Địa lý tự nhiên Việt Nam (Phần 1) - Pdf 68

CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỰ NHIÊN
VIỆT NAM
Những đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam bắt nguồn từ vị trí địa lý, những
đặc điểm địa đới và phi địa đới xác định từ lưới toạ độ kinh, vĩ tuyến đến mối liên
hệ nhiều mặt với các yếu tố tự nhiên của khu vự xung quanh.
1.1.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
1.1.1. HỆ TỌA ĐỘ ĐỊA LÝ
Đất nước Việt Nam ta nằm trọn trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu:
a.Tính phần đất liền có hệ tọa độ:
Điểm cực Bắc 23
o
22’ vĩ Bắc trên cao nguyên Đồng Văn (tại xã Lũng Cú,
tỉnh Hà Giang)
Điểm cực Nam 8
o
30’ vĩ Bắc tại xóm Mũi, xã Đất Mũi (Mũi Cà Mau), huyện
Ngọc Hiễn, tỉnh Cà Mau.
Điểm cực Đông 109
o
24’ kinh Đông ở bán đảo Hòn Gốm, xã Vạn Thạnh,
huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Điểm cực Tây 102
o
10’ kinh Đông thuộc núi Pulaxam thôn Apachải xã Sín
Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Với tọa độ địa lý đó, phần đất liền trải dài khoảng 2000km (14
o
52’) từ Bắc
vào Nam, con chiều ngang nơi rộng nhất 600km ở Bắc Bộ, chỗ hẹp nhất 50 km ở
Trung Bộ (Quảng Bình)
b.Tọa độ của phần trên biển chưa có thể xác định thật chính xác.Tuy nhiên căn

đường cơ sở là vùng nôị thuỷ được coi như là lãnh thổ đất liền. Bên ngoài đường cơ
sở 12 hải lý là vùng lãnh hải, bên ngoài vùng lãnh hải là vùng tiếp giáp lãnh hải rộng
thêm 12 hải lý nữa.Vùng đặc quyền kinh tế mở rộng đến 200 hải lý tính từ đường cơ
sở(nếu tính từ đường lãnh hải thì rộng thêm 188 hải lý).Thềm lục địa là bộ phận kéo
dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho tới bờ ngoài của rìa lục địa sâu khoảng 200m
39/18/2005
và như thế thềm lục điạ của nước ta cũng khá rộng lớn. Đặc biệt quan trọng trong
biển Đông có hai quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, đó là quần đảo Hoàng
Sa thuộc TP Đà Nẵng và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà khiến cho toạ
độ ở phía Đông Và phiá Nam của nước ta ở ngoài biển là khoảng 117
o
KĐ và 6
O
VB.
1.1.2. Ý NGHĨA.
a.Vị trí địa lý và hình dáng đất nước ở phần đất liền khiến cho nước ta có một
chiều dài đường biên giới rất lớn, tiếp giáp với nhiều nước cả trên đất liền cả trên
biển. Trên đất liền giữa Miền Nam và Trung Quốc có tới 1400km đường biên giới,
giữa Việt Nam và Lào 2067km, giữa Việt Nam và Cam Pu Chia 1080 km. Đáng chú
ý là giữa ta và các nước đó có thế"núi liền núi sông liền sông" và rất ít biên giới tự
nhiên khó vượt qua.Thật vậy:
- Ở phía Đông Bắc nước ta có sông Kỳ Cùng chày vào lưu vực sông Tây
Giang dẫn đến lãnh thổ quãng châu; còn Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai
ngoài mấy thung lũng lớn còn có rất nhiều thung lũng nhỏ dẫn tới Quãng
Tây, Vân Nam Trung Quốc
- Ở phía Tây Bắc: Lai Châu vẫn thông được với Phong Xa Lỳ; đồng bằng Điện
Biên mở rộng sang thung lũng Nậm Hu và Luông Prabăng; Sơn la, Mộc
Châu, Suối Rút đều có đường qua Sầm Nưa.
- Dãy Trường Sơn Bắc với nhiều đèo thấ, nhất là các đèo Kẹo Nưa trên đường
quốc lộ 8 qua cửa khẩu cầu treo đến tỉnh Bô ly Cam Say; đèo Mụ Gịa trên

