BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO ỨNG
PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
NGUYỄN DƯƠNG HOÀNG
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO ỨNG
PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
NGUYỄN DƯƠNG HOÀNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM .............................................................................. 6
1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................. 6
1.1.1. Hiệu ứng nhà kính ................................................................................... 6
1.1.2. Biến đổi khí hậu ...................................................................................... 7
1.1.3. Giảm nhẹ................................................................................................. 8
1.1.4. Thich ứng ................................................................................................ 8
1.1.5. Ứng phó với biến đổi khí hậu .................................................................. 8
1.2. Các cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận và các điều ước quốc tế về BĐKH mà
Việt Nam ký kết, gia nhập.................................................................................. 8
1.2.1 Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 8
1.2.2. Cơ sở lý luận ......................................................................................... 16
1.2.3. Các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam ký kết, gia nhập ............. 23
1.3. Tổng quan hệ thống pháp luật hiện hành về ứng phó với biến đổi khí hậu .. 30
1.3.1 Các văn bản quy phạm pháp luật chung về ƯPBĐKH ............................ 31
1.3.2. Các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nhẹ BĐKH ........................... 31
1.3.3. Các văn bản quy phạm pháp luật về thích ứng với BĐKH ..................... 32
1.3.4. Các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ ƯPBĐKH; chế tài xử lý vi
phạm pháp luật................................................................................................ 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU TẠI VIỆT NAM ......................................................................................... 34
2.1. Pháp luật về giảm nhẹ BĐKH ................................................................... 34
2.1.1. Pháp luật về CDM và các chất làm suy giảm tần ô-dôn ........................ 34
2.1.2. Pháp luật về sử dụng năng lượng hiệu quả, sử dụng hợp lý tài nguyên
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH
: Biến đổi khí hậu
CDM
: Cơ chế phát triển sạch
IPCC
: Uỷ ban Liên Chính phủ về thay đổi khí hậu
KP
: Nghị định tư Kyoto
KNK
: Khí nhà kính
HƯNK
: Hiệu ứng nhà kính
HĐND
: Hội đồng nhân dân
: Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu
SRPCC
: Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu
UBND
: Uỷ ban nhân dân
UNFCCC
: Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu
ƯPBĐKH
: Ứng phó với biến đổi khí hậu
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nằm ở phía đông bán đảo Đông
Dương, là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Thực hiện
chính sách Đổi mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, Việt Nam đã tạo ra
những sự thay đổi rất lớn về bộ mặt kinh tế, xã hội của đất nước. Trải qua hơn hai
thập kỷ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, Việt Nam đã chính thức gia nhập nhóm các
quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2009. Việt Nam cũng là quốc gia được
biết đến với những thành tích ấn tượng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên
nhiên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Theo Chiến lược phát triển kinh
Việt Nam đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu (2008)
và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (2011) với tầm nhìn chiến lược lâu dài.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng được đặt ra trong Chiến lược và Chương
trình này là xây dựng, hoàn thiện thể chế về ứng phó với biến đổi khí hậu.
Với những lý do đó, việc nghiên cứu “Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho ứng
phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Biến đổi khí hậu là một hiện tượng có từ lâu, tuy nhiên, biến đổi khí hậu gây
ra hậu quả tiêu cực thì chỉ thực sự được quan tâm trong thời gian gần đây, là vấn đề
không chỉ có Việt Nam mà được toàn thế giới quan tâm. Hiện nay, vấn đề biến đổi
khí hậu ở nước ta đang được các nhà hoạch định chính sách và quản lý, các nhà khoa
học quan tâm đặc biệt cả về lý luận, lẫn mặt thực tiễn. Trong những năm qua, dã có
một số tác giả, nhóm tác giả nghiên cứu liên quan đến chủ đề của đề tài luận văn như:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng
cho Việt Nam”, tháng 6 năm 2009;
- Các tác giả: GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu; Lê Đình Quang, Trần Duy Bình,
Trung tâm khoa học công nghệ khí tượng thuỷ văn và môi trường, Bộ Tài nguyên và
Môi trường: Chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu và chiến lược thích ứng với biến
đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam; năm 2006.
