ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG ỨNG PHÓ VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG ỨNG PHÓ VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu
Mã số: Chƣơng trình đào tạo thí điểm
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hồng Minh
ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ............................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................................vi
DANH MỤC CÁC HÌNH .......................................................................................... vii
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài. .........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu: ..................................................................................................2
3. Kết cấu luận văn ..........................................................................................................3
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI
CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU .........................4
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu .................................................................................4
1.1.1 Một số khái niệm ....................................................................................................4
1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam ..................................5
1.1.3. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu .........................................................................7
1.1.4. Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam .....................................................10
1.2. Tổng quan nghiên cứu về cơ chế, chính sách nhằm huy động và sử dụng hiệu quả
nguồn lực tài chính ứng phó với tác động của BĐKH. .................................................14
1.2.1. Quan niệm về cơ chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính ứng
phó với biến đổi khí hậu ................................................................................................ 14
1.2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. .......................................16
1.2.3. Khái quát tình hình ban hành cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn lực tài chính ở Việt Nam..............................................................................21
CHƢƠNG II: ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP .............................26
ứng phó với biến đổi khí hậu. ........................................................................................64
3.3.4. Về sử dụng nguồn vốn trong khu vực tư nhân và người dân: .............................68
3.4. Đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực
tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam. ....................................................................68
3.4.1. Kết quả đạt được ..................................................................................................69
3.4.2. Hạn chế của cơ chế, chính sách huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài
chính ứng phó với biến đổi khí hậu ...............................................................................73
3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách. .............................78
3.5.1. Xây dựng cơ chế, chính sách huy động tài chính phù hợp ..................................78
3.5.2. Hoàn thiện các quy định hiện hành cho khối doanh nghiệp. .............................79
3.5.3. Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên qua đến ODA .........................................80
3.5.4. Tăng cường sự liên kết, phối hợp của các bên liên quan. ...................................81
3.5.5. Nâng cao năng lực cho các bên liên quan. ..........................................................81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................85
PHỤ LỤC .....................................................................................................................91
iv
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BĐKH
Biến đổi khí hậu
BVMT
Bảo vệ môi trường
COP
KHĐT
Kế hoạch đầu tư
NPT-RCC
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí
hậu.
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
PPP
Hợp tác công tư
SP-RCC
Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu
TNMT
Tài nguyên môi trường
TTX
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Các ngành mục tiêu và Bộ phụ trách (nguồn: PCU, SP-RCC).... 46
Hình 3.2: Cơ chế tài chính(nguồn: PCU, SP-RCC)....................................... 47
Hình 3.3: Tổng chi cho BĐKH (đầu tƣ và chi thƣờng xuyên) theo Bộ, giai
đoạn 2010 – 2013 (đơn vị:tỉ đồng).................................................................... 57
Hình 3.4: Chi cho các hoạt động giảm nhẹ (đầu tƣ và chi thƣờng xuyên) của
các Bộ (đơn vị: tỷ đồng) .................................................................................... 58
Hình 3.5: Chi cho các hoạt động thích ứng (đầu tƣ và chi thƣờng xuyên)
của các Bộ (đơn vị: tỷ đồng)1 ............................................................................ 59
Hình 3.6: Chi cho cả Thích ứng và Giảm nhẹ ( đơn vị: tỷ đồng)2 ................. 59
Hình 3.7:Tổng kinh phí ứng phó với BĐKH của Bộ TN&MT (Đầu tƣ và chi
thƣờng xuyên) (1.044 tỷ đồng) .......................................................................... 60
Hình 3.8: Cam kết ODA cho ứng phó với BĐKH tại Việt Nam (đơn vị:
tỉ đồng) ............................................................................................................... 66
vii
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Hiện nay, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang trở thành một trong những
thách thức lớn nhất của toàn thế giới trong thế kỉ 21. Biến đổi khí hậu không chỉ tác
động lên một ngành, một khu vực, một loài… mà đang tác động mạnh mẽ lên tất cả
các lĩnh vực trên hành tinh của chúng ta. Việc ứng phó và giảm thiểu tác động của
BĐKH hiện là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại. BĐKH tác động tiêu cực trên
phạm vi lớn như vậy đã buộc các quốc gia trên thế giới phải có những điều chỉnh
mang tính chất hệ thống trong các chính sách phát triển của mình cũng như phối hợp
và nghiên cứu khoa học và công nghệ về biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, Nhà nước
cũng ưu tiên huy động vốn vay ưu đãi và khai thác nguồn hỗ trợ không hoàn lại từ các
tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Nguồn vốn
vay và tài trợ quốc tế cho ứng phó với biến đổi khí hậu từ năm 2010 đến nay đạt trên
500 triệu USD [1]. Hàng năm, Nhà nước ưu tiên và tăng dần nguồn đầu tư từ ngân
sách cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, các chương trình mục tiêu cụ thể
như trồng rừng, nâng cấp hệ thống đê điều, hồ chứa nước, phòng chống sạt lở, chung
sống với lũ, an toàn cho tàu thuyền.
