NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ VỀ ĂN UỐNG - Pdf 68



266- Người già không nên nói
khuyết điểm của con cháu trước mặt người ngoài
Trong gia đình ngƣời già là đối tƣợng đƣợc tôn trọng. Mỗi lời nói việc làm của
ngƣời già đều có tác dụng gƣơng mẫu đối với thế hệ trẻ. Con cháu có sai lầm khuyết
điểm gì, nên kịp thời phê bình khuyên bảo. Nhƣng tuyệt đối không nên nói ra cho
ngƣời ngoài biết sai lầm khuyết điểm của con cháu.
Bởi vì trƣớc mặt ngƣời ngoài mà nói ra những điều không phải của con cháu, dễ
gây nên phản ứng và xúc phạm tình cảm giữa chúng và ngƣời già. Chúng cảm thấy
ngƣời già không giữ thể diện cho chúng. Cho nên, nếu không phải là những vấn đề
thuộc về nguyên tắc nhƣ vi phạm kỷ luật hoặc luật pháp, thì ngƣời già nên thể tình
châm chƣớc cho con cháu. Nên " Tốt đẹp bày ra, xấu xa đậy lại" thì tốt hơn.. Có nghĩa
là phải chú ý dến trƣờng hợp, phƣơng thức và phƣơng pháp.
267- Cha mẹ không nên bóc thư riêng của con cái
Có một số bậc cha mẹ cho rằng thƣ từ của ngƣời khác thì không thể bóc, nhƣng
thƣ từ của con cái mình thì có thể bóc xem đƣợc. Trên thực tế, cha mẹ bóc thƣ riêng
của con cái cũng là vi phạm pháp luật.
Bởi vì mỗi ngƣời đều có những bí mật ở nơi sâu thẳm trong tâm hồn mình và có
quyền đƣợc giữ bí mật điều đó. Cho nên bóc thƣ riêng của con cái hoặc xem trộm
nhật ký của con cái, nếu không nói là phạm pháp thì chí ít cũng là hành vi vô đạo đức. PHẦN 5 : NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ VỀ ĂN UỐNG
268- Không nên coi thường bữa ăn sáng
Có học giả ngƣời Anh đã làm cuộc điều tra đối với những ngƣời phụ nữ bị mắc
bệnh sỏi mật, thì phát hiện ra rằng ngƣời mắc bệnh sỏi mật có liên quan đến việc
không ăn bữa sáng.
Bởi vị bụng rỗng quá lâu, các thành phần trong mật có sự biến hoá, hàm lƣợng
axit mật giảm đi, hàm lƣợng côlestêrin không đổi, do đó mà hình thành côlestêrin mật
quá cao. Côlestêrin quá cao dễ tích luỹ lại ở trong túi mật, hình thành chất hạt nhân

chuyển sang trạng thái ức chế tƣơng đối, công năng dạ dày và ruột cũng giảm đi rõ
rệt. Nếu trƣớc khi ngủ lại ăn cơm, thì thức ăn sẽ không đƣợc tiêu hoá hoàn toàn, do
đó mà làm cho tiêu hoá không tốt và rối loạn công năng.
Trƣớc khi ngủ mà ăn cơm, thức ăn sẽ đọng lại ở trong dạ dày, làm cho sự hƣng
phấn của đại não lên cao, rất khó ngủ. Nếu nhƣ ngủ đƣợc thì cũng nghiến răng, nói
mê, đái dầm hoặc ác mộng v.v...Ngoài ra, nếu có thói quen không đánh răng sau khi
ăn thì thức ăn đọng lại trên răng và trong kẽ răng, vi khuẩn dễ phát triển, gây nên các
bệnh răng hàm mặt nhƣ sâu răng, viêm chân răng v.v...Cho nên trƣớc khi đi ngủ
không nên ăn cơm. 273- Không nên ăn quá no
Một bữa cơm ăn quá no, cố nhiên là chẳng có ích gì cho cơ thể. Bữa cơm nào
cũng ăn quá no lại càng không có lợi.