2
- Các tác giả: Lê Nguyên Tường, Ngô Sĩ Giai, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ
văn và môi trường: Đánh giá năng lực thích nghi và sẵn sàng ứng phó với biến đổi
khí hậu, năm 2006.
- PGS.Ts. Hoàng Thế, Bộ Tư pháp: đề tài cấp bộ “Hoàn thiện khung pháp luật
về môi trường ở Việt Nam”, tháng 4 năm 2007.
-Ts. Phạm Văn Lợi, Viện Khoa học quản lý môi trường, Bộ Tài nguyên và
Môi trường: đề tài cấp bộ “Đánh giá hệ thống pháp luật về môi trường Việt Nam”,
+ Tổng quan cả nước,
+ Công tác quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
hiện nay.
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa vào cách tiếp cận hệ thống, kế thừa các vấn đề
lý luận và thực tiễn ở nước ta và thế giới; phù hợp với chủ trương, đường lối của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về định hướng hoàn thiện hệ thống
pháp luật của Việt Nam, định hướng phát triển kinh tế đến năm 2020, đặc biệt là
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng
cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Luận văn vận dụng phương pháp luận, các quy luật và phạm trù của triết
học trong quá trình nghiên cứu mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử.
Áp dụng các phương pháp phân tích thể chế - chính sách, kinh tế - xã hội đối
với quản lý về biến đổi khí hậu; phương pháp đối sánh, tổng hợp,…cũng được vận
dụng để giải quyết các vấn đề liên quan; khảo sát thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi
những người làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả thống kê.... nhằm làm sáng tỏ
các vấn đề trong nội dung luận văn.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về lý luận: Góp phần làm sáng tỏ các kết quả đạt được, chỉ ra
những hạn chế, thiết sót của hệ thống pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở
nước ta. Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần vào việc hoàn thiện cơ
sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài
hấp thụ, làm cho trái đất ấm lên. Sau đó, một phần năng lượng hấp thụ được phản xạ
trở lại khí quyển thành các bức xạ nhiệt sóng dài. Một phần nhỏ của các bức xạ sóng
dài thoát vào trong không gian; một phần bức xạ không thể xuyên qua các KNK
trong khí quyển. Các KNK có thể lựa chọn truyền dẫn các tia hồng ngoại, giữ lại một
số và cho phép một số xuyên qua không gian. Các KNK hấp thụ những sóng này và
giữ chúng ở dưới làm nóng lên ở vùng khí quyển thấp hơn.
HƯNK tồn tại trên trái đất ngay từ khi trái đất cùng với khí quyển và hệ thống
khí hậu hình thành và hầu như không thay đổi cho đến thời kỳ tiền công nghiệp. Từ
thời kỳ này, khoảng năm 1750, con người, thông qua các hoạt động phát triển kinh tế
xã hội, đặc biệt là công nghiệp đã phát thải ra nhiều khí quyển nhiều khí có HƯNK
đặc biệt nguy hại như CO2, CH4, O3, N2O cũng như HFCs, PFCs và SP6 làm cho
nồng độ KNK trong khí quyển tăng lên, HƯNK mãnh liệt hơn và do đó làm nóng
thêm bề mặt trái đất và lợp đối lưu dưới khí quyển, gây ra BĐKH hiện đại.
Theo khoản 5 Điều 1 UNFCCC thì các KNK là những thành phần, cả tự nhiên
lẫn nhân tạo, mà hấp thụ và phát lại bức xạ hồng ngoại. Luật Bảo vệ môi trường năm
2014 quy định KNK là các khí trong khí quyển gây ra sự nóng lên toàn cầu và biến
đổi khí hậu.
