ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-----------------------------------------------------
ĐỒNG THỊ THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ TRẤN SA PA
GIAI ĐOẠN 1991-2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Việt Nam Học
Hà Nội -2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-----------------------------------------------------
ĐỒNG THỊ THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ TRẤN SA PA
GIAI ĐOẠN 1991-2011
Luận văn Thạc sĩ Ngành: Việt Nam học
Mã số:60 22 01 13
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Trƣơng Quang Hải
Hà Nội -2014
Tác giả luận văn
Đồng Thị Thu Huyền
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. ĐTH
: Đô thị hóa
2. KT – XH
: Kinh tế - Xã hội
3. TT
: Thị trấn
4. GDP
: Tổng sản phẩm quốc dân
5. UBND
: Ủy ban nhân dân
6. CNH
: Công nghiệp hóa
: Tài nguyên du lịch
15. TTTM
: Trung tâm thương mại
16. VQG
: Vườn quốc gia
17. NLN
: Nông lâm nghiệp
18. TNBQ
: Thu nhập bình quân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................3
1.Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 4
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 8
5. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................... 9
6. Bố cục luận văn.......................................................................................... 12
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRẤN SA PA...................................14
3.1.2. Định hướng phát triển KT – XH thị trấn Sa Pa đến năm 2020.............73
3.2. Một số giải pháp và đề xuất thực hiện định hƣớng phát triển đô thị
Sa Pa đến năm 2020. ..................................................................................... 86
3.2.1. Một số giải pháp thực hiện định hướng phát triển đô thị Sa Pa ........ 86
3.2.2. Một số đề xuất về đô thị hóa ở Sa Pa................................................. 91
Tiểu kết chƣơng ............................................................................................. 94
KẾT LUẬN............................................................................................ ........95
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................97
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đô thị hóa (ĐTH) đang là một xu thế phát
triển mang tính toàn cầu, một xu thế tất yếu của thời đại. Nó diễn ra ở tất cả
các nước trên thế giới và Châu Á đang là khu vực có tốc độ đô thị hóa diễn ra
nhanh và mạnh mẽ nhất. Quá trình này đã tạo ra mối quan hệ tích cực giữa đô
thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Mối quan hệ đó được thể hiện bởi các
yếu tố như công nghiệp hóa, thương mại hóa, tăng năng suất, tạo nhiều việc
làm và cải thiện sự tiếp cận đối với những yếu tố khác nhau về sản xuất, thị
trường, những cơ sở hạ tầng và các tiện nghi khác. Như vậy, đô thị hóa dẫn
đến tăng thu nhập, thay đổi cách sống, đem lại chất lượng cao về dịch vụ và
cũng phù hợp với dân số ngày càng tăng lên tại các đô thị.
Đối với Việt Nam, bắt đầu từ đại hội Đảng VI với chủ trương mở cửa
tiến hành đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị
trườngđã tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của quá trình ĐTH. ĐTH góp phần
vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Tỉ lệ dân thành thị tăng cao, cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư xây dựng hiện đại, các khu công
nghiệp, khu chế xuất được xây dựng góp phần tạo ra việc làm cho hàng triệu
Luận văn nghiên cứu các đặc điểm và sự chuyển biến về kinh tế - xã
hội của thị trấn Sa Pa trong giai đoạn 1991 – 2011, trên cơ sở đó đề xuất các
giải pháp nhằm phát triển bền vững TT Sa Pa.
2.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu bối cảnh hình thành, các giai đoạn phát triển TT SaPa;
- Nghiên cứu thực trạng và chuyển biến về kinh tế, xã hội giai đoạn
1991 - 2011
- Đánh giá tốc độ ĐTH của TT Sa Pa về các chỉ tiêu KT - XH
4
- Định hướng và giải pháp phát triển đô thị du lịch Sa Pa đến năm 2020
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Quá trình ĐTH xảy ra cách đây khoảng hơn 5000 năm, nhưng mãi đến
đầu thế kỷ XX, con người mới nhận thức được tầm quan trọng và bắt đầu tập
trung nghiên cứu ĐTH. Thuật ngữ “đô thị hóa” đã ra đời từ năm 1867, trong
tác phẩm “Lý luận chung về đô thị hóa ” của tác giả CERDA (Tây Ban Nha).
Nhưng tác phẩm này bị quên lãng đến năm 1967 được phát hiện lại. Vào
những năm 20 của thế kỷ XX, cụm từ “đô thị hóa” xuất hiện ở các tạp chí
chuyên ngành về địa lý kinh tế, dần phổ biến sang các lĩnh vực khác. Và ngày
càng có nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, kiến
trúc…quan tâm đến vấn đề ĐTH [2].