Hệ thống tiêu hoá của con ngƣời, mỗi ngày phải phân tiết khoảng 8.000 mg dịch
tiêu hoá để tiêu hoá thức ăn, bồi bổ cho cơ thể. Nếu mỗi bữa đều ăn no hoặc là quá
no, không những làm cho dạ dày quá căng phồng, nhu động chậm lại, mà việc phân
tiết dịch tiêu hoá cung không đủ cầu, thức ăn không đƣợc tiêu hoá hết đã bị bài tiết ra
ngoài cơ thể. Những thức ăn không tiêu hoá đọng lại ở trong đại tràng thối ra và lên
men sẽ sinh ra những chất độc, do đó mà gây trở ngại cho công năng tiêu hoá. Cho
nên không nên ăn quá no. Mỗi bữa cơm chỉ nên ăn no 8 phần thôi là vừa. Nhƣ vậy
không những có lợi cho sức khoẻ, mà còn có thể khử bệnh đƣợc lâu dài.
274- Không nên ngồi xổm ăn cơm
Ngồi xổm ăn cơm có hại cho sức khoẻ.
Khi ngồi xổm, ruột và dạ dày bị ép rất mạnh, ảnh hƣởng đến công năng tiêu hoá,
đồng thời động mạch bụng cũng bị ép, vi ti huyết quản ở dạ dày không đƣợc bổ sung
lƣợng máu tƣơi mới cần thiết, dẫn đến công năng tiêu hoá bị suy giảm. Cho nên ngồi
xổm ăn cơm là tƣ thế ăn cơm không khoa học.
275- Không nên xem sách báo trong lúc ăn cơm
Trong khi ăn cơm, trƣớc khi ăn cơm nửa giờ hoặc vừa ăn cơm xong mà xem

gây ra đau ở vùng bụng, sa dạ dày v.v... Cho nên sau khi ăn cơm không nên làm việc
ngay. Tốt nhất là nên nghỉ khoảng một tiếng đồng hồ rồi hãy làm việc là thích hợp .
278- Sau khi ăn cơm không nên vận động quá mạnh
Vừa buông bát đũa xuống đã chạy ngay ra bãi nhảy cao, chạy dài, đánh bóng rổ
và làm những động tác mạnh là có hại.
Bởi vì ăn cơm xong, trong dạ dày đang chứa đầy thức ăn, lập tức đi vận động
quá mạnh, dạ dày sẽ bị trấn động, sôi lên và nhu động dữ dội, do đó mà xuất hiện cac
triệu chứng rạo rực, nôn mửa, đau bụng v.v... và còn có thể dẫn đến các bệnh nhƣ sa
dạ dày, rối loạn tiêu hoá và viêm dạ dày mãn tính v.v...Cho nên sau khi ăn cơm không
nên vận động quá mạnh. Ăn cơm xong khoảng một tiếng rƣỡi hãy vận động mạnh.
279- Không nên nhịn đói lâu
Rất nhiều ngƣời ở thành phố có thói quen buổi sáng không ăn bữa sáng. ở nông
thôn có nhiều vùng, mỗi ngày chỉ ăn có hai bữa. Nhƣ vậy thời gian bụng rỗng bị
kéo dài. Nhịn đói quá lâu không có lợi cho sức khoẻ. Thƣờng thấy nhất là gây ra bệnh
sỏi mật.
Bởi vì khi bụng đói, việc phân tiết mật bị giảm đi, lƣợng côlestêrin trong mật
cũng giảm, mà hàm lƣợng côlestêrin lại không thay đổi. Nếu thời gian bụng rỗng quá
dài, côlestêrin sẽ xuất hiện trạng thái bão hoà và lắng đọng lại ở trong túi mật, từ đó
mà hình thành côlestêrin hoá thạch. Bệnh này thƣờng hay thấy ở phụ nữ đứng tuổi.
Cho nên không nên nhịn đói quá lâu.
280- Bữa tối không nên ăn quá no Những năm gần đây, ngành y nghiên cứu đã chứng minh, béo phì là triệu chứng
của rất nhiều bênh tật và là tín hiệu của sự già yếu, nhất là bệnh tâm huyết quản. Bữa
tối ăn quá no, không những dễ dẫn đến béo phì, mà còn dễ gây nên nhiều loại bệnh
tật.