Tuy nhiên, các chính sách về cơ chế tài chính ứng phó với BĐKH tại Việt Nam
hiện nay vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu ứng phó với BĐKH trong
tương lai. Thứ nhất, Chính phủ hiện nay chưa có cơ chế, chính sách phù hợp, thuận lợi
để khuyến khích, huy động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước
tham gia đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu trên cơ sở mang lại lợi ích cho nhà
đầu tư và xã hội. Thứ hai là việc huy động nguồn lực từ các tổ chức tài chính quốc tế,
Chính phủ các nước, khai thác nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), cũng như
huy động các nguồn hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cho ứng phó với biến đổi khí hậu đạt
hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, mặc dù đã thiết lập và duy trì được một số mối quan
hệ hợp tác, đối tác quốc tế, song chủ yếu vẫn còn ở phạm vi hẹp, ngắn hạn. Các cơ
chế, thể chế tài chính có tầm chiến lược, dài hạn chưa được thiết lập để đón đầu, thu
hút nguồn lực tài chính và sự hỗ trợ công nghệ từ đối tác về BĐKH toàn cầu.[1].
Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu cơ chế, chính sách nhằm huy động
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến
đổi khí hậu ở Việt Nam” nhằm làm rõ thực trạng cơ chế chính sách huy động và sử
dụng nguồn lực tài chính hiện nay ở Việt Nam, từ đó góp phần đưa đến một cái nhìn
cụ thể về các cơ chế, chính sách này cũng như chỉ ra được những hạn chế, thiếu sót và
hướng khắc phục cho những tồn tại.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá được thực trạng cơ chế, chính sách huy động và sử dụng các nguồn
lực trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
2
khí hậu trong thời gian đủ dài.
Bộ Tài nguyên và Môi trường [10] định nghĩa biến đổi khí hậu là “sự biến đổi
trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì
trong một thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”.
Như vậy, BĐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu,
“khung” thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một
trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để
rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới.
- Chính sách
Từ điển bách khoa Việt Nam [40] đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách
được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản
chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối,
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
- Cơ chế
Cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện"[41]. Từ "cơ chế" được
dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt
đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những
qui định về quản lý.
- Cơ chế, chính sách: "cơ chế" đi đôi với từ "chính sách" thể hiện những biện
pháp của Nhà nước để tác động tới xã hội (thông qua pháp luật, thông qua các công cụ
tiền tệ, các công cụ quản lý hành chính khác, các công cụ kinh tế).
4
- Nguồn tài chính là khả năng về tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể
khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình. Nguồn tài chính có thể tồn
tại dưới dạng tiền, tài sản vật chất hoặc phi vật chất. Sự vận động của các nguồn tài
chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc. Trung bình cả nước, nhiệt độ
trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC.[5] Mức tăng trung bình giai
5
đoạn 1958-2012 khoảng 0,1oC/thập kỷ, thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu
(0,12oC/thập kỷ, IPCC 2013) [71]. So với trung bình thời kỳ 1981-1990, nhiệt độ trung
bình năm trong 20 năm gần đây đã tăng khoảng 0,38oC và trong 10 năm gần đây đã tăng
khoảng 0,42oC. So với trung bình thời kỳ 1958-2014, nhiệt độ trung bình thập niên 20012010 cao hơn khoảng 0,29oC; trung bình 4 năm 2011-2014 cao hơn khoảng 0,19oC. Có sự
khác nhau về mức tăng nhiệt độ giữa các vùng và các mùa trong năm. Nhiệt độ tăng cao
nhất vào mùa đông; thấp nhất vào mùa xuân. Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên
có xu thế tăng của nhiệt độ rõ rệt nhất; khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng của nhiệt độ
thấp nhất [5].