Liên Xô (cũ) là đất nước có nhiều chuyên gia đô thị nổi tiếng như:
Baranxki, N.I.Yu.G.Xauskin, V.G.Đaviđôvits, G.M.Lappo, V.M.Gokhman...
Các nghiên cứu về đô thị và ĐTH được quan tâm chủ yếu về các lĩnh vực: cấu
trúc lãnh thổ nội tại các thành phố, các chùm đô thị, sự phát triển của thành
phố vệ tinh, quy hoạch các thành phố và các vùng đô thị, điều khiển quá trình
ĐTH [20].
Thái Hoàng, Nguyễn Quốc Thông [ ].Các vấn đề xã hội trong đô thị được
nhiều tác giả quan tâm nhất, trong đó có Đỗ Hậu và Trần Hùng (Đại học Kiến
trúc Hà Nội), Trần Cao Sơn, Trịnh Duy Luân (Viện khoa học xã hội).Dưới
góc độ quản lý đô thị có các nghiên cứu của Nguyễn Đình Hương (Đại học
kinh tế Quốc dân), Trần Văn Tấn (Đại học kiến trúc Hà Nội).Về quy hoạch
cải tạo, xây dựng và phát triển đô thị có tác giả Nguyễn Thế Bá (Hội quy
hoạch đô thị) [21] [23].
Về thực tiễn, chuyên gia đi đầu trong nghiên cứu ĐTH của nước ta là
tác giả Đàm Trung Phương, 2005 với cuốn “Đô thị Việt Nam”, tác giả đã đưa
6
ra một bức tranh ở tầm vĩ mô về thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam, cũng
như định hướng phát triển đô thị nước ta trong bối cảnh ĐTH đang diễn ra
trong khu vực và trên thế giới. Trong các nghiên cứu địa phương, lần đầu tiên
ĐTH được đề cập đến trong đề tài luận án “Phân tích dưới góc độ Địa lý kinh
tế - xã hội sự chuyển hóa nông thôn thành đô thị ở Hà Nội trong quá trình đô
thị hóa”, 1992, của tác giả Đỗ Thị Minh Đức. Luận án có ý nghĩa lớn về mặt
thực tiễn là tìm ra đặc điểm và xu hướng ĐTH của thủ đô Hà Nội trong quá
trình chuyển hóa vùng nông thôn thành đô thị. Đề tài luận án tiến sĩ: “Tác
động của những biến động kinh tế - xã hội đến sự phát triển đô thị ở thị xã
Lạng Sơn”, 2002, của tác giả Hoàng Phúc Lâm [21, 5].
Ngoài ra, ngày càng có nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn đô thị, các bài
báo bàn về đô thị như: Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển đô thị và xã hội
bền vững – trách nhiệm của giáo dục, nghiên cứu và quản lý”, tại TP Hồ Chí
Minh, tháng 3/1999. Diễn đàn đô thị Việt Nam được thành lập vào ngày
22/10/2003 nhằm đúc kết, truyền đạt những kinh nghiệm trong công tác xây
dựng và phát triển đô thị ở Việt Nam.
3.3. Những nghiên cứu về thị trấn Sa Pa
Đô thị Sa Pa được ra đời từ cuối thế kỷ XX, gắn liền với sự khai phá và
theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: kinh tế và xã hội, văn hóa TT Sa Pa
- Phạm vi nội dung: Thực trạng phát triển kinh tế xã hội TT Sa Pa
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2011 (trong 20 năm tính từ khi
tỉnh Lào Cai tái lập)
- Không gian: thị trấn Sa Pa
8
5. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Tổng hợp nghiên cứu lý thuyết
Thông qua các tài liệu nghiên cứu về đô thị, đô thị hóa để có thêm kiến
thức rộng và sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu, làm rõ hơn đề tài nghiên cứu
của mình.Đồng thời nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện
trước đây.Qua đó có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẽ hơn để nghiên
cứu hoàn thành đề tài.
Các nguồn tài liệu nghiên cứu bao gồm:
- Sách, giáo trình
- Báo, tạp chí chuyên ngành và các báo và tạp chí có nội dung liên quan
- Các công trình khoa học như báo cáo, luận văn
- Báo cáo của chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước
về đô thị hóa
- Các thông tin, bài báo trên internet
5.2. Quan điểm nghiên cứu
5.2.1. Quan điểm khu vực học
Đứng trước xu thế phát triển của thời đại, phương pháp nghiên cứu khu
vực học đang là một xu thế phát triển tất yếu áp dụng đối với nhiều ngành
khoa học, nhất là đối với ngành Việt Nam học.
năm 1991 đến nay và mong muốn của họ trước sự phát triển của thị trấn. Chia
thành 03 nhóm hộ điều tra:
10
Nhóm hộ 1: Thuộc tổ dân cư 7A, 7B, 7C với tổng số hộ dân là 268 hộ,
đây là vùng dân cư thuộc trung tâm của thị trấn Sa Pa (phần lõi). Tiến hành
điều tra 105 hộ với số phiếu điều tra phát ra 105. Tổng số phiếu thu về là 105
phiếu, trong đó có 03 phiếu không hợp lệ; số phiếu hợp lệ là 102.