Bởi vì bữa tối ăn quá no sẽ làm cho đƣờng, axit amin, axit béo trong máu tăng
lên, làm cho insulin phân tiết rất nhiều. Thêm nữa ban đêm hoạt động ít, năng lƣợng
tiêu hao ít, những chất dinh dƣỡng trong máu dễ chuyển hoá thành mỡ. Cho nên bữa

Mục đích đun nƣớc sôi là để diệt vi trùng trong nƣớc lã, giảm bớt những chất có
độc. Thí nghiệm đã chứng minh, hàm lƣợng halohydrôcacbon nhƣ clôrôphoóc tăng
lên theo độ nƣớc nóng. Khi nƣớc nóng lên đến 100oC thì hàm lƣợng clôrôphóc và
halohydrôcacbon vẫn vƣợt quá phạm vi an toàn. Nhƣng nƣớc sôi sau 3 phút thì hàm
lƣợng ấy sẽ giảm xuống trong phạm vi an toàn. Cho nên để bảo đảm an toàn, nƣớc
vừa bắt đầu sôi không nên lấy ra uống, mà phải đun sôi liên tục trong 3 phút rồi đem
dùng là tốt nhất. Song cũng không nên để thời gian sôi lâu quá.
284- Không nên pha nước sôi vào trứng gà
Nƣớc sôi pha trứng gà, không những giá trị dinh dƣỡng cao mà còn thuận tiện.
Cho nên nhiều ngƣời rất thích pha nƣớc sôi vào trứng gà để uống. Trên thực tế, nƣớc
sôi pha trứng gà, hại nhiều mà lợi ít.
Bởi vì nƣớc sôi pha trứng gà thƣờng là nửa chín nửa sống. Những chất prôtêin
nhƣ thế này không dễ bị hấp thu. Trong trứng gà sống có chất “lòng trắng trứng kháng
sinh vật ” và chất “ men lòng trắng trứng kháng tuỷ”. Chất trên có thể ảnh hƣởng đến
việc hấp thu và lợi dụng các sinh vật tố của cơ thể. Chất dƣới có thể phá hoại công
năng tiêu hoá của tuyến tuỷ. Ngoài ra, trong trứng gà sống thƣờng có các loại
vi khuẩn, ăn vào rất dễ mắc bệnh. Cho nên không nên pha nƣớc sôi vào trứng gà. Nên
luộc cho trứng gà chínrồi hãy ăn thì sẽ không gặp phải những bệnh tật nhƣ trên.
285- Sau khi lao động không nên uống nhiều nước ngay
Sau khi lao động, mồ hôi ra nhiều, sẽ thấy khát nƣớc, thấy nƣớc là uống ừng ực.
Nhƣ vậy tuy có đỡ khát, nhƣng lại có hại cho thân thể.
Bởi vì sau khi lao động, những mạch máu trên đƣờng ruột dạ dày ở trạng thái co
lại, đại bộ phận máu tập trung vào các cơ bắp mà khi lao động rất căng thẳng. Nếu lúc
này mà uống nhiều nƣớc, năng lực hấp thu của đƣờng ruột dạ dày rất kém, nƣớc dễ
tích tụ lại ở trong đƣờng ruột dạ dày, làm cho ngƣời ta cảm thấy buồn bã khó chịu,
dẫn đến tiêu hoá kém. Đồng thời, vừa lao động xong, buồng tim đang cần đƣợc nghỉ,
nếu lúc này mà uống rất nhiều nƣớc, buồng tim sẽ phải co lại rất căng, nhƣ vậy chỉ
làm cho tim phải làm việc nhiều hơn. Cho nên sau khi lao động không nên uống nhiều
nƣớc ngay.
286- Bàn ăn không nên thấp quá

chè lạnh.
290- Không nên uống nước chè để lâu
Trong lá chè có tới hơn 100 chất hoá hợp. Tất cả những chất hoá hợp này đều
không có hại cho cơ thể. Nói chung sau khi pha chè 4 – 6 phút bắt đầu uống là thích
hợp. Để lâu sẽ giảm mất những chất hoá hợp có ích ở trong chè.
Bởi vì nƣớc chè pha rồi mà để mấy tiếng đồng hồ, đặc biệt là để trong phích
nóng hoặc để trên bếp lửa, thì sẽ sinh ra biến hoá về hoá học. Mùi thơm của nƣớc chè
sẽ mất đi hƣơng vị vốn có của chè và sẽ trở thành mầu nâu. Nƣớc chè lạnh sẽ bị vẩn
đục, cuối cùng sẽ chẳng còn là nƣớc chè nữa. Lúc đó vitamin C và vitamin B trong
chè sẽ bị phá huỷ. Cho nên không nên uống nƣớc chè để lâu. 291- Không nên uống chè mốc
Uống nƣớc chè đã bị mốc không những chẳng có lợi mà còn có thể làm cho
ngƣời ta sinh bệnh nữa.
