PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI THỦY LỢI Ở VIỆT NAM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH THÍCH ỨNG NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - Pdf 34

DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HỢP PHẦN BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
______________________

BÁO CÁO
PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI THỦY LỢI Ở VIỆT NAM
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH THÍCH ỨNG
NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Hà Nội, 2010

1


MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................................................... 4
I. GIỚI THIỆU CHUNG ............................................................................................. 5
1.1
1.2

Tính cấp thiết của dự án....................................................................................... 5
Mục tiêu của dự án ............................................................................................... 6

1.3
Phương pháp và cách tiếp cận ............................................................................. 6
II. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THỦY LỢI ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CỦA VIỆT NAM............................................................................................................... 8
2.1
Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi của Việt Nam ..................................... 8
2.1.1 Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ. ................................................................. 13

3.1
Hiện trạng tác động của biến đổi khí hậu đổi với hệ thống công trình thủy
lợi.
22
3.1.1 Hiện trạng tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan đối với hệ thống
công trình thuỷ lợi. ........................................................................................................ 22
3.1.2 Hiện trạng tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn đối với hệ thống công
trình thuỷ lợi. ................................................................................................................ 25
3.1.3 Hiện trạng tác động của lượng mưa, nhiệt độ, dòng chảy đến hệ thống công
trình thuỷ lợi. ................................................................................................................ 27

2


3.2
Dự báo tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai đối với hệ thống công
trình thủy lợi .................................................................................................................... 29
3.2.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam ............................... 29
3.2.2 Dự báo tác động của các hiện tượng cực đoan trong tương lai đối với hệ thống
công trình thuỷ lợi. ........................................................................................................ 32
3.2.3 Dự báo tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn trong tương lai đối với hệ
thống công trình thuỷ lợi của Việt Nam. ....................................................................... 33
3.3

Dự báo các thiệt hại về kinh tế đối với hệ thống công trình thuỷ lợi ............. 41

IV.
KIẾN NGHỊ CHIẾN LƯỢC, NHIỆM VỤ ƯU TIÊN NHẰM THÍCH ỨNG
VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU. ............................................................ 43
4.1


3


CÁC TỪ VIẾT TẮT
UNCCD
UNEP

Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hoá
Chương trình về môi trường của Liên hợp quốc

UNFCCC

Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

IPCC
FAO

Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi khí hậu
Tổ chức Lương nông Liên hợp quốc