6
Các KNK tiêu biểu có thể kể đến như: Dioxit Cacbon (CO2) là loại KNK
chiếm tới một nửa khối lượng các KNK và đóng góp tới 60% trong việc làm tăng
nhiệt độ khí quyển; Mê tan (CH4) là loại khí quan trọng thứ hai trong các KNK do
hoạt động của con người gây ra; Ôzôn đối lưu là một loại KNK quan trọng đứng
hàng thứ ba sau khí CO2 và CH4, ôzôn được tạo ra trong tự nhiên và trong các hoạt
động của con người, từ động cơ ô tô, xe máy hoặc các nhà máy điện, đối với tầng đối
lưu việc tăng ôzôn cũng có hại như các KNK khác; Nitơ (N2O); Chlorofluorocarbons
(CFC) là các sản phẩm từ con người tạo ra, là loại hoá chất được sử dụng rộng rãi
trong các thiết bị làm lạnh như: tủ lạnh, điều hoà không khí, các loại máy lạnh, các
của BĐKH. Có nhiều phương thức thích ứng khác nhau, bao gồm thích ứng cá nhân
và thích ứng cộng đồng, thích ứng tự nguyên và thích ứng có kế hoạch, chẳng hạn,
bồi đắp đê sông, đê biển, trồng cây chống xói mòn.
1.1.5. Ứng phó với biến đổi khí hậu
Là cụm từ được nhắc đến nhiều khi nói về biến đổi khí hậu, tuy nhiên, trong
các văn bản pháp quy, cũng như tài liệu nghiên cứu, kể cả UNFCCC hay KP cũng
chưa đưa ra khái niệm ứng phó với biến đổi khí hậu mà chỉ đề cập nội dung của ứng
phó với biến đổi khí hậu, các hoạt động cần phải thực hiện để ứng phó với biến đổi
khí hậu gồm giảm nhẹ biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu và chỉ đưa
ra khái niệm đối với hai hoạt động này. Đến năm 2014, khi Quốc hội khoá XIII thông
qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, lần đầu tiên trong một văn bản quy phạm
pháp luật đưa ra giải thích về “ứng phó với biến đổi khí hậu”. Khoản 26 Điều 3 Luật
Bảo vệ môi trường quy định “ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con
người nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu”.
1.2. Các cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận và các điều ước quốc tế về BĐKH mà
Việt Nam ký kết, gia nhập.
1.2.1 Cơ sở thực tiễn
BĐKH đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, khu vực và ở Việt Nam do hoạt
động của con người làm phát thải quá mức KNK vào bầu khí quyển. BĐKH đã,
đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu
8
như lương thực, nước, năng lượng, các vấn đề về an toàn xã hội, văn hoá, ngoại
giao và thương mại. Là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của
Biến đổi khí hậu, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa
sống còn. BĐKH đã và đang tác động đến sản xuất, đời sống và môi trường tại
Việt Nam.
1.2.1.1. Tình hình phát thải KNK ở Việt Nam
thụ KNK.
a) Phát thải KNK trong ngành năng lượng
Tại Việt Nam, phát thải KNK trong lĩnh vực năng lượng bao gồm phát thải
từ quá trình đốt nhiên liệu và phát thải do phát tán trong quá trình khai thác, vận
chuyển nhiên liệu.
Phát thải KNK do đốt nhiên liệu
Phát thải KNK do đốt nhiên liệu trong năm 2010 là 124.275 nghìn tấn CO2
tương đương, trong đó phát thải nhiều nhất là các phân ngành công nghiệp năng
lượng (41.057,9 nghìn tấn), công nghiệp sản xuất và xây dựng (30.077,6 nghìn tấn)
và giao thông vận tải (31.817,9 nghìn tấn).
Phát thải KNK do phát tán
Phát thải KNK do phát tán là phát thải KNK xảy ra trong quá trình khai thác,
xử lý, bảo quản và vận chuyển nhiên liệu hoá thạch đến điểm sử dụng cuối cùng.
Lượng phát thải KNK do phát tán năm 2010 là 16.895,8 nghìn tấn CO2 tương
đương, trong đó, phát thải từ khai thác thanh (hầm lò và lò lộ thiên) là 2.243,1 nghìn
tấn CO2 tương đương và từ khai thác dầu, khí đốt tự nhiên là 14.652,8 nghìn tấn
CO2 tương đương.