Bởi vì trong lá chè đã biến chất sinh mốc có rất nhiều độc tố nấm mốc. Những
độc tố này rất nguy hiểm đối với cơ thể con ngƣời. Thƣờng xuyên uống phải nƣớc chè
mốc có thể làm cho các cơ quan gan thận bị biến tính, hoại tử, thậm chí còn có thể dẫn
đến nguy hiểm là mắc bệnh ung thƣ. Cho nên không nên uống nƣớc chè mốc.
292- Không nên thường xuyên uống nước chè đặc
Uống nƣớc chè có rất nhiều cái lợi, nhƣng thƣờng xuyên uống nƣớc chè đặc thì
lại có hại.
Bởi vì trong nƣớc chè đặc có tƣơng đối nhiều chất nhu, có thể làm cho niêm mạc
dạ dày co lại, chất prôtêin rắn lại, lắng xuống và làm loãng dịch vị, ảnh hƣởng đến
công năng tiêu hoá. Đồng thời kết hợp quá nhiều nhu toan và vitamin B1 sẽ dẫn đến
thiếu vitamin B1. Những ngƣời bị bệnh cao huyết áp, bệnh tim, bệnh đái tháo đƣờng,
bệnh viêm gan, viêm thận v.v... mà uống nƣớc chè đặc vào lúc đói có thể làm cho
bệnh nặng hơn . Ngoài ra chất nhu có thể ảnh hƣởng đến việc hấp thu chất sắt của cơ
thể, nếu kéo dài sẽ sinh bệnh thiếu máu thiếu chất sắt. Nếu bà mẹ đang cho con bú mà
uống nƣớc chè đặc thì sữa sẽ ít đi; trƣớc khi ngủ mà uống nƣớc chè đặc sẽ ảnh hƣởng

Dùng cốc bảo ôn để pha trà, nƣớc trà bị giữ ở nhiệt độ cao trong thời gian tƣơng đối
dài, cứ nhƣ bị nấu trong nƣớc sôi vậy, kết quả là chất dầu thơm bị bay đi, làm giảm đi
rất nhiều mùi thơm của chè. Đồng thời nƣớc chè nồng quá, chất nhu toan, trà kiềm
quá nhiều, làm cho nƣớc chè có vị chát đắng, uống vào rất khó chịu, vitamin C và
vitamin P cũng bị mất đi rất nhiều. Cho nên không nên pha trà bằng cốc bảo ôn.
296- Khi sốt nóng không nên uống nước chè đặc
Những ngƣời bị sốt cảm cúm mà uống nƣớc chè nóng và đặc, rất không có lợi
cho việc phục hồi sức khoẻ.
Bởỉ vì trong lá chè có chất trà kiềm có thể làm tăng nhiệt độ trong cơ thể. Đồng
thời nƣớc chè còn có thể làm giảm đi hoặc vô hiệu hoá tác dụng của thuốc bệnh. Cho
nên khi đang sốt thì không nên uống nƣớc chè đặc, mà chỉ nên uống nƣớc chè loãng
hoặc nƣớc đun sôi mà thôi.
297- Người thiếu máu không nên uống nước chè
Thiếu máu là bệnh thƣờng thấy, nhiều nhất là những ngƣời thiếu máu đo thiếu
chất sắt. Trong cơ thể thiếu chất sắt sẽ ảnh hƣờng đến việc hợp thành chất hemoglobin
trong cơ thể, ngƣời bệnh sẽ có biểu hiện sắc mặt trắng bệch, choáng váng, kiệt sức,
thở mạnh, tim đập mạnh v.v... Ngƣời bị bệnh thiếu máu mà uống nƣớc chè sẽ làm cho
bệnh càng nặng thêm.
Bởi vì chất sắt trong thức ăn nhập vào đƣờng tiêu hoá, qua tác dụng của dịch vị,
chất sắt bậc cao chuyển thành chất sắt bậc thấp thì mới đƣợc cơ thể hấp thu. Trong
chè có một lƣợng nhu toan rất lớn, nhu toan rất dễ kết hợp với chất sắt bậc thấp, hình
thành chất nhu toan sắt không tan, do đó mà trở ngại cho việc hấp thu chất sắt, khiến cho bệnh thiếu máu càng thêm trầm trọng. Cho nên ngƣời mang bệnh thiếu máu thì
không nên uống nƣớc chè.