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lƣợng mƣa trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu của Việt Nam
Khu vực
Xuân
Hè
Thu
Đông
Năm
Tây Bắc
19,5
-12,5
Bắc Trung Bộ
26,8
1,0
-20,7
12,4
0,1
Nam Trung Bộ
37,6
0,6
11,7
65,8
19,8
Tây Nguyên
11,5
vực phía Nam, lượng mưa các mùa ở các vùng khí hậu đều có xu thế tăng; tăng nhiều
nhất vào các tháng mùa đông (từ 35,3% đến 80,5%/57 năm) và mùa xuân (từ 9,2% đến
37,6%/57 năm).
6
Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể
ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50
năm qua. Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện
tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50
năm qua.[5] Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượ ng mưa mùa mưa,
tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam
Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với
các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua (Bảng 1.1).
Nhiệt độ cực trị tăng ở các vùng, nhưng nhiệt độ tối cao giảm ở một số trạm
phía Nam. Hạn hán trong mùa khô xảy ra thường xuyên hơn. Mưa cực đoan giảm ở
vùng Đồng bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Số lượng bão
mạnh có xu hướng tăng. Số ngày rét đậm, rét hại giảm nhưng xuất hiện những đợt rét
dị thường. Tần suất và cường độ của El Nino và La Nina có xu thế tăng.
Ở Việt Nam, số liệu mực nước quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt
Nam cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm không giống nhau. Hầu
hết các trạm có xu hướng tăng, tuy nhiên, một số ít trạm lại không thể hiện rõ xu
hướng này. Tính trung bình cho tất cả các trạm, mực nước tăng khoảng 2,45mm/năm.
1.1.3. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Khí hậu bị biến đổi thường do 2 nhóm nguyên nhân:
- Biến đổi khí hậu do yếu tố tự nhiên: Những nguyên nhân tự nhiên gây nên sự
thay đổi của khí hậu Trái Đất có thể là từ bên ngoài hoặc do sự thay đổi bên trong và
tương tác giữa các thành phần của hệ thống khí hậu trái đất, bao gồm:
+ Thay đổi của các tham số quỹ đạo trái đất: Do Trái đất tự quay xung quanh
trục của nó và quay xung quanh mặt trời, theo thời gian, một vài biến thiên theo chu kỳ
quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí
như hơi nước( O2), Các bon ô xít (CO2), Nitơ
ôxit (NO2), mêtan (CH4) và
chlorofluorocarbon (CFC), làm giảm lượng nhiệt thoát ra không trung từ hệ thống Trái
đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, làm duy trì nhiệt độ Trái đất cao hơn khoảng 300C so
với khi không có các chất khí đó(IPCC, 2013) [71].
Các khí nhà kính (KNK) trong bầu khí quyển bao gồm các khí nhà kính tự
nhiên và các khí phát thải do các hoạt động của con người. Tuy các khí nhà kính tự
nhiên chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nhưng có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên
Trái đất. Trước hết, các khí nhà kính không hấp thụ bức xạ sóng ngắn của mặt trời
chiếu xuống Trái đất, nhưng hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt trời phát ra và phản xạ
một phần lượng bức xạ này trở vào Trái đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại
của mặt đất thoát ra ngoài khoảng vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều,
nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất.
8
+ Hoạt động của con người và sự nóng lên toàn cầu: Biến đổi khí hậu trong giai
đoạn hiện tại là do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức các khí nhà
kính vào bầu khí quyển. Những hoạt động của con người đã tác động lớn đển hệ thống
khí hậu, đặc biệt kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (Khoảng từ năm 1750). Theo IPCC, sự
gia tăng khí nhà kính kể từ năm 1950 chủ yếu có nguồn gốc từ các hoạt động của con
người. Hay nói cách khác, nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu trong giai đoạn hiện này
bắt nguồn từ sự gia tăng khí nhà kính có nguồn gốc từ hoạt động của con người [71].
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp, con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng
lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than,dầu, khí đốt), qua đó đã phát
thải vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến làm gia tăng nhiệt độ của
Trái đất.
rất nguy cấp và nguy cấp chỉ còn sống sót ở một địa điểm nhất định.