MARD

Bộ NN&PTNT

MONRE
REDD

Bộ TN&MT
Giảm phát thải nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng

Biến đổi khí hậu được coi là có tác động mạnh mẽ nhất đối với hệ thống công
trình thủy lợi. Các nhà khoa học cho rằng các hiện tượng khí hậu cực đoan với tần
suất và cường độ ngày càng tăng đã xảy ra trên hầu hết các vùng miền của Việt
Nam đều do nguyên nhân của Biến đổi khí hậu. Hiện tượng tăng nhiệt độ toàn cầu
có tác động lớn đối với sự bốc hơi, điều đó ảnh hưởng đến lưu trữ nước trong khí
quyển và do đó cũng ảnh hưởng đến cường độ, tần suất và cường độ mưa cũng
như sự phân phối mưa theo mùa và vùng địa lý cũng như sự biến thiên hàng năm
của nó. Do đó trong quá trình ra quyết định, các nhà quản lý thủy lợi đặc biệt phải
đối mặt với thách thức trong việc kết hợp tính không chắc chắn các tác động biến
thiên của khí hậu và biến đổi khí hậu để thích ứng. Điểm mấu chốt là các vấn đề
thực tế họ sẽ phải đối mặt (hiện tại và tương lai) trong lĩnh vực thủy lợi. Hiện
tượng biến đổi khí hậu có thể hiểu được bằng cách đánh giá hiện trạng khí hậu
(quá khứ đến hiện tại) để xem xét các tác động của nó đến sự phát triển trong
tương lai, bao gồm cả những thay đổi từ từ và đột ngột đến hệ thống thủy lợi.
Với giả thuyết là liên quan trực tiếp đến điều kiện thời tiết, hệ thống thủy lợi
rất nhạy cảm với bất kỳ thay đổi nào của thời tiết bởi chúng sẽ bị tác động lớn đến
hiệu quả hoạt động các công trình. Biến đổi khí hậu tác động lên hệ thống công
trình thủy lợi ngày càng trở nên rõ rệt hơn trong suốt những thập kỷ gần đây. Hạn
hán và lũ lụt trở nên khắc nghiệt hơn trong 2 thập kỷ gần đây. Trận hạn hán năm
97-98 gây thiệt hại 1,400 tỉ đồng, các biện pháp giảm thiểu hạn hán tiêu tốn hơn
1,000 tỉ đồng; mực nước sông Hồng tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong lịch
sử 100 năm. Tổng thiệt hại liên quan đến các thảm hoạ thiên nhiên như sạt lở đất,
lũ lụt, bão.. trong năm 2007 là: 11,600 tỉ đồng ( chiếm 1% GDP), 435 người chết
và mất tích, 113,800 héc-ta bị ngập nước, 1,300 công trình liên quan đến nước bị
phá huỷ, 1,500 kilômét đê vỡ và ăn mòn và 7,800 ngôi nhà bị phá huỷ. Tổng cộng
có 723,900 hộ dân ( 3,034,500 người) chết đói.
Hiện nay việc nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu đang là một vấn đề cấp
thiết, được sự quan tâm của các cấp các ngành từ TW tới địa phương. Theo đánh
giá của Ngân hàng thế giới thì Việt Nam là một trong những nước sẽ chịu tác động
mạnh mẽ của biến đổi khí hậu. Việt Nam đã thiết lập một Chương trình hành động


1.2 Mục tiêu của dự án
Mục tiêu của dự án là đánh giá các tác động tiềm tàng do biến đổi khí hậu
và đề xuất các biện pháp thích ứng đối với hệ thống công trình thủy lợi của Việt
Nam giai đoạn 2020 đến 2050 dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu của quốc gia
cũng như dựa trên các thông tin và tài liệu sẵn có liên quan. Kết quả của dự án
dùng để khuyến cáo cho các nhà ra quyết định, chiến lược về lĩnh vực thủy lợi, với
các kịch bản khác nhau thì nên áp dụng các biện pháp thích ứng nào trong lĩnh vực
thủy lợi (tưới tiêu, cấp nước, công trình phòng chống lụt bão).
1.3 Phương pháp và cách tiếp cận
Để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống tưới tiêu, cấp nước
và hệ thống công trình phòng chống tại 7 vùng địa lý của Việt Nam, cụ thể cách
tiếp cận và phương pháp như sau:
-

Xem xét các thông tin cơ bản 7 vùng địa lý của Việt Nam bao gồm: vị trí địa
lý, diện tích, dân số, các điều kiện phát triển kinh tế …

6


-

Phân tích hiện trạng hệ thống tưới tiêu, cấp nước và các công trình phòng
chống lụt bão (số lượng, năng lực, hiệu quả …) của từng vùng; Đánh giá hiện
trạng tài nguyên nước của Việt Nam (nước ngầm và nước mặt) bao gồm chất
lượng, trữ lượng và nhu cầu dùng nước của các ngành sử dụng nước;

-


Đề xuất các biện pháp/phương án thích ứng với các tác động của biến đổi khí
hậu đối với hệ thống tưới tiêu, cấp nước và các công trình phòng chống lụt
bão;

7


II.

HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THỦY LỢI ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI

KHÍ HẬU CỦA VIỆT NAM
2.1 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi của Việt Nam
Với vai trò quan trọng của công tác thủy lợi trong việc cấp thoát nước phục
vụ dân sinh kinh tế. Nhà nước và nhân dân trong cả nước đã tập trung đầu tư, xây
dựng các hệ thống thủy lợi.
Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các công trình thủy lợi đang
được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống
tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ
hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh.
Tuy các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả phục vụ dân sinh, kinh tế
nhưng trong quá trình quản lý vẫn còn một số tồn tại:
- Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng
-

Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 60% so với năng lực thiết kế.
Hiệu quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động và
đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống.

-

Nậm Rốm - Pa Khoang

Điện Biên

Liên huyện

3.960

2

Núi Cốc

Thái Nguyên

Liên huyện

12.000

3

Yên Lập

Quảng Ninh

Liên huyện

10.500

4


Phú Thọ

Liên huyện

3.600

7

Sông Cầu

Thái Nguyên, Bắc
Giang

Liên tỉnh

32.121

8

Cấm Sơn-Cầu Sơn

Lạng Sơn, Bắc Giang

Liên tỉnh

24.000

9

Nam Yên Dũng


Vĩnh Phúc, Hà Nội

liên tỉnh

2.900

13

Thanh Điềm

Vĩnh Phúc

Liên xã

4.500

14

Tam Báo

Vĩnh Phúc

Liên xã

2.050

15

Thường Lệ


Hà Nội, Hà Tây, Hà
Nam

Liên tỉnh

61.200

19

Tả Bùi - Hữu Đáy

Hà Tây

Liên xã

7.200

20

Mỹ Đức

Hà Tây

Liên xã

4.800

21


24

Nam Thanh

Hải Dương

Liên huyện

25

An Kim Hải

Hải Dương, Hải Phòng

Liên tỉnh

17.500

26

Đa Độ

Đa Độ

Liên huyện

68.000

27


Bắc Thái Bình

Thái Bình

Liên huyện

80.996

31

Nam Thái Bình

Thái Bình

Liên huyện

56.552

32

Bắc Nam Hà

Nam Định, Hà Nam

Liên tỉnh

49.310

33



26.820

36

Xuân Thuỷ

Nam Định

Liên huyện

26.766

37

Bắc Ninh Bình

Ninh Bình

Liên huyện

27.213

38

Nam Ninh Bình

Ninh Bình

Liên huyện


Thanh Hoá

Liên xã

14.000

42

Bắc Nghệ An

Nghệ An

Liên huyện

30.025

43

Nam Nghệ An

Nghệ An

Liên huyện

18.856

44

Kẻ Gỗ


Hà Tĩnh

Liên xã

2.200

48

Bộc Nguyên

Hà Tĩnh

Liên huyện

4.100

49

Sông Tiêm

Hà Tĩnh

Liên xã

2.500

50

Vực Tròn


Quảng Bình

Liên huyện

5.400

54

Trúc Kinh

Quảng Trị

Liên huyện

2.350

55

Nam Thạch Hãn

Quảng Trị

Liên huyện

14.300

56

An Tiêm


Thừa Thiên - Huế

Liên xã

2.000

60

Cống Quan

Thừa Thiên - Huế

Liên xã

4.800

61

Phú Cam

Thừa Thiên - Huế

Liên xã

6.500

IV

Duyên hải Nam Trung bộ

Liên xã

3.500

65

Việt An

Quảng Nam

Liên huyện

2.115

66

Duy Thành

Quảng Nam

Liên xã

3.000

67

Thạch Nham

Quảng Ngãi


71

Hội Sơn

Bình Định

Liên huyện

2.200

72

Đồng Cam

Phú Yên

Liên huyện

14.500

73

Bắc Khánh Hoà

Khánh Hoà

Liên huyện

19.556


77

Sông Pha

Ninh Thuận

Liên xã

3.000

78

Sông Trâu

Ninh Thuận

Liên huyện

3.000

79

Cà Giây

Bình Thuận

Liên xã

3.960


V

Tây Nguyên

83

Đạ Tẻ

Lâm Đồng

Liên xã

2.300

84

Đạ Đờn

Lâm Đồng

Liên huyện

2.200

85

Tuyền Lâm

Lâm Đồng


Liên huyện

13.500

89

Krông Búc hạ

Đắk Lắk

Liên xã

2.000

90

EaKao

Đắk Lắk

Liên xã

6.000

VI

Đông Nam bộ

91


17.000
2.500


94

Dầu Tiếng

Tây Ninh

Liên tỉnh

104.930

95

Đá Đen

Bà Rịa - Vũng Tầu

Liên huyện

2.773

96

Chu Hải

Bà Rịa - Vũng Tầu


Tiền Giang

Liên huyện

101 Đồng Tháp Mười

Đồng Tháp, Long An,

Liên tỉnh

743.691

Giờ)
VII Tây Nam bộ
99

Giữa hai sông Vàm cỏ

145.190
61.130

Tiền Giang
102 Bắc Bến Tre

Bến Tre

Liên huyện

136.200



107 Ô Môn - Xà No

Cần Thơ, Kiên Giang

Liên tỉnh

45.430

108 Quản Lộ - Phụng Hiệp

Sóc Trăng, Bạc Liêu,

Liên tỉnh

293.440

Hậu Giang, Kiên