Diện tích phần đất liền 330.363 km
2
, đứng thứ 56 của thế giới được xếp vào
loại trung bình của thế giới (thua Nhật Bản 42,52 ngàn km
2
) nên có thể sánh vai
cùng các cường quốc năm châu.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM
1.2.1. VIỆT NAM NẰM Ở VỊ TRÍ TIẾP XÚC GIỮA NHIỀU HỆ THỐNG TỰ NHIÊN
- Về địa chất: Do Lịch Sử phát triển kiến tạo, đất nước ta vừa gắn với Hoa
Nam và qua đó thông với Đông Á và Đông Bắc Á; vừa gắn với phần Tây của bán
đảo Trung Ấn và qua đó thông với Ấn Độ, Hymalaya; vừa gắn với phần Đông Nam
Á hải đảo qua thềm lục địa rộng mà vào lúc biển rút Đệ tứ đã nối liền một dải.
- Về địa hình: địa hình nước ta mang đặc tính nhiều đồi núi của khu vực
Đông Nam Á, là khu vực động nhất bao quanh bởi các đới hút chìm hiện đại vòng
từ Mianma xuống hố sâu Giava rồi ngoặt lên hố sâu Philippin cho tới Đài Loan. Do
đó khu vực Đông Nam Á núi chiếm đa số nếu không phải là núi trẻ do vận động
Hymalaya tạo nên khi mảng Ấn Độ húc vào mảng Á-Âu thì cũng là những núi già
được vận động tân kiến tạo này đội lên làm trẻ lại.
59/18/2005
- Về mặt khí hậu:
+ Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều hoàn lưu khí quyển. Các khối khí lạnh
phương Bắc và cực lục địa (NPc) tràn từ phía Bắc về phía Nam, trung bình đến vĩ
tuyến 16
o
B, nhưng các đợt mạnh có thể ảnh hưởng đến 12-10
o
VB. Đồng thời các
khối khí xích đạo (Em) có nguồn gốc từ Nam bán cầu lại tiến xa về phía Bắc (cao
nhất lên đến Hoa Nam) khiến cho rừng nội chí tuyến gió mùa ẩm đã xóa hẳn các đới

địa mạo mà nước ta cũng có đủ các loại khoáng sản của khu vực Đông Nam Á như
thiếc, Vônfram, vàng, đá quý, bôxit, chì-kẽm, than đá, dầu khí...
1.2.2. VIỆT NAM LÀ NƯỚC CÓ TÍNH BIỂN LỚN NHẤT TRONG CÁC NƯỚC
ĐÔNG NAM Á LỤC ĐỊA
69/18/2005
Tính biển được xác định theo diện tích của biển, theo số lượng đảo và quần
đảo, theo độ dài của đường bờ biển so với diện tích đất liền.
Đường bờ biển nước ta dài đến 3260km là minh chứng rõ cho tính biển của
nước ta.
Dựa vào tỷ số giữa chiều dài đường bờ biển (3260km) so với diện tích đất
liền (330.363 km
2
) thì nước ta có tỷ số 0,016, gấp hơn 2 lần Thái Lan (0,007) và
ngang với Malaixia. Cũng có thể làm ngược lại, chia diện tích đất liền cho chiều dài
đường bờ biển thì nước ta 100km
2
trên đất liền có 1 km đường bờ biển, gấp 6 lần
trung bình toàn thế giới.
Tính biển ảnh hưởng đến đặc điểm tự nhiên của nước ta và ảnh hưởng mạnh
đến phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
1.2.3. VIỆT NAM LÀ MỘT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI VÀ HẸP ĐỒNG BẰNG. ĐỒI
NÚI CHIẾM 3/4 LÃNH THỔ VÀ QUYẾT ĐỊNH NHIỀU ĐẶC ĐIỂM CỦA TỰ
NHIÊN VIỆT NAM.
- Đồi núi nhiều khiến cảnh quan tự nhiên đa dạng và phức tạp.
+ Có nhiều nền địa chất khác nhau
+ Có nhiều kiểu địa hình khác nhau
+ Phân hóa khí hậu phức tạp theo không gian
+ Chế độ thủy văn không điều hòa
+ Sinh vật và đất đa dạng, phong phú
- Địa hình nhiều đồi núi gây khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội.