+ Các HST, các sinh cảnh (habitat) cần thiết cho các loài di cư, hoặc các loài
nguy cấp có phân bố hẹp, các loài đặc hữu sẽ bị biến mất hoặc thu hẹp.
+Các HST bị biến đổi và phân mảnh: do mực nước biển dâng cao nên một số
quần xã có tầm quan trọng quốc tế hay quần thể của các loài phân bố hạn hẹp có thể bị
biến mất hoặc bị chia cắt, phân mảnh như các vùng đảo, vùng ven biển, v.v...
+ Một số khu bảo tồn cảnh quan có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, văn hóa
và khoa học hoặc có tầm quan trọng về tiến hoá ở các đảo hoặc ven biển, cửa sông sẽ
bị mất hoặc bị thu hẹp.
+Môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các loài động, thực vật ngoại lai
xâm nhập và phát triển nhanh hơn. Cùng với các hoạt động buôn bán, sự xâm nhập của
các loài ngoại lai xâm hại hiện đang là mối đe dọa lớn đến tính ổn định và đa dạng của
các HST. Các đảo nhỏ và các HST thủy vực nước ngọt, các vũng, vịnh ven biển là
những nơi bị tác động nhiều nhất.
+BĐKH còn ảnh hưởng đến các thủy vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy, v.v..) qua
sự thay đổi nhiệt độ nước và sẽ làm giảm năng suất sinh học của các cây trồng trong
ngành nông nghiệp, và sự diệt vong của nhiều loài động thực vật bản địa, gây hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế.
-Tác động của BĐKH tới lĩnh vực nông nghiệp
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào thời
tiết.Khi nhiệt độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh
hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt. Sự bất thường của chu kì
sinh khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, giảm sút năng suất
mùa màng, mà còn có thể gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác. Đợt rét hại kéo dài 33
ngày trong mùa đông 2007/2008 là một minh chứng. Trong đợt rét đã có hàng nghìn
con trâu bò, hàng nghìn hécta lúa xuân đã cấy, hàng chục ngàn hécta mạ non, nhiều
đầm cá tôm ở tất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ đã bị chết, thiệt hại lên tới
hàng ngàn tỷ đồng.
10
sông và cường độ các trận lũ, tần xuất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước dưới
đất. Theo dự đoán, BĐKH sẽ làm giảm đáng kể lượng nước trong các con sông ở
nhiều vùng trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
11
-Tác động của BĐKH tới sức khỏe
BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như
bão lũ, hạn hán…Do nhiều bệnh sẽ gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và
hoàn cảnh, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt
xuất huyết (muỗi); qua môi trường nước (các bệnh đường ruột) và các bệnh khác (suy
dinh dưỡng, bệnh về phổi). Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng kém
phát triển, đông dân. Việt Nam thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người
và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh)…nhiều bệnh có diễn biến bất thường và
phức tạp.
-Tác động của BĐKH tới vùng ven biển
Tất cả các tác động của BĐKH đều rõ rệt nhất ở vùng ven biển, đây sẽ là nơi
chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây ra
những tổn thất năng nề về người và của:
+Gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thuỷ
sản và làm muối), gây nhiễu loạn các HST truyền thống ở đây.
+Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các HST đất ngập nước ven biển, nhất
là rừng ngập mặn, môi trường sống của các loài thuỷ hải sản, bức tường chắn sóng và
giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương
sẽ bị thu hẹp nhanh chóng [49].
+Các cơ sở hạ tầng nhất là các cảng, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác
động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời.
+Nước biển dâng và nhiệt độ tăng sẽ làm ánh hưởng lớn tới các rạn san hô, HST có
tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người, lá chắn
hiệu quả chống xói mòn bờ biển và rừng ngập mặn. San hô là các động vật rất nhạy cảm với
xây dựng bao giờ cũng được tính toán một cách phù hợp với phân bố không gian
và điều kiện khí hậu của từng vùng, từng địa phương, từng lọai công trình. Vì vậy,
BĐKH sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các qui hoạch này, nhất là khi mực nước biển dâng,
và thiên tai gia tăng.
+Thiết kế công trình. Thiết kế công trình bao giờ cũng được tính toán phù
hợp với tải trọng khí tượng, trong đó tải trọng gió và tải trọng nhiệt là quan trọng
nhất đối với các nước nhiệt đới như Việt Nam.
Những tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội
Những tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với Việt
Nam có thể được tóm tắt như sau (IMHEN, 2011): [50].
