du khách thông thường vì họ sử dụng
các dịch vụ cao cấp hơn. Sau đây là biểu đồ diễn tả mức chi tiêu của du khách MICE
qua các giai đoạn ở Việt Nam.
Hình 2.3: Mức chi tiêu trung bình của DKQT tại Việt Nam trong các giai đoạn

4.1. Số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ MICE
4.1.1. Loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ MICE
Các doanh nghiệp kinh doanh loại hình du lịch MICE phát triển mạnh, thích nghi
dần cơ chế và đạt được những thành tích nhất định. Tính đến nay nhà nước đã có hơn
11.0000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 758 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, hơn 10.000 doanh
nghiệp lữ hành nội địa. Các doanh nghiệp kinh doanh loại hình du lịch MICE là các
doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, các công ty liên doanh và công ty trách
nhiệm hữu hạn.
4.1.2. Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp kinh doanh loại hình du lịch MICE
Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch nói chung và du lịch MICE nói riêng chủ
yếu huy động vốn từ chính phủ và các hỗ trợ đầu tư của nước ngoài. Từ năm 2001-2009
chính phủ đã cấp 4836 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư xây dựng các hạ tầng ở các khu du lịch
trọng điểm, cụ thể:
Bảng 2.1: Vốn ngân sách TW hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng năm 2001-2009
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Số vốn
(tỷ
đổng)
266 380 450 500 550 620 750 620 700
Nguồn: Tổng cục du lịch, “ lịch sử ngành”
Vốn đầu tư nhà nước dành cho ngành du lịch nói chung đa phần tăng dần qua các năm,
riêng năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên vốn đầu tư có
giảm giảm nhẹ còn hầu hết ở các năm đều giữ vững mức tăng trung bình 11%-13% một
năm. Bên cạnh nguồn vốn từ Trung ương, các doanh nghiệp cũng thu hút vốn đầu tư
nước ngoài thông qua các dự án của FDI vào Việt Nam. Các con số được cụ thể như
sau:
Bảng 2.2: Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào ngành du lịch Việt Nam (2001-2009)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Số dự án 04 25 13 15 17 23 48 26 154
Số vốn

nước đã giúp nâng cao số lượng các KS khả năng cung cấp dịch vụ MICE, đạt chuẩn từ
3 đến 5 sao một cách vượt bậc.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng cho du lịch MICE của nước ta
còn được đặc biệt mở rộng bằng việc xuất hiện các trung tâm hội thảo- triển lãm với
hàng chục phòng họp quy mô lớn, các phương tiện hiện đại phục vụ tác nghiệp báo chí,
khu liên hợp khách sạn…chuyên phục vụ các hoạt động MICE. Điển hình là các công
trình như:
Trung tâm tổ chức hội thảo – sự kiện & du lịch gọi tắt là trung tâm Cite thuộc Bến
Thành Tourist vào năm 2004
Trung tâm triển lãm và hội chợ Sài Gòn đã bắt đầu được khởi công 20/7/2004,
hoàn thành vào tháng 10/2005.
Trung tâm hội nghị quốc gia ở Hà Nội được hoàn thành vào tháng 10/2006.

Trích đoạn Nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status