1.2.5. VIỆT NAM LÀ NƯỚC CÓ PHÂN HÓA KHÔNG GIAN MẠNH, KHIẾN CHO
CẢNH QUAN TỰ NHIÊN RẤT PHONG PHÚ VÀ ĐA DẠNG.
Các quy luật phân hóa không gian địa lý lớn đều diễn ra ở Việt nam, đó là
quy luật phân hóa theo vĩ độ (địa đới), quy luật phân hóa phi địa đới (theo đai cao,
theo địa ô và theo kiến tạo - địa mạo).
Sự tổng hòa của các quy luật này đã làm cho tự nhiên Việt Nam có sự phân
hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và từ thấp lên cao.
1.2.6. TỰ NHIÊN VIỆT NAM ĐÃ CHỊU TÁC ĐỘNG SÂU SẮC CỦA HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ - XÃ HỘI
Với một nước nội chí tuyến gió mùa ẩm, thiên nhiên Việt Nam rất phong phú
và đa dạng “Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”
Hiếm thấy một nước có diện tích tương đương như lãnh thổ nước ta mà tài
nguyên lại đầy đủ và toàn diện như thế. Nhưng đến ngày nay thì sự giàu đẹp ấy đã
giảm đi nhiều:
89/18/2005
- Trong “Sách đỏ Việt Nam”, danh sách các loài động, thực vật cần được bảo
vệ có nguy cơ cạn kiệt và tuyệt chủng lên 356 loài thực vật và 365 loài động vật; tỷ
lệ che phủ rừng chỉ còn 27-29%, nhiều vùng gần như trơ trụi, tỷ lệ che phủ ở Tây
Bắc chỉ còn 8,2%, trong số 9 triệu ha rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo.
- Mất rừng đã kéo theo thiên nhiên tai hại như lũ lụt, hạn hán xảy ra nặng nề
và liên tiếp trong những năm gần đây, đất đai bị xói mòn nghiêm trọng. Hiện nay
vẫn còn khoảng 10 triệu ha đất trống đồi núi trọc và hàng triệu ha đất bạc màu do
rửa trôi.
- Nước và không khí bị ô nhiễm. Hậu quả tổng hợp là cảnh quan bị thoái hóa,
nhiều nơi bị hoang mạc hóa khó phục hồi.
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ NHIÊN
VIỆT NAM VÀ ĐỊA HÌNH
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ NHIÊN
2.1.1. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT SINH LÃNH THỔ
2.1.1.1. Giai đoạn tiền Cambri (từ 570 triệu năm về trước): Có các cấu trúc kiến

2.1.1.3. Giai đoạn tân kiến tạo: Được tính từ Đệ Tam muộn (Neôgen) đến Đệ Tứ.
Do đó khi lãnh thổ Việt Nam được hình thành từ cuối đại Trung sinh đến khi
chịu ảnh hưởng vận động tân kiến tạo phải trải qua một thời kì chuyển tiếp, đó là
thời kì bán bình nguyên hóa dài gần 50 triệu năm đầu Đệ Tam (Paleôgen) gọi là thời
109/18/2005
kì bán bình nguyên Paleôgen. Sau đó vào đầu Neôgen mới chịu ảnh hưởng tác động
tạo núi Hymalaya cải tạo lại hoàn toàn dẫn đến cấu trúc địa hình phức tạp như ngày
nay.
Tân kiến tạo diễn ra mạnh tạo nên những bậc địa hình núi cao, điển hình là
đỉnh Phanxipăng (3143 m) hình thành những sụt võng lớn bù trừ về sau hình thành
các châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, phun trào macma trên phạm vi rộng lớn
ở miền Nam.
Tính chất hoạt động theo từng đợt đã dẫn đến cấu trúc địa hình phân bậc rất
đặc biệt. Một đợt thường bắt đầu bởi một pha nâng cao đất đai làm tăng cường hoạt
động xâm thực của sông ngòi, dẫn đến sự phá hủy và chia cắt bán bình nguyên tồn
tại trước đó. Theo quy luật thông thường bậc càng cao tuổi càng già.
Hoạt động tân kiến tạo đã trải qua 6 chu kì và tạo nên 7 bậc địa hình:
- Trên bậc thứ 1 là bậc dấu ấn của bán bình nguyên cao 2100 - 2200 m;
- Chu kì 1: tạo bậc 1500-1800m (điển hình có bậc Sapa);
- Chu kì 2: tạo bậc 1000-1400m(bậc điển hình Đà Lạt cao hơn chút:
1500m);
- Chu kì 3: tạo bậc 600-900m(điển hình là bậc Bảo Lộc, Di Linh);
- Chu kì 4: tạo bậc 200-600m. Trong chu kì này hoạt động macma phun
trào mạnh;
- Chu kì 5: tạo bậc 25-100m(thuộc Đệ Tứ sớm với hoạt động macma phun
trào mạnh);
- Chu kì 6: tạo bậc 4-5m, 2m(thuộc Đệ Tứ muộn cách đây 10.000 -17.000
năm);
Một hoạt động tân kiến tạo nữa đáng chú ý là hiện tượng động đất. Theo tài
liệu ghi nhận từ thế kỉ XII - XIX có 65 trận động đất. Trong thế kỉ XX cũng có một