Tác động của nước biển dâng làm tăng diện tích bị xâm nhập mặn, mất đất canh
tác nông nghiệp, gia tăng xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông, đô thị, khu
dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân, các hệ
13
sinh thái ven biển, cửa sông. Tây Nam bộ, duyên hải miền Trung và hạ lưu sông Đồng
Nai là các vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đặc biệt là vùng Tây Nam bộ.
Tác động của nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, mùa vụ, làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến
năng suất giảm, tăng nguy cơ, rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực.
Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm cho các loài vi khuẩn, côn trùng, sinh vật mang bệnh
phát triển mạnh; gia tăng sức ép lên cơ thể con người, làm giảm khả năng đề kháng,
nhất là đối với người cao tuổi và trẻ em, dẫn đến dễ bị nhiễm bệnh, nhiễm dịch bệnh,
đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm. Nhiệt độ tăng cũng làm ảnh hưởng
đến chất lượng các công trình, sức bền vật liệu, tăng chi phí làm mát, thông gió, bảo
quản, vận hành các phương tiện.
Tác động của gia tăng cực trị của thời tiết, thiên tai làm cho thiên tai ở nước ta
trở nên nguy hiểm hơn, khó lường trước hơn, chúng ta mất đi thế chủ động phòng,
chống, giảm nhẹ thiên tai đã được xây dựng trong nhiều năm. Hạn hán, thiếu nước ở
sạch (CDM) là công cụ dựa vào khung khổ điều tiết của các chính phủ và cộng đồng
quốc tế, công cụ này có thể đưa các khoản đầu tư vào công nghệ giảm phát thải bằng
cách áp giá cho carbon và cho phép các công ty (và các chính phủ) để mua bán giảm
phát thải để thực hiện các nghĩa vụ giảm phát thải nhất định của mình.[52] Mặc dù các
quỹ này không thể dựa vào nghĩa vụ tài chính của các chính phủ vì chúng được sử
dụng để thực hiện các cam kết giảm nhẹ, nhưng chúng có thể cung cấp khuyến khích
cho việc đầu tư vào công nghệ thân thiện khí hậu.
Tài chính khí hậu liên quan đến UNFCCC được nêu ở một số điều của Công
ước. Điều. 4.3 [73] đưa ra nghĩa vụ chung của các nước phát triển phải cung cấp hỗ trợ
tài chính cho các nước đang phát triển. Hõ trợ tài chính này được xác định là phải „mới
và tăng thêm‟. Tuy nhiên định nghĩa này lại chưa nêu nghĩa vụ định lượng, do vậy rất
khó đánh giá việc thực hiện cam kết này có được hoàn thành hay không. Việc cung
cấp hỗ trợ tài chính cho các hành động khí hậu được thực hiện theo cái gọi là cơ chế
tài chính được định nghĩa tại Điều. 11 của UNFCCC. Điều 11 [73] mô tả rằng một
hoặc nhiều hơn các tổ chức có thể thực hiện vận hành cơ chế này. Lâu nay, Quỹ Môi
trường toàn cầu (GEF) là tổ chức vận hành duy nhất theo cơ chế tài chính này; tuy vậy,
về bản thân nó lại không phải là một cơ chế tài chính.Tại COP 17, COP quyết định
rằng “giao cho Quỹ Khí hậu xanh là một tổ chức vận hành Cơ chế tài chính của Công
ước theo Điều 11 của Công ước”.
Như vậy trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào về "tài chính cho
ứng phó với biến đổi khí hậu", tuy nhiên tổng hợp từ lý thuyết và thực tiễn có thể
rút ra khái niệm tài chính cho ứng phó với BĐKH là tài chính dành cho quá trình
chuyển dịch sang nền kinh tế toàn cầu có mức carbon thấp, dành cho các hoạt động
nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH và thích ứng với BĐKH diễn ra trong
hoạt động hàng ngày của cả khối nhà nước và tư nhân[63]. Vì vậy, có thể nhận
15
thấy nguồn tài chính với quy mô lớn này đòi hỏi sự tham gia đóng góp của cả khối
nhà nước và tư nhân. Trong đó, nhà nước đóng vai trò chủ đạo về tài chính cho ứng
biệt trong khuôn khổ của UNFCCC. Vấn đề còn tranh cãi trên bàn đàm phán là
16