Nhóm hộ 2: Thuộc tổ dân cư 4A, 4B với tổng số hộ dân là 141 hộ, đây
là vùng dân cư thuộc phần đệm của thị trấn Sa Pa, là nơi có hộ dân cư đến
sớm nhất. Tiến hành điều tra 60 hộ dân cư với số phiếu phát ra là 60 hộ. Tổng
số phiếu thu về là 60 phiếu, trong đó có 05 phiếu không hợp lệ; số phiếu hợp
lệ là 55.
Nhóm hộ 3: Thuộc tổ dân cư 1 với tổng số hộ dân là 125 hộ, đây là
vùng dân cư thuộc phần ngoại vi của thị trấn Sa Pa, là nơi có đời sống chủ
yếu dựa vào nông nghiệp. Tiến hành điều tra 55 hộ dân cư với số phiếu phát
ra là 55 hộ. Tổng số phiếu thu về là 55 phiếu, trong đó có 02 phiếu không hợp
lệ; số phiếu hợp lệ là 53.
- Bảng hỏi phỏng vấn sâu dành cho gia đình kinh doanh dịch vụ du lịch
tại thị trấn Sa Panhằm điều tra: thời gian bắt đầu kinh doanh dịch vụ du lịch;
thu nhập từ nghề; những thuận lợi và khó khăn trong quá trình kinh doanh;
mong muốn, kiến nghị của các hộ gia đình đối với sự phát triển kinh tế theo
hướng kinh doanh dịch vụ du lịch.
Bảng hỏi được sử dụng điều tra 10 hộ gia đình tại tổ dân cư số 7A, tổ
4A.
- Bảng hỏi phỏng vấn sâu dành cho cán bộ lãnh đạo ủy ban nhân dân
thị trấn Sa Pa nhằm điều tra: quá trình phát triển của thị trấn Sa Pa trong giai
đoạn từ năm 1991 – 2011; chủ trương và các chính sách hỗ trợ phát triển kinh
Pa có quá trình ĐTH diễn ra mạnh nhất và có sự chuyển biến rõ nét nhất. Kết
12
quả nghiên cứu của chương này sẽ là cơ sở để đánh giá sự tác động của quá
trình ĐTH tới kinh tế - xã hội của thị trấn ra sao, có ảnh hưởng như thế nào?
Chƣơng 3: Định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội thị trấn Sa Pa đến năm
2020. Một số giải pháp và đề xuất
Trên cơ sở phân tích về những chuyển biến KT-XH sẽ đưa ra những
định hướng phát triển TT Sa Pa đến năm 2020, từ đó đưa ra những giải pháp
và đề xuất phát triển.
13
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRẤN SA PA
1.1. Một số vấn đề lý luận về phát triển đô thị
1.1.1. Đô thị
1.1.1.1. Định nghĩa
Đô thị: Ngôn ngữ Latin dùng từ “urbs” để chỉ đô thị, tiếng Anh là
“urban”. Trong tiếng Việt hiện đại có các từ chỉ đô thị: thị tứ, thị trấn, thị xã,
thành phố, thành thị. Các từ song lập nói trên gồm: “thành, đô, trấn” và “thị,
phố, phường” nhấn mạnh về ý nghĩa hành chính, quân sự (đô) và kinh tế - xã
hội (thị). Hai nhóm yếu tố tạo nên thị trên có mối quan hệ đặc biệt, tương tác,
hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong sự tồn tại và phát triển của đô thị. Sự cộng
sinh (đô + thị) chưa thể trở thành đô thị, mà cần những yếu tố bổ sung khác
mới đưa đến sự hình thành đô thị theo đúng nghĩa [2].
Thực tế trên thế giới, mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn khác nhau về
chiến lược , điều tiết của trung tâm đô thị [1]. Khu đô thị mới là những đô thị
được xây dựng trên những khu đất trước đó chưa có đô thị nào và phương
pháp xây dựng, quy hoạch cũng như ý niệm đô thị học của chúng đều mới [2].