nguyên D
1
ở Thái Nguyên, mangan D
2
trong trầm tích biển cạn ở Cao Bằng. Mỏ
ngoại sinh quan trọng nhất là mỏ than và dầu mỏ.
2.1.2.2. Phân bố khoáng sản
 Khu vực Việt Bắc và Đông Bắc cho đến thung lũng sông Hồng: Là khu vực
có nhiều mỏ được khai thác tích cực nhất, chia ra các vùng:
- Vùng thung lũng sông Lô - Thương: ở đây xảy ra vận động kiến tạo Hecxini
Inđôxini với một số đứt gãy quan trọng kèm theo macma xâm nhập và phun trào nên
gặp nhiều mỏ nội sinh:
129/18/2005
o Mỏ thiếc, vônfram ở núi PhiaUắc và lòng chảo Tĩnh Túc (Cao Bằng)
o Mỏ chì - kẽm ở chợ Điền (Bắc Cạn), Sơn Dương (Tuyên Quang), Ngân
Sơn (Cao Bằng), làng Hít (Thái Nguyên), Tú Lệ (Yên Bái), Thượng Long (Phú Thọ)
o Mỏ Antimoan ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Dương Huy (Hà Giang),
Thất Khê (Lạng Sơn)
o Mỏ thủy ngân (Hà Giang); mỏ vàng ở Bảo Lạc, Ngân Sơn (Cao Bằng)
o Mỏ sắt ở Trại Cau (Thái Nguyên), Tùng Bá (Hà Giang), mỏ pyrit ở chợ
Đồn, chợ Điền (Bắc Cạn); mỏ titan Sơn Dương (Tuyên Quang)
o Mỏ niken, amiăng (Cao Bằng); mỏ mangan Tóc Tát (Cao Bằng)
- Vùng Đông Triều - Móng Cái: ở đây có bể than đá lớn nhất nước ta
- Vùng thung lũng sông Hồng: nổi tiếng có mỏ apatit ở Cam Đường và sắt
(Lào Cai), sắt (Yên Bái), đồng ở Sinh Quyền (Lào Cai), Sơn Động (Bắc Giang)
 Khu vực từ Nam thung lũng sông Hồng đến thung lũng sông Cả: Ở khu vực
này có triển vọng mỏ nhiều nhưng thăm dò khai thác khó khăn. Đáng chú ý là vùng
Thanh - Nghệ có đứt gãy sông Mã với khối macma Bái Thượng, Cửa Rào tạo mỏ
nổi tiếng như mỏ crôm Cổ Định (Thanh Hóa) đã khai thác từ lâu. Ngoài ra ở Tây
Bắc cũng có nhiều mỏ như vàng ở Yên Châu (Sơn La), Kim Bôi (Hòa Bình); đồng

Trung Quốc. Hướng núi được sắp xếp như những cánh cung hay nan quạt quy tụ về
Tam Đảo và mở ra về phía Tây Bắc và Đông Bắc với dạng nan quạt điển hình.
+ Ngã phía Nam và Tây Nam thung lũng sông Hồng thì kéo dài, mới đầu có
hướng Tây Bắc - Đông Nam rõ rệt cho đến đèo Hải Vân, sau chuyển qua hướng Bắc -
Nam rồi Đông Bắc - Tây Nam vẽ thành một vòng cung lớn có mặt lồi quay ra biển
Đông. Từ Nghệ An đến Bình Thuận, núi ăn ra sát biển tạo nên một gờ lục địa mà từ
ngoài biển nhìn vào trông như một bức trường thành, đó là dãy Trường Sơn hùng vĩ.
b. Núi nước ta thuộc loại núi già được tân kiến tạo làm trẻ lại.
- Hệ thống núi nước ta được hình thành trong quá trình phát triển lâu dài do
các vận động Calêđôni, Hecxini và Inđôxini xây dựng nên.
- Tại các khu vực khác nhau các nếp núi cổ ấy có hướng, tính chất và độ cao
khác nhau. Nhưng những sự khác nhau ấy đã được san bằng dần trong giai đoạn bán
bình nguyên hóa kéo dài gần 50 triệu năm. Như vậy nếu không có ảnh hưởng của
vận động tan kiến tạo thì địa hình nước ta sau thời kì Paleôgen sẽ hiện ra như một bề
mặt lượn sóng, thấp, thoải, một đồng bằng bóc mòn rộng lớn.
149/18/2005
- Sự chia cắt, nhấp nhô của địa hình núi ngày nay là do ảnh hưởng của tân
kiến tạo.
Núi Việt Nam không phải là núi uốn nếp trẻ của vận động tạo núi
Hymalaya mà chỉ là của sự cắt xẻ của sông ngòi hình thành những khe sâu, những
hẻm vực. Đứng từ thung lũng nhìn lên thì thấy núi cao ngất trời, nhưng lên trên
đường phân thủy nhìn xuống thì thấy rõ biểu hiện những bề mặt cũ cao sàn sàn như
nhau. Các cao, sơn nguyên đá vôi như Bắc Hà, Sinmacai, Quản Ba, Đồng Văn, Mèo
Vạc là các di tích điển hình của các bình nguyên cổ ấy.
- Đặc điểm của cấu trúc cổ kiến tạo trước hết là các hướng núi. Hướng núi
chính đồng thời cũng là hướng các thung lũng rộng lớn, đó là hướng Tây Bắc -
Đông Nam và hướng vòng cung.
+ Hướng Tây Bắc - Đông Nam thể hiện rõ nét nhất từ hữu ngạn sông Hồng
đến đèo Hải Vân.
+ Hướng vòng cung là hướng sơn văn chính của khu vực Đông - Bắc sông

