HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN QUANG ANH
HOàN THIệN CƠ CHế PHáP Lý NHÂN DÂN
KIểM SOáT QUYềN LựC NHà NƯớC ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh
: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s
: 62 38 01 01
TểM TT LUN N TIN S LUT HC
H NI - 2015
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: GS.TS. Trần Ngọc Đường
Phả n biệ n 1:
Phả n biệ n 2:
Phả n biệ n 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và
Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát quyền lực nhà nước là một yếu tố cấu thành khách quan của hoạt động
thực thi quyền lực nhà nước- có quyền lực thì tất phải có kiểm soát quyền lực để quyền
lực không trở thành tuyệt đối. Khi mặc nhiên thừa nhận quyền lực nhà nước bắt nguồn
từ nhân dân, của nhân dân, không để xảy ra việc dân trao quyền rồi mất quyền thì tất yếu
nghiên cứu.
2
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát
quyền lực nhà nước, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ
giữa các yếu tố cấu thành cơ chế, vai trò, mục đích, tiêu chí hoàn thiện cơ chế pháp lý
nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước; nội dung và phương thức hoạt động của cơ chế
pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước; khảo sát cơ chế pháp lý nhân dân kiểm
soát quyền lực nhà nước ở một số nước và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Phân tích lịch sử hình thành, phát triển của cơ chế thông qua các thể chế; đánh giá
tổ chức, hoạt động của các thiết chế và các điều kiện bảo đảm vận hành cơ chế; chỉ ra
những hạn chế và nguyên nhân hạn chế.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát
quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát
quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước này là
Nhân dân - chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước.
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
Luận án này chỉ nghiên cứu về hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân với tư cách là
người chủ quyền lực nhà nước tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, Luận
án có đề cập đến mối quan hệ giữa các chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước trong tổng
thể cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin. Về phương pháp cụ thể,
Luận án sử dụng: Phương pháp phân tích tài liệu; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp
dạy ở Việt Nam.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả đã công
bố liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước
- Sách chuyên khảo: "Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực
trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do tác giả Trần Ngọc
Đường chủ biên. Cuốn sách: Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi
Hiến pháp năm 1992”, của tác giả Trần Ngọc Đường. Cuốn sách: Giám sát và cơ chế
giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay do Đào Trí Úc - Võ
Khánh Vinh đồng chủ biên. Cuốn sách: Quyền lực nhà nước và quyền công dân của tác
giả Đinh Văn Mậu. Cuốn sách “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước"của tác giảNguyễn Đăng
Dung. Sách chuyên khảo “Kiểm soát quyền lực nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực
4
tiễn ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Trịnh Thị Xuyến. Sách chuyên khảo “Tổ chức và
kiểm soát quyền lực nhà nước" của tác giả Thái Vĩnh Thắng.
- Luận án tiến sĩ Luật học của Trương Thị Hồng Hà về Hoàn thiện cơ chế pháp lý
đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng Về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư
pháp ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên, cơ bản thống nhất quan điểm quyền lực nhà nước
có nguồn gốc từ nhân dân, thuộc về nhân dân; để phục vụ nhân dân, chống sự tha hóa thì
phải có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các tác giả đều cho rằng đây là vấn đề mới, rộng,
phức tạp nhưng là tất yếu, khách quan trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, những yêu cầu của việc kiểm soát quyền
lực nhà nước, cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện ở Việt Nam…
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Hiện nay, hầu hết các nước dân chủ tư sản đều xây dựng mô hình nhà nước theo
nguyên tắc phân quyền và cơ chế kiểm soát được xác định ngay trong cơ cấu tổ chức nhà
nước. Cơ chế này do chính các nhánh quyền lực kiểm soát lẫn nhau trên cơ sở quy định
của hiến pháp, pháp luật, không để nhánh quyền nào được độc chiếm, chi phối quyền lực
của các nhánh còn lại. Ngoài ra, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước còn được xác định
từ các thiết chế bên ngoài nhà nước. Đó là những hạt nhân hợp lý đã được vận dụng trên
thế giới có hiệu quả cần được nghiên cứu nghiêm túc và vận dụng hợp lý ở Việt Nam.
Bên cạnh lý thuyết phân quyền, nhiều nhà tư tưởng cho rằng quyền lực nhà nước là
tập trung, thống nhất được tạo lập từ sự ủy quyền của nhân dân do đó, nhân dân phải làm
chủ quyền lực nhà nước thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện để kiểm
soát, giới hạn quyền lực nhà nước. Tiêu biểu là các ông trình của các tác giả sau: Cuốn
Bàn về tinh thần pháp luật của Montesquieu. Cuốn Bàn về khế ước xã hội của Jean
jacques Rousseau. Cuốn Bàn về tự do của John Stuart Mill (1806-1873). Dahl, Robert A.
(1989), Dân chủ và những hạn chế của nó (Democracy and Critics). Alvin Toffler với: Cú
sốc tương lai, Làn sóng thứ ba, Thăng trầm quyền lực và cuốn Sự đụng độ của những nền
văn minh của Samuel Huntington.