Tổng phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực năng lượng là 141.170,8 nghìn
tấn CO2 tương đương.
b) Phát thải KNK từ các quá trình công nghiệp
Phát thải KNK trong lĩnh vực các quá trình công nghiệp được ước tính từ các
hoạt động công nghiệp không liên quan đến lĩnh vực năng lượng. Nguồn phát thải
chính là từ các quá trình chuyển đổi về hoá học hay vật lý của các loại nguyên liệu
10
thô. Đối với năm 2010, việc tính toán phát thải KNK từ lĩnh vực này chỉ được thực
hiện cho hai ngành sản xuất xi măng và sản xuất vôi. Với các ngành khác như sản
xuất NH3, sản xuất các-bua (trong ngành công nghiệp hoá chất) và sản xuất thép
Phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải từ năm nguồn chính: bãi chôn lấp rác
thải, xử lý nước thải công nghiệp, xử lý nước thải sinh hoạt, chất thải của người và
đốt chất thải. Bãi chôn lấp chủ yếu để xử lý rác thải từ các khu đô thị. Tổng hợp số
liệu từ Báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường các
tỉnh/thành trên toàn quốc cho thấy từ 2006 đến 2010 tổng khối lượng rác thải đô thị
được xử lý tại các bãi chôn lấp tăng bình quân khoản 10%/năm. Trong thành phần
chất thải, thức ăn và chất hữu cơ chiếm 59,2% đồ nhựa và các thức khác chiếm
30,9%. Lượng KNK phát thải trong quá trình xử lý nước thải công nghiệp phụ
thuộc vào khối lương nước thải và lượng COD trong nước thải.
Tổng lượng phát thải KNK từ chất thải trong năm 2010 là 15.352 nghìn tấn
CO2 và tương đương, trong đó, chủ yếu phát thải từ nước thải sinh hoạt là 6.827
nghìn tấn CO2 tương đương, chiếm 44,5%, phát thải từ các bãi chôn lấp rác là 5
triệu tấn CO2 tương đương, chiếm 32,6%.
1.2.1.2. Các tác động của BĐKH
BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực, các châu lực và vùng lãnh thổ trên
phạm vi toàn cầu.Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau tuỳ thuộc
vào những đặc trưng về điều kiện địa lý, trình độ phát triển và các hành động ứng
phó của từng vùng, miền, từng quốc gia cụ thể. Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng
lớn của BĐKH. BĐKH tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực và các vùng miền của
Việt Nam. Từ năm 2009, trong khuôn khổ hỗ trợ của Chương trình Môi trường Liên
Hợp quốc, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã có Báo cáo
“Biến đổi khí hậu tại Việt Nam”. Báo cáo nêu rõ các tác động của BĐKH đối với
Việt Nam, theo đó, các lĩnh vực chịu tác động chủ yếu của BĐKH: tài nguyên nước,
lâm nghiệp, thuỷ sản, đa dạng sinh học, năng lượng, giao thông, sức khoẻ con
người.. Việc nghiên cứu các tác động này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách
đưa ra được những giải pháp ƯPBĐKH.
12
bị thiệt hại nặng nề, hơn 2.000 ha đất phải tạm ngưng sản xuất, trong khi đó, hạn
hán kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến hàng chục ngàn đàn gia súc thiếu nước uống,
gần 500 con bị chế do suy kiệt [61]… Các cơn bão đổ bộ với cường độ mạnh gây ra
những thiệt hại về người và kinh tế lớn, uy hiếp đến an toàn hệ thống hồ chứa và gần
3000km của hệ thống đê bảo vệ cho đồng bằng.
Vấn đề chất lượng nước có thể tăng lên, nơi có ít dòng chảy tăng nguy cơ ô
nhiễm từ các nguồn tự nhiên và con người. BĐKH ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp
đến nguồn tài nguyên nước. Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô và gây hạn
hán và quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt. Nguồn nước ngầm bị suy giảm do
thiếu nguồn bổ sung.