Khu vực đồi núi được hình thành tại những nơi mà vận động tân kiến tạo có
xu hướng nâng lên - nơi nâng yếu thì hình thành địa hình đồi, nơi nâng trung bình
thì hình thành đồi cao và núi thấp, nơi nâng mạnh thì hình thành núi trung bình và
núi cao. Hướng núi, hình thái đỉnh, sườn núi, độ chia cắt còn liên quan đến ảnh
hưởng cổ kiến tạo, đến tính chất nham thạch và chế độ nhiệt ẩm cụ thể.
• Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ:
- Khu vực từ tả ngạn sông Hồng - sông Cầu gặp dãy cao nguyên đá vôi trên
dưới 1000 m xen với các đỉnh núi cao trên 2000 m. Từ Lào Cai đến Hà Giang gặp các
sơn nguyên đá vôi: Mường Khương, Bắc Hà, Sinmacai, Quảng Bạ đều dưới 1000 m,
Phó Bảng - Đồng Văn trên 1000 m. Xen vào giữa ở phía Tây Bắc có các núi Tây Côn
Lĩnh (2431 m), Kiều Liêu Ti (2402 m), Puthaka (2274 m). Các sơn nguyên thường
dựng đứng bên các hẻm vực sông Chảy, sông Miện, sông Nho Quế. Nhưng trên bề mặt
thì phát triển địa hình dạng đồi thấp, thoải xen thung lũng bằng phẳng.
- Bao quanh nối tiếp về phía Đông Nam là địa hình dãy núi con voi nằm
giữa sông Hồng và sông Chảy, và hệ thống núi cánh cung sông Gấm bao lấy hệ
thống những đồi núi thấp, thấp dần từ Hà Giang - Lào Cai về Tuyên Quang - Phú
Thọ, có cấu tạo chủ yếu từ đá kết tinh cổ từ Kalêđôni.
169/18/2005
- Vượt qua thung lũng sông Cầu ta qua một khu vực đồi núi thấp hơn và có
cấu tạo từ các đá trẻ hơn (chủ yếu từ Hecxini - Inđôxini).
Cánh cung Ngân Sơn làm thành một đường chia nước quan trọng giữa hệ
thống sông đổ về Hoa Nam và hệ thống sông đổ ra vịnh Bắc Bộ. Phía Bắc cánh
cung Ngân Sơn có các núi macma xâm nhập nổi tiếng như Phia Biooc (1800 m) và
Phia Uắc (1930 m).
- Từ dãy Ngân Sơn về phía biển địa hình đồi trở thành yếu tố chủ yếu của
cấu trúc địa hình với độ cao toàn khu vực dưới 500 - 600 m. Vùng đồi này được bao
bọc bởi các dãy núi thấp: núi đá vôi Cao Bằng (1803 m) ở phía Bắc, dãy Ngân Sơn
ở phía Tây (1930m), dãy Đông Triều hướng á vĩ tuyến có Yên Tử (<1068m) về phía
Đông Nam, dãy núi duyên hải Quảng Ninh với Nam Châu Lãnh (<150m) ở phía
Đông Bắc. Địa thế như một bồn địa ở đây đã có ảnh hưởng lớn đến chế độ nhiệt ẩm

Puxailaileng (2711m), Rào Cò (2235m), Phucôpi (2017m). Giữa có đèo Kẹo Nưa
(760 m). Đáng chú ý ở đây là có địa hình đồi bazan Quỳ Châu - Quỳ Hợp (Nghệ
An)
+ Từ đèo Mụ Giạ đến đèo Lao Bảo (350m), núi thấp xuống. Thoạt tiên ta
gặp núi đá vôi Khe Ngang - Kẻ Bàng cao dưới 1000 m, Côtarum (Ba Rền - U Bò),
cao dưới 1624 m, đến Tây Quảng Trị cao trên dưới 1500 m như Động Châu (1200
m), Voi Mẹp (1739 m). Đáng chú ý ở đây là có dãy đồi bazan Quảng Trị kéo dài từ
Hướng Hóa - Cam Lộ - Gio Linh - Vĩnh Linh.
+ Từ đèo Lao Bảo đến dãy Bạch Mã núi có cao lên với nhiều đỉnh trên 1700
m như Động Ngài (1774 m), núi Mạng (1708 m), đồng thời rẻ nhánh về phía biển ngăn
cách Trường Sơn bắc với Trường Sơn nam bởi dãy Bạch Mã với đèo Hải Vân.
• Miền Nam Trung Bộ:
Hệ thống sơn văn từ đèo Hải Vân đến Đông Nam Bộ là dãy Trường Sơn
Nam, được hình thành là do quan hệ gắn kết giữa cấu trúc phía Nam địa máng
Trường Sơn và khối Kontum thuộc địa khối Inđôxini. Do đặc điểm khác nhau về
cấu trúc và hướng núi mà chia ra các khu vực:
- Khu vực đồi núi sông Hội An (sông Bung) thuộc Quảng Nam tương đối
thấp (Bà Nà, 1467 m) có hướng á vĩ tuyến.
- Trong phạm vi thuộc các tỉnh Kontum, Gia Lai, Quãng Ngãi, Bình Định
là khối nhô Kontum. Khu vực khối Kontum - Quảng Ngãi được nâng mạnh, có địa
189/18/2005
hình núi trung bình (Ngọc Lĩnh: 2598m; Ngọc Niay: 2259m; Ngọc Pan: 2251 m và
ít phun trào bazan ở Kông Plong, Kong Hà Nừng).
- Khu vực Đắklắk - Bình Phú được nâng với cường độ yếu và trung bình,
chỉ có địa hình núi thấp với núi granit Bình Định cao trên dưới 1000 m chạy theo
hướng Bắc - Nam, phía Nam ăn ra sát biển. Đồng thời bazan phun trào rộng rãi tạo
thành các cao nguyên Pleiku ở độ cao 700-800m, Đắklắk ở độ cao 500-600 m
- Khu vực vòng cung núi uốn nếp Hecxini dọc Nam Trung Bộ được trẻ lại do
tân kiến tạo nâng lên với cường độ mạnh, có các nếp núi thường cao trên dưới 2000 m
(Vọng Phu: 2051 m, Chưyangsin: 2405 m, Langbiang: 2163 m, Biđup: 2287 m)

