LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 68

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Nền kinh tế càng phát triển thì việc tối ưu hoá cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý ở tất cả các cấp, các ngành và đối với từng doanh nghiệp của nền kinh tế
quốc dân càng đặt ra cấp thiết. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý có vai trò quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Xuất phát từ vai trò quan
trọng của bộ máy quản lý, do đó bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn phát triển
thì phải xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý cho phù hợp.
Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải dựa trên cơ sở
khoa học của nó. Vì vậy, nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về quản lý và cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp là cần thiết.
1.1.1.Tổ chức
Tổ chức thường được hiểu như là tập hợp của hai hay nhiều người cùng
hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được những mục đích
chung .
Các tổ chức đang tồn tại trong xã hội vô cùng phong phú và đa dạng. Có
thể có rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân loại, nhưng
chung quy lại một tổ chức thường có những đặc điểm sau:
- Mọi tổ chức đều mang tính mục đích. Tổ chức hiếm khi mang trong
mình một mục đích tự thân mà là công cụ để thực hiện những mục đích nhất
định. Đây là yếu tố cơ bản nhất của bất kỳ tổ chức nào. Mặc dù mục đích của
các tổ chức khác nhau có thể khác nhau, nhưng không có mục đích thì tổ chức
sẽ không có lý do để tồn tại.
- Mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt được
mục đích – các kế hoạch. Thiếu kế hoạch thì không tổ chức nào có thể tồn tại và
phát triển hiệu quả.
- Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức
khác. Một doanh nghiệp sẽ cần vốn, nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc,
thông tin ... từ các nhà cung cấp, cần hoạt động trong khuôn khổ quản trị vĩ mô
của Nhà Nước, cần hợp tác hoặc cạnh tranh với doanh nghiệp khác, cần các hộ

ở sự kết hợp một cách hợp lý các yếu tố cơ bản của sản xuất, ở chỗ xác lập một
sự ăn khớp về hoạt động giữa những người lao động riêng biệt. Nếu chức năng
này không được thực hiện thì quá trình hợp lý của lao động hợp tác không thể
tiến hành được. Hoạt động quản lý trong xã hội sẽ mang dấu ấn của xã hội đó.
Nó có mỗi quan hệ chặt chẽ với chế độ sở hữu và các quan hệ kinh tế phát sinh
từ chế độ xã hội đó.
Ngày nay, khoa học quản lý càng trở nên quan trọng và có nhiều quan
điểm quản lý khác nhau tùy thuộc vào đối tượng quản lý và phạm vi quản lý.
- Theo lĩnh vực sản xuất: Quản lý được hiểu là quá trình tính toán, lựa
chọn các biện pháp để chỉ huy, phối hợp, điều hành quá trình sản xuất kinh
doanh bằng những công cụ quản lý như: kế hoạch định mức, thống kê kế toán,
phân tích kinh doanh, thông tin kinh tế … để sản xuất đáp ứng được ba yêu cầu:
+ Yêu cầu của thị trường về số lượng, chất lượng, giá cả và thời điểm.
+ Đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.
+ Tôn trọng pháp luật Nhà nước.
- Theo lĩnh vực kinh doanh: quản lý là sự tác động có tổ chức, có tính
hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì tính trồi của
hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất các tiềm năng cơ hội của hệ thống đó để
đưa hệ thống đó đến một mục tiêu đã định trong điều kiện môi trường luôn biến
động.
Ngoài ra, quản lý có thể hiểu là quá trình phối hợp chỉ huy hoạt động sản
xuất của các khâu, các bộ phận đảm bảo phát huy hết khả năng của doanh
nghiệp để phục vụ cho sự phát triển.
Theo quan điểm chung nhất, quản lý là sự tác động có hướng, có tổ chức,
có mục đích của con người đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trên cơ sở vĩ mô)
và doanh nghiệp (trên cơ sở vi mô) bằng một hệ thống các biện pháp kinh tế, xã
hội và các biện pháp khác để tạo ra các biện pháp thuận lợi nhất thực hiện mục
tiêu đề ra trước đó. Thực chất của quản lý là sự tác động lên hành vi của mỗi cá
nhân nhờ đó tạo thành hành vi chung có sức mạnh tạo lên sức mạnh cho cả hệ
thống.