Đô thị sinh thái là đô thị phát triển hài hòa với tự nhiên, dựa vào tự nhiên và
được tự nhiên chấp nhận như là một thành phần hữu cơ của tổng thể, nghĩa là
đạt được sự cân bằng động của hệ sinh thái đô thị [21]. Mạng lưới đô thị là
một hệ thống đô thị liên kết với nhau thông qua cơ sở hạ tầng. Mạng lưới đô
thị được coi là một hệ thống bởi chúng bao gồm nhiều các cấp khác nhau,
giữa các cấp trong một mạng lưới đô thị có quan hệ đặc biệt với nhau. Đô thị
bền vững là đô thị đảm bảo cân bằng được mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa
kinh tế đô thị; văn hóa xã hội đô thị, môi trường sinh thái đô thị; cơ sở hạ tầng
đô thị và quản lý đô thị. Một đô thị bền vững phải bảo đảm được các tiêu chí:
quản lý tốt, tài chính lành mạnh, cạnh tranh tốt và điều kiện sống tốt [23].
15
1.1.1.2. Lãnh thổ đô thị
Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 về phân loại đô thị của
Chính phủ quy định: “đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập” và nêu rõ: Thành phố được
chia thành nội thành phố và ngoại thành phố. Thị xã được chia thành nội thị
xã và ngoại thị xã. Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, khu vực nội
thành được chia thành quận và quận chia thành phường; khu vực ngoại thành
được chia thành thị xã và huyện, huyện được chia thành xã, thị trấn. Thị trấn
không có vùng ngoại thị trấn [21].
Ngoài ra, nước ta còn có “thị tứ”. Thị tứ chưa phải là điểm dân cư đô
thị, nhưng là trung tâm của xã hoặc liên xã, tập trung nhiều công trình mang
tính đô thị, là mầm mống của các điểm dân cư đô thị theo hướng ĐTH nông
thôn [21] [23].
1.1.1.3. Cấu trúc của đô thị
tổng hợp. Theo đó, trọng Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của
Chính phủ chia hệ thống đô thị nước ta thành 6 loại:
- Đô thị loại đặc biệt, có chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức
năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục
– đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có
vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của cả nước.
- Đô thị loại I, là đô thị thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm
kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch,
dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước.
17
- Đô thị loại II, có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học –
kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông,
giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh.
Trường hợp đô thị loại II là thành phố trực thuộc Trung ương thì phải
có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính,
giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước
và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh
thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
- Đô thị loại III, có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học –
kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông,
giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với
vùng liên tỉnh.
- Đô thị loại IV, có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành
chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao
Xuất phát từ khái niệm đô thị, đô thị hóa được định nghĩa là quá trình
hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành đô thị, là quá trình phát triển đô
thị của một quốc gia, bao gồm việc mở rộng các đô thị hiện có và hình thành
các đô thị mới. Một khu vực lãnh thổ nào được “hóa” thành đô thị khi nó hội
tụ đủ các tiêu chuẩn của đô thị. Tuy nhiên, trong thực tế phát triển đô thị chỉ
xét cho một đô thị riêng biệt, còn ĐTH thì xét cho cả một mạng lưới đô thị [7]
Dưới góc độ động lực phát triển: Đô thị hóa là sự di chuyển dân cư từ
nông thôn ra thành thị. Đô thị hóa là sự chuyể hóa nông thôn thành đô thị. Đô
thị hóa là quá trình chuyển đổi từ tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông
19
dân) sang phi tam nông, là sự chuyển đổi hình thức cư trú từ nông thôn lạc
hậu, nghèo nàn sang hình thức cư trú mới có đời sống văn minh hơn [1] [2]
[4] [20].
Dưới góc độ đời sống xã hội: Đô thị hóa là quá trình phát triển về dân
số đô thị, số lượng và quy mô các đô thị cũng như về điều kiện sống đô thị
hoặc theo kiểu đô thị, trong đó có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng
của các đô thị, kể cả đối với các điểm dân cư nông thôn [22].
Dưới gốc độ kinh tế: Đô thị hóa là quá trình biến đổi từ nền sản xuất
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phân tán sang nền sản xuất công nghiệp,
cùng sự phát triển các dịch vụ trong những phạm vi diện tích nhất định [22].
Căn cứ vào xu hướng phát triển: Đô thị hóa thay thế là quá trình ĐTH
diễn ra ngay trong chính đô thị, cũng có thể là quá trình chỉnh trang, nâng cấp
đô thị để đáp ứng yêu cầu mới. Đô thị hóa quá mức là ĐTH mà ở đó sự tăng
trưởng nhanh chóng số lượng dân cư đô thị vào các trung tâm đô thị, dân cư
di chuyển từ nông thôn về thành thị nhưng không có sự phát triển kinh tế
tương xứng kèm theo, ĐTH mang tính tự phát cao, đô thị trở nên quá tải và
nhiều tiêu cực phát sinh. Đô thị hóa đảo ngược là khái niệm dùng để chỉ sự di