2
. Bề mặt châu thổ có độ cao dao động từ 0-15 m và nghiêng từ Tây Bắc (Phú
Thọ) về phía Đông Nam (Ninh Bình).
Tuy nhiên, những bậc thềm phù sa cổ ở rìa đồng bằng tiếp cận với vùng
đồi núi bao quanh có thể có độ cao tuyệt đối 25-40 m như các thềm ở chân núi Ba
Vì. Trong lòng đồng bằng tại các khu sụt võng sâu không hề có đồi núi sót của nền
uốn nếp bên dưới, trái lại ở những nơi có cường độ sụt võng yếu tạo lại gặp các
đồi núi sót vẫn là những hòn đảo trong vũng, vịnh, biển xưa kia như đồi ở Kiến An
(Hải Phòng), đồi Bắc Giang, đồi Sơn Tây, đồi Ninh Bình. Vì thế, tuy đồng bằng
rộng lớn nhưng chỗ nào giữa đồng bằng cũng thấy đồi núi xung quanh.
Sông Hồng, động lực phát triển chính của đồng bằng đã tạo nên những nét
đặc trưng cho châu thổ Bắc Bộ. Sông có lưu lượng nước lớn về mùa mưa nên hay
gây lũ lụt dữ đe dọa cư dân hằng năm. Do đó, nhân dân ta phải nghĩ đến ngăn nước
bằng cách quai đê. Theo sử sách thì năm 43 sông Hồng đã được quai đê, nhưng phải
đến 1103 nhà Lý mới ra đạo luật về đê điều. Đến nay hệ thống đê sông Hồng dài
khoảng 1665 km và không ngừng được củng cố hàng năm. Hệ thống đê đó ngăn cản
tính bằng phẳng của đồng bằng, chia đồng bằng ra thành từng ô không ăn thông với
nhau và không giữ được tính phát triển tự nhiên của nó. Khối lượng phù sa khổng lồ
của sông Hồng đều bị dồn ra biển, bồi đắp vùng cửa sông, còn các ô trũng trong
lòng đồng bằng không được bồi đắp, vì thế lòng đồng bằng cao thấp không đều.
Hằng năm châu thổ sông Hồng tiến ra biển khá nhanh, nơi nhanh nhất là mạn Phat
Diệm - Kim Sơn (Ninh Bình), cử Đáy(Nam Định) có thể đạt tới 80-100 m. Giữa
đồng bằng có công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải.
- Đồng bằng Thanh Hóa: là đồng bằng mang tính chuyển tiếp từ châu thổ
rộng lớn sang duyên hải nhỏ hẹp, có diện tích 3100 km
2
được bồi đắp của hệ thống
sông Mã - Chu. Ngoài hệ thống đê phân cắt địa hình đồng bằng như châu thổ Bắc
Bộ, ở đây mức độ gồ ghề do sự chi phối của đồi núi sót nền uốn nếp cổ bên dưới
biểu hiện rõ nét hơn. Ở đồng bằng Thanh Hóa có công trình đại thủy nông Bái