hiện thực, biến những nỗ lực chủ quan của mỗi thành viên trong doanh nghiệp
thành hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Bộ máy quản lý doanh nghiệp là một hệ thống các bộ phận hợp thành
gồm các phòng ban có chức năng, có nhiệm vụ cơ bản giúp cho Giám đốc
doanh nghiệp quản lý và điều hành quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo quá
trình sản xuất kinh doanh đạt mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất.
Bộ máy quản lý thường được xem xét trên ba mặt chủ yếu sau:
- Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
- Lực lượng lao động quản lý để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
bộ máy.
Trong đó lực lượng lao động quản lý có vai trò quyết định.
Hệ thống các phòng ban chức năng tạo lên bộ máy quản lý doanh nghiệp.
Nhưng nếu để các bộ phận này riêng lẻ không có mối liên hệ nào thì sẽ vô
nghĩa, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của quản lý. Do vậy phải đặt các
bộ phận này trên một tổ chức nhất định, các bộ phận này phải hoạt động nhịp
nhàng ăn khớp với nhau.
1.1.5. Lao động quản lý và phân loại lao động quản lý.
1.1.5.1. Lao động quản lý:
Lao động quản lý bao gồm những cán bộ và nhân viên tham gia vào việc
thực hiện các chức năng quản lý. Trong bộ máy thì hoạt động của lao động quản
lý rất phong phú và đa dạng, cho nên để thực hiện được các chức năng quản lý
thì trong bộ máy quản lý phải có nhiều hoạt động quản lý khác nhau.
1.1.5.2. Phân loại lao động quản lý:
Căn cứ vào việc tham gia trong các hoạt động và chức năng quản lý,
người ta chia lao động quản lý thành ba loại sau:
Một là: Cán bộ quản lý doanh nghiệp gồm có giám đốc, các phó giám
đốc, kế toán trưởng. Các cán bộ này có nhiệm vụ phụ trách từng phần công
việc, chịu trách nhiệm về đường lối chiến lược, các công tác tổ chức hành chính
tổng hợp của doanh nghiệp.

cấu, xây dựng mô hình và làm cho toàn bộ hệ thống quản lý của doanh nghiệp
hoạt động như một chỉnh thể có hiệu lực nhất.
- Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức là sự phân chia tổng thể của một tổ chức thành những bộ
phận nhỏ theo những tiêu thức chất lượng khác nhau, những bộ phận đó thực
hiện những chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực
hiện mục tiêu chung của tổ chức.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là những bộ phận có trách
nhiệm khác nhau, nhưng quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau được bố trí theo từng
khâu, từng cấp quản lý để tạo thành một chỉnh thể nhằm thực hiện mục tiêu và
chức năng quản lý xác định.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là một chỉnh thể hợp thành
của các bộ phận khác nhau, có mối quan hệ hữu cơ và phụ thuộc lẫn nhau, được
chuyên môn hoá có nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, được bố trí theo các
khâu, các cấp đảm bảo chức năng quản trị doanh nghiệp nhằm mục đích chung
đã xác định của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là hình thức phân công lao
động trong lĩnh vực quản lý. Nó có tác động đến quá trình hoạt động của toàn
bộ doanh nghiệp. Nó một mặt phản ánh cơ cấu sản xuất, mặt khác tác động tích
cực trở lại việc phát triển sản xuất.
Sản xuất ngày càng phát triển thì mức độ tập trung hoá và chuyên môn
hoá sản xuất ngày càng cao, nó đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các
phòng ban và phân xưởng sản xuất ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất. Như
vậy, việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được xem như
vấn đề trọng tâm của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế cạnh tranh. Việc xây
dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải dựa trên những nguyên
tắc nhất định và phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản của cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý doanh nghiệp.
1.1.6.2. Nội dung của bộ máy quản lý doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status