Bài diễn thuyết " Sự vận hành của nền kinh tế qua các thời kỳ " - Pdf 68

Sự vận hành của nền kinh tế qua các thời kỳ
Economic Performance through Time
Douglass C. North
*Bài Diễn thuyết tưởng nhớ Alfred Nobel, ngày 9 tháng 12 năm 1993
I
Lịch sử kinh tế là một môn khoa học nghiên cứu sự vận hành của các nền kinh tế
qua thời gian. Mục đích của việc nghiên cứu lĩnh vực này không chỉ nhằm đem lại
cho những sự kiện kinh tế trong quá khứ một cái nhìn mới mà còn nhằm đóng góp
cho lý thuyết kinh tế một hệ thống phân tích cơ bản. Hệ thống này giúp chúng ta
có thể hiểu được những biến đổi kinh tế. Một lý thuyết động lực kinh tế tương tự
như lý thuyết cân bằng tổng thể (general equilibrium theory) sẽ là một công cụ
phân tích lý tưởng. Không có nó, chúng ta có thể mô tả những đặc tính của các nền
kinh tế trong quá khứ, kiểm tra sự vận hành của các nền kinh tế ở nhiều thời kỳ
khác nhau song chúng ta không thể có được một sự hiểu biết mang tính phân tích
về cách thức mà các nền kinh tế phát triển qua thời gian.
Lý thuyết động lực kinh tế (theory of economic dynamics) cũng có ý nghĩa quan
trọng trong lĩnh vực kinh tế phát triển. Không có gì huyền bí trong việc lý giải tại
sao lĩnh vực kinh tế phát triển đã không thể tiến triển được trong suốt 5 thập kỷ
sau Đại Chiến Thế giới lần II. Lý thuyết tân cổ điển chỉ đơn thuần là một công cụ
không thích hợp cho việc phân tích và đưa ra những chính sách đem lại sự phát
triển. Lý thuyết này quan tâm đến sự vận hành của thị trường chứ không quan tâm
đến việc thị trường phát triển ntn. Làm sao một người có thể soạn thảo ra chính
sách trong khi chính anh ta lại không hiểu gì về quá trình phát triển của nền kinh
tế? Những phương pháp mà các nhà kinh tế tân-cổ điển sử dụng lại quá nhấn mạnh
vào các chủ đề và đi ngược lại một sự phát triển như vậy. Ở dạng thức nguyên sơ
của nó, lý thuyết tân-cổ điển đem lại cho mình một sự chính xác toán học và một
phong thái thanh lịch. Nó mô phỏng một thế giới tĩnh trong đó không hề tồn tại
một sự cọ sát, va chạm nào. Khi được áp dụng cho lịch sử kinh tế và phát triển nó
tập trung vào sự phát triển kỹ thuật và gần đây hơn là đầu tư vốn con người trong
khi phớt lờ cơ cấu khuyến khích nằm trong các thể chế. Cơ cấu này quyết định
mức độ đầu tư xã hội vào nhân tố kỹ thuật hay vào nhân tố con người. Trong việc