2
) do núi lùi vào xa và
hệ thống sông Cả lớn. Vào kỉ Đệ Tứ là vũng biển nông sau bị lấp dần tạo ra đồng
bằng, bao gồm các dạng địa hình thềm biển và thềm sông. Đoạn đồng bằng ven biển
này còn giữ lại nhiều bãi sò cao đến 6 m và dày 11 m chạy dài hàng cây số từ
Quỳnh Lưu - Diễn Châu. Ở đây có công trình thủy nông Đô Lương.
219/18/2005
2. Đoạn từ Cửa Lò - Mũi Ròn (chân núi Hoành Sơn). Đây là đồng bằng
chân núi hẹp và đến Kì Anh thì tiếp giáp với bán bình nguyên chân núi. Ở đây có hệ
thống đại thủy nông Kẻ Gỗ.
3. Đoạn từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân: là đồng bằng duyên hải Bình Trị
Thiên rộng 2150 km
2
, hẹp ngang và chạy song song với dãy Trường Sơn liên tục
trên 250 km. Ngoài những nét chung của đồng bằng ven biển, nơi đây có nhiều đụn
cát cao và nhiều đầm phá chưa bị lấp so với cả nước. Đụn cát cao nhất là từ Đồng
Hới đến Vĩnh Linh, phá dài và rộng nhất là hệ thống phá Tam Giang ở Thừa Thiên
Huế (khoảng 23.000 ha). Ở đây có công trình thủy nông (đập Trấm trên sông Thạch
Hãn).
4. Từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông: là dãy đồng bằng từ Quảng Nam đến
Bình Định. Đồng bằng được mở rộng ra và len lỏi lên vùng đồi, ăn sâu vào các
thung lũng sông, có diện tích 4350 km
2
(đồng bằng Quảng Nam: 1450 km
2
, đồng
bằng Quảng Ngãi: 1200 km
2
, đồng bằng Bình Định: 1700 km
2

giới hóa, chuyên môn hóa các loài cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả.
+ Đồng bằng Tây Nam Bộ thì khác hẳn. Đó là một phần châu thổ rộng lớn
có độ cao trung bình khoảng 2 m. Sự phát triển của châu thổ có liên quan mật thiết
với tác động của biển thông qua thủy triều và dòng biển (ảnh hưởng của thủy triều
có thể lên đến Phnômpênh (Campuchia) và nước mặn xâm nhập đến 30% diện tích
đồng bằng. Dòng biển có xu thế dồn phù sa về phía mũi Cà Mau. Đồng bằng không
có hệ thống đê ven sông và nước lũ sông Cửu Long có thể làm ngập nhiều vùng.
Vùng ngập sâu nhất có thể đến 3 m nước là phía Long Xuyên - Sađéc về phía
Campuchia; vùng ngập vừa (0,4-1 m) thuộc Sađéc - Vĩnh Long - Cần Thơ - Mỹ Tho
- Sóc Trăng; vùng không ngập được bồi cao từ lâu là chợ Lớn - Tân An - Mỹ Tho -
Bến Tre - Sóc Trăng - Trà Vinh.
Dọc bờ biển từ cửa sông Đông Nai đến tận Hà Kiên là một dải đất chua
mặn bao la trên mọc rừng nước mặn (đước, vẹt, tràm, tập trung nhiều nhất là ở Cà
Mau. Phía Đông Bắc châu thổ có một vùng trũng rộng lớn đến 500.000 ha (vùng
Đồng Tháp Mười) với đất phèn, đầm lầy nước đọng (nay đã được cải tạo phát triển
trồng lúa - điển hình là nông trường sông Hậu). Như vậy châu thổ sông Cửu Long là
một châu thổ rất trẻ đang độ phát triển và các sông Cửu Long - Vàm Cỏ chưa bồi
lấp hết các chỗ trũng úng. Tuy nhiên, sự phát triển không diễn ra đồng đều ở mọi
nơi: ở cửa sông Vàm Cỏ - Đồng Nai châu thổ có dạng Etchuye, chịu tác động của
triều rất mạnh, đã làm yếu sự bồi lấp, khiến cho đồng bằng ngừng mở rộng. Khu
vực Chín cửa sông vẫn tiến ra biển nhưng tương đối chậm do tác động của dòng
biển dồn phù sa về phía Tây Nam đi về phía mũi Cà Mau - hàng năm tiến ra biển
60-80 m.
Tóm lại, nhìn chung do đặc điểm phát sinh - phát triển mà đồng bằng Việt
Nam được chia ra 3 đới á kinh tuyến:
239/18/2005
1. Kiểu địa hình đồng bằng chân núi ven biển. Ở đây có sự tham gia
mạnh mẽ của quá trình lũ tích, phổ biến là các dạng địa hình thềm phù sa cũ xen
thềm biển mài mòn cổ, đồi sót khá phổ biến.
2. Kiểu địa hình đồng bằng bồi tụ sông: nằm giữa đồng bằng chân núi và