298- Không nên uống nước chè khi uống thuốc bổ máu có chất sắt.
Chè là một thứ đồ uống ngƣời ta dùng rất nhiều. Uống chè một cách thích đáng
thì có thể có lợi cho thần kinh và trí nhớ, có thể làm giãn gân cốt, bớt mệt mỏi, có thể
làm cho đỡ khát và giảm bớt phiền muộn, rất có lợi cho sức khoẻ. Hiện nay ngƣời ta


thành ổ sinh trƣởng lý tƣởng cho các loại vi sinh vật, làm cho rƣợu biến chất, trở nên
chua. Cho nên rƣợu nhẹ không nên cất giữ lâu. Nói chung bia đóng chai có thể cất giữ
đƣợc 4 – 5 tháng, còn bia tƣơi thì chỉ có thể cất giữ đƣợc 2 – 3 ngày.
301- Trước khi ăn không nên uống rượu
Uống rƣợu trƣớc rồi ăn cơm sau là một cách làm sai lầm không tốt.
Bởi vì uống rƣợu trƣớc khi ăn, trong dạ dày trống rỗng, niêm mạc dạ dày và thực
đạo bị chất cồn kích thích dễ phát sinh tổn thƣơng làm cho đau đớn, nôn mửa, chảy
máu, nếu nặng hơn thì bị viêm dạ dày cấp tính. Cho nên trƣớc khi ăn không nên uống
rƣợu. Nên ăn cơm rồi mới uống, vì trong dạ dày đã có thức ăn sẽ nhanh chóng giảm
bớt sự hấp thu cồn rƣợu, sự kích thích của rƣợu cũng giảm bớt đi, phản ứng xấu cũng
ít hơn và chậm lại.
302- Không nên dùng rượu trắng để giải độc
Ngành y dùng rƣợu cồn để làm thuốc sát trùng, tiêu độc, nhƣng có một số ngƣời
lại hiểu lầm rằng rƣợu có thể giải độc. Cho nên ăn phải thực vật mốc liền uống rƣợu
để giải độc; ngƣời bị trúng độc thức ăn cũng uống rƣợu để giải độc. Trên thực tế, đó là
một cách làm sai lầm.
Thành phần chủ yếu của rƣợu là cồn êtilic, có tác dụng diệt khuẩn nhất định.
Song chúng không thể tiêu trừ đƣợc độc tố của vi trùng trong thực vật mốc đƣợc, cũng
không thể tiêu trừ đƣợc độc tính của các chất độc khác. Sử dụng rƣợu trắng nhƣ một
loại thuốc giải độc là rất nguy hiểm. Cho nên không nên dùng rƣợu trắng để giải độc.
303- Nam giới không nên dùng rượu để kích thích tính dục
Không ít ngƣời cho rằng nam giới sau khi uống rƣợu có thể kích thích tính dục.
Trên thực tế, đây là một sự hiểu lầm.
Bởi vì rƣợu không những không làm tăng thêm tính dục của nam giới, mà hoàn
toàn ngƣợc lại, rƣợu còn có thể làm giảm chất kích tố, làm cho tính dục và năng lực
của nam giới giảm đi rõ rệt. Cho nên nam giới không nên uống rƣợu để tăng dục.
304- Không nên uống rượu để chống rét
Sau khi uống rƣợu, toàn thân ấm áp, có cảm giác ngƣời nóng lên, có thể chống
rét. Nhƣng đó chỉ là tạm thời. Nếu xét về thời gian dài, sau khi uống rƣợu sẽ làm cho

4/ Đau bụng đi ngoài : Trong sữa ong chúa có chất độc của nọc ong có tác dụng
làm rối loạn công năng của đƣờng ruột, cho nên ngƣời bị đau bụng đi ngoài không
nên dùng sữa ong chúa.
5/ Ngƣời có thai : Trong sữa ong chúa có chất kích thích, có tác dụng kích thích
tử cung co hẹp lại gây cản trở cho sự phát triển của thai nhi, cho nên ngƣời có thai
không nên dùng.