II
Các thể chế là những cưỡng chế do con người đặt ra để điều chỉnh các mối quan
hệ tương tác của con người. Thể chế bao gồm các cưỡng chế và các đặc tính riêng
biệt của việc thi hành những cưỡng chế này. Trong cưỡng chế có cưỡng chế chính
thức (quy định, luật lệ, pháp chế) và cưỡng chế phi chính thức (chuẩn mực hành
vi, tập quán, và các quy tắc đạo đức tự áp đặt). Tất cả những yếu tố này hợp lại với
nhau tạo thành cơ cấu khuyến khích động viên (incentive structure)của các xã hội
và nhất là của các nền kinh tế. Cùng với loại công nghệ sử dụng, thể chế quyết
định chi phí giao dịch và chuyển đổi. Chúng hợp thành một phần của chi phí sản
xuất. Chính Ronald Coase (1960) là người đã đưa ra mối liên hệ quan trọng giữa
thể chế, chi phí giao dịch và lý thuyết tân-cổ điển. Lý thuyết tân-cổ điển cho rằng
thị trường hoạt động có hiệu quả chỉ có được khi không tồn tại phí giao dịch. Chỉ
với điều kiện quá trình giao dịch diễn ra miễn phí thì các tác nhân tham gia vào
nền kinh tế mới có thể tối ưu hoá tổng cầu mà không cần phải tính đến những sắp
đặt thể chế. Nhưng một khi phải trả phí cho các giao dịch thì sẽ phải tính đến vai
trò của các thể chế. Và rõ ràng là chúng ta phải chi trả phí cho các giao dịch của
chúng ta. Wallis và North (1986) đã chứng minh trong một nghiên cứu thực
nghiệm rằng vào năm 1970 khu vực giao dịch chiếm tới 45% GDP của nền kinh
tế. Trong thực tế, các thị trường hiệu quả được tạo ra khi hoạt động mua đi bán lại
trên các thị trường làm cho cạnh tranh đủ mạnh cộng với quá trình phản hồi thông
tin diễn ra hiệu quả đến mức có thể tạo ra những điều kiện gần giống với điều kiện
phí giao dịch bằng 0 của Coase. Lúc đó, các bên tham gia vào nền kinh tế có thể
hiện thực hoá những khoản lợi thu được từ buôn bán, trao đổi mà các lập luận của
lý thuyết tân-cổ điển đã đưa ra.
Song cần phải đáp ứng được những yêu cầu rất nghiêm ngặt về thể chế và thông
tin thì mới có thể có được những thị trường hoạt động hiệu quả. Các tác nhân tham
gia vào nền kinh tế khi đó phải biết mục tiêu của mình là gì. Không những vậy, họ
còn phải biết làm cách nào để đạt được mục tiêu đó một cách đúng đắn. Nhưng
làm sao họ có thể biết được? Câu trả lời hợp lý là mặc dù các tác nhân tham gia
vào nền kinh tế thoạt đầu có thể sử dụng nhiều phương thức sai lệch khác nhau

mực nhất định:các số đo vật lý phải mang tính khách quan (kích cỡ, cân nặng, màu
sắc, v.v.) và các khía cạnh về quyền sở hữu phải được định nghĩa bằng những
thuật ngữ pháp luật. Cạnh tranh cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm
chi phí thi hành. Hệ thống tư pháp buộc các bên tham gia phải thi hành các thoả
thuận. Song, cho dù trong quá khứ hay hiện tại thì các thị trường kinh tế luôn có
đặc trưng là tính không hoàn hảo và có chi phí giao dịch cao.
Đánh giá và thi hành những thoả thuận trong các thị trường chính trị còn là một
việc làm khó khăn hơn rất nhiều. Thứ được đưa ra trao đổi (giữa các cử tri và các
nhà lập pháp trong một nền dân chủ) ở đây là những lời hứa cho các lá phiếu. Cử
tri hầu như không có động cơ để tìm hiểu thêm về thông tin bởi dường như lá
phiếu của một cử tri đơn lẻ không có mấy ý nghĩa. Việc làm cho vấn đề trở nên
phức tạp hơn sẽ tạo ra tình trạng không chắc chắc. Việc thi hành các thoả thuận
chính trị gặp đầy dẫy những khó khăn. Cạnh tranh trong thị trường chính trị kém
hiệu quả hơn rất nhiều so với thị trường kinh tế. Các cử tri có thể được thông tin
một cách đầy đủ về các chính sách đơn giản, dễ đánh giá và có ý nghĩa quan trọng
với cuộc sống thực tế của họ. Song vượt lên trên những chính sách dễ hiểu đó, thì
sự rập khuôn tư tưởng (như những gì tôi sẽ bàn luận dưới đây ở phần IV) sẽ thắng
thế và định hình hoạt động sau đó của nền kinh tế 3. Chính cách thức này xác lập
và thi hành các quyền sỏ hữu. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các thị
trường kinh tế hoạt động có hiệu quả lại hiếm hoi đến như vậy.
III
Chính mối tương tác giữa các thể chế và các tổ chức đã định hướng cho sự tiến
hoá của các thể chế trong một nền kinh tế. Nếu các thể chế là những luật lệ của
một trò chơi thì các tổ chức cùng những doanh nhân là người chơi. Các tổ chức
bao gồm các thực thể chính trị (các đảng phái chính trị, Thượng viện, một uỷ ban
thành phố, cơ quan luật pháp), thực thể kinh tế (công ty, liên đoàn thương mại,
trang trại gia đình, hợp tác xã), các thực thể xã hội (nhà thờ, câu lạc bộ, hội điền
kinh), các thực thể giáo dục (trường trung học, đại học, trung tâm hướng nghiệp).
Mỗi tổ chức được thiết lập sẽ phản ánh một cơ hội do ma trận thể chế đem lại. Có
nghĩa là nếu như khung thể chế dung dưỡng một hành động sai trái thì các tổ chức

IV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status