Giang, Cà Mau
109 Bán đảo Cà Mau

Cà Mau

Liên huyện

1.251.750

110 Bạc Liêu - Vĩnh Châu

Cà Mau

tiểu thuỷ nông. Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết
cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà,
Núi Cốc, Cấm Sơn. Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha
và cấp nước sinh hoạt cho hơn 30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị
và công nghiệp ở các tỉnh.
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông
Hồng-Thái Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê
hoàn chỉnh bảo vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399
km đê sông, 194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển + cửa sông.
2.1.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng
- Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm 500
cống, 1.700 trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh
trục chính (cấp I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3) và nhiều hồ
chứa nhỏ có tổng diện tích tưới thiết kế khoảng 85.000 ha, kết hợp cấp nước sinh
hoạt.
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn
chỉnh gồm: 2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê
biển + cửa sông. Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m

13


ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại. Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội
có mức nước thiết kế +13,4m.
2.1.3 Vùng Bắc Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi
lớn là Đô Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng
nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ. Tổng diện tích tưới thiết kế là
424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu
và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị

2.1.6 Miền Đông Nam bộ
- Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi
dụng tổng hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng
trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550
Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng
các công trình có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung
bình 4,498 tỷ Kwh/năm. Công trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng
93.000 ha và chuyển sang sông Vàm Cỏ khoảng 10 m3/s. Ngoài ra còn nhiều công
trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta. Các hồ chứa đã điều tiết tăng
lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai
khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km.
Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai
thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê. Tổng lượng nước ngầm khai
thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000
m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP. Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và
Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh).
- Phòng chống lũ:
Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng lưu
tham gia chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du. Ở hạ du
chỉ có một vài tuyến đê nhỏ.
2.1.7 Vùng Đồng bằng sông Cửu long
- Tưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục và
kênh cấp I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 8-40 m, cao
trình đáy từ -2,0 ÷ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh),
đưa nước ngọt tưới sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn
cho đồng ruộng và 105 trạm bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ
để tưới tiêu với năng lực tưới thiết kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha).
- Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên trong đó có nhiều cống rộng
từ 10-30 m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn cống nhỏ để ngăn mặn,
ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu. Lớn nhất là cống đập Ba Lai có chiều rộng