lại trên các thềm biển cao 4-2 m và các ngấn nước ở chân núi các đảo đá vôi vịnh
249/18/2005
Hạ Long. Như thế, xu thế chung của đường bờ biển Việt Nam là xu thế nâng hay
biển thoái tạo điều kiện cho sự san bằng bờ biển bằng quá trình bồi tụ. Vì vậy
đường bờ biển nước ta có thể chia làm nhiều đoạn:
- Từ Móng Cái đến Yên Lập (Quảng Ninh). Đây là một khu vực đồi núi bao
gồm nhiều dãy song song chạy theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam đã bị biển tiến tràn
ngập tạo nên một đoạn bờ biển có nhiều đảo nhất Việt Nam. Giữa các đảo là những
vũng kín, lặng gió dễ xây dựng vùng giao thông thủy và khoanh vùng nuôi thủy sản.
Ngoài cùng là quần đảo Cô Tô nổi tiếng ngọc trai, rồi đến quần đảo Trà Bản có mật
độ chim thú loại lớn. Sát bờ biển là dãy đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, rồi đến đảo Cái
Bàu rộng lớn nhiều khoáng sản. Quá về phía Nam là vũng Bái Tử Long, vịnh Hạ
Long nổi lên các đảo đá vôi chi chít, đến đảo Cát Bà (lớn sau đảo Cái Bàu) là khu
vực dự trữ sinh quyễn. Hiện nay đã xây dựng xong cảng nước sâu quốc tế Cái Lân.
- Từ Yên Lập đến Lệch Trường (Thanh Hóa). Đây là đoạn bờ biển tam giác
châu rất thấp, nhiều bùn lầy, được chia ra các khúc:
+ Từ Yên Lập đến Đồ Sơn. Bờ biển ở đây tiến rất chậm, dạng Etchuye,
các chi lưu sông Thái Bình hoạt động rất yếu, ảnh hưởng của thủy triều vào rất sâu
nên xây dựng cảng thuận lợi.
+ Phía Nam Đồ Sơn là các chi lưu của sông Hồng, phát triển kiểu bờ châu
thổ hàng năm lấn ra biển, nhanh nhất là đoạn cửa Ba Lạt và đoạn Cửa Đáy. Ở đoạn
này có bãi biển đẹp quanh mũi Đồ Sơn.
- Từ Lạch Trường đến Quy Nhơn. Đoạn bờ biển này bằng phẳng nhưng
khúc khuỷu được san bằng qua phương thức cồn - phá. Những mõm núi nhô ra biển
được nối liền với nhau bởi các dải cồn. Các bãi biển chủ yếu được phủ bởi cát xám
hoặc trắng nên hình thành rất nhiều bãi tắm đẹp. Các bãi tắm và nghỉ mát nổi tiếng
là Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Thuận An, Lăng Cô, Quy Nhơn.
Những nơi có hướng thẳng góc với bờ biển tạo nên những dãy cồn cát cao,
cao nhất là đoạn từ Đồng Hới (Quảng Bình) đến Vĩnh Linh (Quảng Trị), bờ biển
cũng còn nhiều phá và vũng chưa bồi lấp xong như phá Tam Giang - đầm Cầu Hai,

biển với quá trình mài mòn - bồi tụ do sóng, thủy triều và dòng biển như cấu trúc địa
chất của đường bờ, mạng lưới sông ngòi, điều kiện khí hậu - sinh vật, thay đổi từng
nơi dẫn đến tập hợp các dạng địa hình bờ biển khác nhau mà suốt từ Móng Cái đến
Hà Tiên bắt gặp nhiều kiểu dạng địa hình bờ biển khác nhau.
269/18/2005
CHƯƠNG 3. KHÍ HẬU VÀ THỦY VĂN VIỆT NAM
3.1. KHÍ HẬU
3.1.1. CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH KHÍ HẬU
Khí hậu Việt Nam là kết quả của tác động qua lại giữa vị trí nội chí tuyến, các
luồng gió mùa và hoàn cảnh địa lý.
3.1.1.1. Vị trí nội chí tuyến
a. Chu kỳ quang và bức xạ Mặt trời
Vị trí địa lý nước ta xác định ở giữa các vĩ độ từ 23
o
22' vĩ Bắc đến 8
o
30’ vĩ
Bắc đã khiến cho mọi nơi đều có hai lần Mặt trời qua thiên đỉnh nhưng khoảng cách
giữa hai lần Mặt trời qua thiên đỉnh giữa các vĩ tuyến khác nhau, càng đi về phía
Bắc khoảng cách càng ngắn. Tình hình như trên đã dẫn đến sự khác nhau về cán cân
bức xạ và chế độ nhiệt từ Bắc vào Nam.
279/18/2005

Trích đoạn Chế độ nước Hàm lượng phù sa Hệ thống sông Hồng: lấy chiều dài sông chính là sông Thao thì sông Hệ thống sông Mã Chu: Sông Mã dài 512 km với diện tích toàn lưu vực Các hệ thống sông ở Đông Trường Sơn: (Từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status