6/ Ngƣời có bệnh truyền nhiễm đang sốt : Đông y cho rằng bệnh truyền nhiễm là
do “ngoại tà” dẫn đến, thời kỳ đang sốt phải lấy việc giải nhiệt là chính, không nên
dùng sữa ong chúa để tăng thêm chất bổ, đề phòng bệnh tình sẽ kéo dài.
307- Những người nào không nên ăn lạc ? Trong lạc có một hàm lƣợng dầu ngƣng huyết rất lớn, có thể rút ngắn thời gian
ngƣng huyết, dễ gây nên tắc mạch máu. Tuy nó có nhiều hàm lƣợng axit béo không
bão hoà, nhƣng chất axit ấy có thể làm cho axit béo có tính bão hoà ở trong máu lắng
đọng và thẩm thấu ở thành huyết quản, dẫn đến chứng xơ cứng động mạch, cho nên
những ngƣời già và những ngƣời đứng tuổi bị xơ cứng động mạch và những ngƣời bị
ứ máu do ngã thì không nên ăn lạc. Ngoài ra trong lạc có nhiều chất dầu cho nên
những ngƣời bị viêm túi mật và đã cắt túi mật thì trong ngƣời không còn nhiều lƣợng
mật dự trữ, không thể tiêu hoá một lƣợng lớn dầu ở trong lạc đƣợc, sẽ làm cho gan
phải làm việc rất nhiều để tiết ra chất mật, nhƣ vậy sẽ tổn hại cho công năng của gan.
Cho nên những ngƣời đã có bệnh về mật thì không nên ăn lạc. Lạc khó tiêu hoá và có
tác dụng làm trơn đƣờng ruột, cho nên nhữngngƣời có bệnh đƣờng ruột cũng không
nên ăn lạc.
308- Không nên ăn sữa bò và sữa đậu nành khi đang dùng đan sâm
Những năm gần đây, có chuyên gia nghiên cứu đã cho rằng : “Khi đang dùng
đan sâm thì không nên ăn sữa bò và sữa đậu nành”. Bởi vì những chất hydrô gốc ôxit
và hydrô xêtôn trong đan sâm có thể kết hợp với các chất kali, magiê, chất sắt có rất
nhiều trong sữa bò và đậu nành hình thành chất xơ, làm giảm hiệu quả của thuốc, cho
nên tốt nhất là không nên dùng cùng một lúc.

3/ Không đƣợc ăn giấm và thứ có axit. Ăn nhiều quả chua nhƣ chanh, mơ, táo
xanh, mận là những chất dễ kích thích tá tràng phân tiết nhiều, túi mật bị co lại, có thể
làm đau gan.
4/ Không đƣợc uống thuốc tránh thai.
5/ Không đƣợc ăn những thức ăn có nhiều mỡ.
6/ Không đƣợc ăn nhiều quá, uống nhiều quá.
7/ Kiêng chất cholestêrin. Không ăn gan, óc, bầu dục, xƣơng gân động vật và các
loại cá, trứng gà v.v...
312- Người viêm thận không nên ăn chuối tiêu
Trong chuối tiêu có nhiều chất muối kali, nếu ngƣời bị viêm thận ăn nhiều chuối
tiêu cũng tức là ăn nhiều muối kali, nhƣ vậy sẽ làm cho nồng độ kali trong máu tăng
lên nhanh chóng, gây nên ngộ độc kali, làm cho bệnh tình càng nặng thêm. Ngoài ra
còn có thể bị đau bụng đi ngoài. Cho nên, ngƣời bị viêm thận khi chất kali trong máu
cao thì không nên ăn chuối tiêu.
313- Người bị bệnh thận
không nên ăn những thức ăn có nhiều anbumin
Thận là cơ quan bài tiết quan trọng nhất, công năng chủ yếu của nó là hình thành
và bài tiết nƣớc tiểu và có thể bài ra nhập vào những chất độc trong cơ thể và những
chất phế thải sau khi thức ăn đã chuyển hoá tạo thành. Khi cơ quan thận bị nhiễm
bệnh có thể dẫn đến hiện tƣợng có một số lớn chất anbumin nhập vào nƣớc tiểu rồi bài
tiết ra ngoài hoặc vì công năng bài tiết bị trở ngại mà dẫn đến chất phế thải sau khi
anbumin đã chuyển hoá tồn đọng lại ở trong cơ thể. Cả hai tình huống này đều có thể
gây nên những hậu quả nghiêm trọng. Cho nên ngƣời bị bệnh viêm thận cần phải hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status