2/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 158/QĐ-TTg phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ngày 11/1/2008 Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội thảo triển khai việc xây dựng
Chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm
giảm thiểu và thích ứng với BĐKH. Hội thảo do Thứ trưởng Đào Xuân Học chủ
trì, tập trung vào 4 chủ đề chính liên quan đến các lĩnh vực: nông nghiệp, thuỷ lợi,
16


thuỷ sản và lâm nghiệp. Theo quan điểm của Bộ NN&PTNT, nói đến việc phòng
tránh, giảm nhẹ thiên tai liên quan đến BĐKH cần phải phân biệt 2 vấn đề: i-Giảm
thiểu ảnh hưởng tác động của BĐKH, và ii-Thích ứng với BĐKH. Cụ thể như sau:
a- Giảm thiểu ảnh hưởng tác động của BĐKH: Ngành NN&PTNT phải xem
lại cơ cấu cây trồng và tăng diện tích trồng rừng đầu nguồn, tăng diện tích trồng
rừng ngập mặn, bảo vệ đê điều, giảm lũ, đồng thời giảm phát thải khí gây hiệu ứng
nhà kính (khí nhà kính, KNK). Cụ thể các nhà khoa học Việt Nam đã đề ra
phương án trồng rừng ngập mặn và quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản, phát triển các
khu bảo tồn sinh thái; không quy hoạch khu định cư gần bờ biển, cửa sông; xây đê
cao thêm 1-1,2 m để bảo vệ cảng biển, di tích, điểm du lịch...trong vùng ngập do
nước biển dâng.
b- Thích ứng với sự BĐKH:
Bài toán được đặt ra cho ngành NN&PTNT chính là điều chỉnh các hoạt
động trong những lĩnh vực chủ yếu như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản
và đảm bảo tính ổn định và hiệu quả của các hệ thống thuỷ lợi. Đối với hoạt động
sản xuất nông nghiệp, ưu tiên hàng đầu là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung
vào phát triển, quản lý rừng trồng, rừng phòng hộ để giảm tác động của thiên tai,
bão lũ và các tác động của BĐKH. Còn hệ thống thuỷ lợi, phải được đầu tư để duy
trì phát triển an toàn, ổn định, bền vững, phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp,
cho các khu đô thị ven sông, biển...

Hồng-Thái Bình, ĐBSCL, các sông thuộc miền Trung từ Thanh Hoá đến Khánh
Hoà, khu vực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ thích ứng với BĐKH (Quy hoạch
phòng chống lũ).
e-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ
đê biển và ven biển (Quy hoạch lâm nghiệp).
g-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch hệ thống hạ tầng cơ sở đồng muối
(Quy hoạch diêm nghiệp);
h-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch các vùng sản xuất cây lương thực,
cây công nghiệp thích ứng với BĐKH (Quy hoạch cây lương thực-cây công
nghiệp);
i-Chương trình nghiên cứu và quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ-hải sản
thích ứng với BĐKH (Quy hoạch thuỷ sản).
2.2.2 Đánh giá các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực
thủy lợi của các địa phương
+ Các chính sách của địa phương:
Nhìn chung, các tỉnh đã ban hành các văn bản, chính sách liên quan đến lĩnh
vực quản lý thiên tai của địa phương:
18


- Các tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược Quốc gia
phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, lồng ghép việc giảm nhẹ thiên
tai với quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
- Tiến hành rà soát hệ thống văn bản cần bổ sung về cơ chế chính sách liên
quan đến công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai ở địa phương
- Một số tỉnh, như Thái Bình, Ninh Bình, Hải Phòng đã tiến hành xây dựng
quy hoạch hệ thống thủy lợi của tỉnh nhằm khai thác tổng hợp tài nguyên nước của
các địa phương.
- Các địa phương đang thực hiện rà soát việc lồng ghép các nội dung phòng
chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của ngành, từng cấp địa