Các đánh giá tác động của ĐBKH đến tài nguyên nước tại 7 lưu vực sông:
sông Hồng, Thái Bình, Cả, Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và Đồng bằng sông Cửu Long
cho thấy tác động mạnh mẽ nhất sẽ xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long và đồng
bằng sông Hồng-Thái Bình. Theo Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam
thì vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nước biển dâng cao nhất ở
vùng từ Cà Mau đến Kiêng Gian trong khoản từ 62 đến 82 cm, thấp nhất ở vùng
Móng Cái khoảng từ 49 đến 64cm; trung bình Việt Nam, nước biển dâng trong
khoảng từ 57 đến 73cm. Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, nước biển
dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến 105 cm,
thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66 đến 85cm; trung
bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng 78 đến 95cm. Nếu nước biển
dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích
vùng đồng bằng Sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven
biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập.
b) Tác động của BĐKH đến đa dạng sinh học của Việt Nam
Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng do
BĐKH toàn cầu. Các nghiên cứu cho thấy dự kiến hậu quả của BĐKH sẽ tác động
mạnh lênh hai vùng đông bằng lớn là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông
ngập mặn bị thu hẹp; rừng nguyên sinh bị thay đổi ranh giới; nguy cơ tuyệt chủng
một số loài động, thực vật hoang dã; gia tăng nguy cơ cháy rừng, sâu bệnh, dịch
bệnh...; địa bàn sinh sống của một số loài thủy sản nước ngọt bị thu hẹp; xuất hiện
15
hiện tượng phân tầng nhiệt độ trong thủy vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình
sinh sống của các loài thuỷ sinh.
d) Tác động đối với ngành năng lượng và giao thông
Nước biển dâng ảnh hưởng đến các dàn khoan dầu trên biển, hệ thống các
công trình ven biển; dòng chảy các con sông có thủy điện bị ảnh hưởng. Ngoài ra,
nhiệt độ tăng cao sẽ tăng chi phí thông gió, làm mát các hầm lò, giảm hiệu suất của
các nhà máy điện; tiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng...
e) Tác động đối với sức khỏe con người
Nhiệt độ tăng lên làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người,
dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh
thần kinh. Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc vectơ truyền nhiễm theo mùa.
Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của
con người. BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất
huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật
chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan.
1.2.2. Cơ sở lý luận
Pháp luật về BĐKH ở Việt Nam được hình thành dựa trên cơ sở lý luận là
các quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề này dưới các hình thức Nghị quyết
của Đảng, các chính sách, chiến lược về Biến đổi khí hậu. Nội dung các chính sách
của Đảng và Nhà nước sẽ được luật hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật như:
luật, pháp lệnh, các nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư,
Thông tư liên tịch. Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của vấn
đề BĐKH cũng như ƯPBĐKH, Đảng và Nhà nước đã ban hành những chính sách
chính, kinh tế, hình sự… về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm đủ
sức răn đe. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật.
+ Nghiên cứu kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện cơ chế, chính sách huy
động có hiệu quả mọi nguồn lực theo hướng tổng hợp, thống nhất, tập trung đầu
mối, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng
17
chéo trong quản lý nhà nước về ƯPBĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; cơ chế, chính sách khuyến
khích xã hội hoá; cơ chế để nhân dân giám sát có hiệu quả việc quản lý khai thác tài
nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH.
+ Thực hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp và người
dân tham gia hoạt động ƯPBĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; hỗ trợ
người dân trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển,
người dân bị ảnh hưởng do khai thác tài nguyên thái quá.
+ Có lộ trình đến năm 2020 xoá bỏ cơ chế, chính sách hỗ trợ giá đối với
nhiên liệu hoá thách; thực hiện bù giá 10 năm đầu đối với các dự án phát triển năng
lượng mói, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế chất thải, sản xuất điện từ
chất thải.
Để triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 23 tháng 01 năm 2014, Chính
phủ đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực
hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08/NQ-CP.
Nghị quyết xác định nhiệm vụ trọng tâm về ƯPBĐKH gồm:
- Xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ
thiên tai, thích ứng với BĐKH;
- Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường,
ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng;
- Gỉảm nhẹ phát thải KNK; tăng cường khả năng hấp thụ KNK của các hệ