quan
- Chỉ đạo phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng tìm kiếm cứu
nạn để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu cấp bách xảy ra, đảm bảo việc đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm trang thiết bị và phát triển nguồn lực
phục vụ tìm kiếm cứu nạn
- Một số tỉnh đã bổ sung nguồn lực trụ sở, trang thiết bị, công nghệ phục vụ
công tác chỉ đạo, điều hành phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở tỉnh, huyện,
thành phố và các ngành liên quan.
Tuy nhiên, nhiều địa phương ở nước ta, nhất là các tỉnh ven biển chưa nhận
diện đầy đủ mối đe doạ của biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu chưa thực sự được
tính toán và lồng ghép vào các quy hoạch phát triển của tỉnh cũng như của các
ngành, các địa phương có khả năng chịu ảnh hưởng nặng nề. Các quy hoạch ngành
và địa phương vẫn tiếp tục đổ tiền của ra vùng đất thấp ven bờ, các khu đô thị mới,
khu công nghiệp vẫn tiếp tục được đổ đất lấn biển mà không có quy hoạch thích
hợp. Những ngành nhạy cảm và có nguy cơ chịu thiệt hại nặng nề do biến đổi khí
hậu như nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản mặn - lợ, du lịch biển, công nghiệp, đô
thị vùng bờ chưa tính kỹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
2.2.3 Đánh giá hiểu biết của cán bộ thủy lợi về biến đổi khí hậu
Nhìn chung, các địa phương đã tổ chức tập huấn để nâng cao năng lực đội
ngũ cán bộ làm công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, khuyến khích thành
lập các cơ sở đào tạo, huấn luyện các đơn vị dịch vụ cho phòng, chống và giảm
nhẹ thiên tai. Một số tỉnh đã bước đầu thực hiện tuyên truyền kiến thức phòng
chống thiên tai trên các phương tiện thông tin và đài truyền thanh 3 cấp của các
địa phương. Do vậy mà cán bộ thủy lợi đã có nhận thức chung về biến đổi khí hậu
đối với lĩnh vực thủy lợi và các tác động của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, nhận thức về biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực thủy lợi và các tác
động của biến đổi khí hậu của các địa phương là chưa rõ ràng:
- Số cán bộ thủy lợi đủ năng lực làm công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên
tai chưa nhiều. Các cán bộ thủy lợi cần được tập huấn đầy đủ về các tác động của
20

có 320 cơn (trận) bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, phần lớn khi
bão đổ bộ vào Việt Nam đều có gió từ cấp VIII đến cấp XII khi gió giật trên cấp
XII(Vmax > 40 m/s), trong đó 31% đổ bộ vào Bắc bộ, 36% đổ bộ vào Bắc Trung
bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung bộ. Số lượng các trận bão đổ bộ vào Việt Nam gia
tăng hàng năm, đặc biệt là trong 3 thập kỷ gần đây. Cường độ của bão cũng tăng
đáng kể, chỉ riêng trong 10 năm (1981-1991) đã có 8 trận bão cấp 12 và 2 trận bão
cấp 13 đổ bộ vào VN. Bão vào VN không chỉ gây gió xoáy mạnh, gió giật mà còn
gây mưa to kéo dài, gây ra lũ lụt, nước biển dâng cao...Có tới 80% dân số VN chịu
ảnh hưởng trực tiếp của bão. Bão là loại thiên tai nguy hiểm nhất trực tiếp làm đổ
nhà cửa, tàn phá hoa màu, phá huỷ các công trình hạ tầng, làm đắm tàu thuyền,
gây ra mưa úng, lũ quét, nước dâng...Hiện chưa thể chống bão, mà chỉ có thể tránh
bão. Nếu dự báo sớm và chính xác phạm vi ảnh hưởng cũng như hướng di chuyển
của bão thì có thể giảm thiểu đáng kể hậu quả do bão gây ra, đặc biệt là những tổn
thất về người và tầu thuyền ngoài khơi. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Việt
Nam đã phải gánh chịu một số cơn bão gây thiệt hại nặng nề như: cơn báo Linda:
đổ bộ vào bán đảo Cà Mâu tháng 11/1997, gây tổn thất rất lớn, 788 người chết,
1142 người bị thương, 2541 người mất tích, 2789 tầu thuyền bị chìm, thiệt hại lên
tới 7.000 tỷ đồng; cơn áp thấp nhiệt đới tháng 11/1999: đổ bộ vào cực nam Trung
bộ, gây ra một đợt mưa cực lớn kéo dài 6 ngày với cường độ mưa cực đại gây lũ
lụt nghiêm trọng các tỉnh vùng Trung Trung bộ, làm 592 người chết, 204 người bị
thương, thiệt hại khoảng 235 triệu USD; Đặc biệt tháng 5/2006, do công tác dự
22


báo bão chưa chính xác và không kịp thời nên cơn bão Chanchu đã làm đắm hàng
trăm tầu thuyền, làm chết và mất tích hàng trăm ngư dân các tỉnh thuộc vùng
Trung Trung bộ.
Nhìn chung, bão là loại thiên tai xẩy ra hàng năm ở cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam
trong cả nước, đặc biệt là khu vực ven biển chịu tác động trực tiếp của bão. Bão
không chỉ trực tiếp gây thiệt hại về người, tài sản, tầu thuyền, các cơ sở hạ tầng...


đồng thời giữa các vùng trong cả nước, lượng dòng chảy chỉ bằng 2 – 10%, trong
đó lượng dòng chảy tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 1 – 3% lượng dòng chảy năm.
Trong mùa khô, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các sông là nước dưới đất và
trong thời kỳ này nhiều sông ở vùng duyên hải, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ
không có dòng chảy. Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán, thiếu nước
trong mùa khô diễn ra phổ biến ở hầu hết các khu vực trong cả nước, với mức độ,
quy mô ngày càng lớn hơn.
Tình trạng hạn hán, thiếu nước và mức độ trầm trọng của hạn hán còn do nhu cầu
sử dụng nước tăng, việc khai thác, sử dụng nước thiếu quy hoạch, thiếu tính phối
hợp, liên kết giữa các ngành, các địa phương và giữa các dạng nguồn nước hoặc
không phù hợp với khả năng thực tế của nguồn nước.
Tuy tổng lượng giáng thủy có nơi tăng nơi giảm nhưng tần suất xuất hiện các trận
mưa lớn và cực lớn có chiều hướng tăng lên. Từ năm 1970, hạn hán trở lên thường
xuyên hơn, mức độ hạn nghiêm trọng hơn, phạm vi ảnh hưởng lớn hơn và thời
gian hạn kéo dài hơn.
Trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối với sản
xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung và Tây
nguyên, theo số liệu thống kê các tỉnh, đợt hạn từ cuối năm 1997 đến tháng
4/1998, tổng diện tích lúa bị hạn thiếu nước là 100.000 ha, trong đó bị mất trắng là
20.000 ha. Diện tích hoa mầu bị thiệt hại là 120.000 ha, trong đó mất trắng 9.100
ha. Thiệt hại của các tỉnh miền Trung riêng về nông nghiệp đã lên 1.400 tỷ đồng.
Ngoài ra, các chi phí cho phòng chống hạn cuối năm 1997 và năm 1998 gần 1000
tỷ đồng.
c.

Tác động của các yếu tố khí hậu cực đoan khác.

Lũ quét thường xẩy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ mưa lớn,
đường tiêu thoát nước bị ứ nghẽn. Lũ quét cũng có thể xẩy ra do vỡ hổ chứa nhỏ, sạt

liệt hơn. Số trận bão mạnh tăng lên, phân bố bão và hướng di chuyển của bão có
nhiều thay đổi so với giai đoạn trước.
3.1.2 Hiện trạng tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn đối với hệ thống
công trình thuỷ lợi.
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong
thời kỳ 1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 1993 2003. Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31m trong 100
năm gần đây.
Tại Việt Nam hiện tượng nước biển dâng kèm theo đó là xâm nhập mặn gây tác
động chính đến các vùng ven biển. Xâm nhập măn ảnh hưởng đến hệ sinh thái các
vùng ven biển, làm thay đổi cơ cấu hệ thống nuôi trồng thủy sản. Tăng cường các
biện pháp công trình, phi công trình để trống xâm nhập mặn: như xây dựng các

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status