Một số công trình đã nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ các thể
chế, lực lượng xã hội như: các đảng phái chính trị, hội, hiệp hội, nhóm lợi ích, các tổ chức
xã hội công dân, các phương tiện thông tin đại chúng… Ngoài ra, nhiều công trình đặt vấn
đề tạo môi trường cho kiểm soát quyền lực nhà nước như: nhân quyền, tự do, dân chủ,
công khai, minh bạch Tiêu biểu là các công trình của Kriegel và Blandine (1995), Nhà
nước và nhà nước pháp quyền (The state and the rule of law); Stapenhurst Rick, Kpundeh
Sahr (1999), Kiềm chế tham nhũng- Hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch quốc
gia (Curbing corruption: Toward a model for building national integrity); Micheal
J.Sodaro (2000), Chính trị so sánh- Một giới thiệu mang tính toàn cầu.(Comparative
politics- A global introduction).
2.1. KHÁI NIỆM, CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC
YẾU TỐ CẤU THÀNH CƠ CHẾ, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH, TIÊU CHÍ HOÀN THIỆN CƠ
CHẾ PHÁP LÝ NHÂN DÂN KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
2.1.1. Khái nim c ch pháp lý nhân dân kim soát quyn lc nhà nc
Đối với khoa học luật học nước ta, khái niệm cơ chế pháp lý mới ra đời nhằm giải
quyết một số vấn đề thực tiễn trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Theo đó, cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng thể của
các yếu tố thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm có mối quan hệ hữu cơ, tương tác
lẫn nhau nhằm xác lập những quyền và khả năng để nhân dân là chủ thể thực hiện kiểm
soát quyền lực nhà nước có hiệu quả.
7
Cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, là cơ chế "bên ngoài", mang tính chính trị và xã hội, tính đạo lý và tính
pháp lý.
Thứ hai, chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước trong cơ chế này là nhân dân. Nhân
dân kiểm soát quyền lực nhà nước với vị thế của người chủ quyền lực, do đó không bị
ràng buộc bởi ý chí chủ quan của bất kỳ cơ quan, công chức nhà nước nào. Cơ chế do
nhân dân trực tiếp vận hành nên đa dạng về chủ thể và phương thức thực hiện.
Thứ ba, hiệu quả hoạt động của cơ chế phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của các
hình thức, phương thức thực thi dân chủ, sự phát triển của xã hội dân sự.
Thứ tư, cơ chế này chỉ vận hành có hiệu quả trong môi trường dân chủ, pháp quyền
của đất nước và trên cơ sở nguyên tắc công khai, minh bạch của nhà nước
Thứ năm, cơ chế này kết hợp với cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước do các cơ
quan nhà nước thực hiện có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một cơ chế
pháp lý tổng thể.
2.1.2. Các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế
pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
2.1.2.1. Các yế u tố cấ u thành cơ chế pháp lý nhân dân kiể m soát quyề n lự c
nhà nư ớ c
Cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước được cấu thành bởi các yếu
Ba là, điều kiện kinh tế xã hội có vai trò bảo đảm để xây dựng, hoàn thiện và vận
hành cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước có hiệu quả.
Ngoài các điều kiện nói trên, các yếu tố về lịch sử, dân tộc, văn hóa, đạo đức, tôn
giáo, phong tục, tập quán cũng có vai trò nhất định tác động, ảnh hưởng đến từng bộ phận
hay toàn thể cơ chế.
2.1.2.2. Mố i quan hệ giữ a các yế u tố cấ u thành cơ chế pháp lý nhân dân kiể m
soát quyề n lự c nhà nư ớ c
Yếu tố thể chế có vai trò then chốt, là cơ sở, căn cứ pháp lý chi phối việc thiết lập
các thiết chế và xác lập các khả năng, điều kiện bảo đảm cho việc hoàn thiện và hoạt động
của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước. Yếu tố thiết chế có vai trò
hiện thực hoá quy định của thể chế bằng thiết lập cấu trúc tổ chức và hoạt động tương ứng
với cấu trúc hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước. Yếu tố bảo đảm chính trị, pháp lý, kinh
tế- xã hội cho cơ chế hoạt động có vai trò làm căn cứ cho việc xây dựng, hoàn thiện thể
chế, là nguồn lực để các thiết chế duy trì bộ máy và tổ chức hoạt động, đồng thời là cơ sở
và điều kiện để thiết lập, vận hành toàn bộ cơ chế nhằm đạt được mục đích kiểm soát
quyền lực nhà nước. Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
cần phải chú ý đến xây dựng và hoàn thiện cả ba yếu tố trên đồng thời tạo điều kiện để các
yếu tố có mối liên hệ, tác động tích cực, phù hợp với nhau trong toàn bộ cơ chế.
2.1.3. Vai trò ca c ch pháp lý nhân dân kim soát quyn lc nhà nc
Thứ nhất, cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là công cụ,
phương tiện pháp lý cơ bản, hiệu quả nhất góp phần bảo đảm cho nhân dân thực sự là
người chủ của quyền lực nhà nước.
Thứ hai, cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là phương tiện
góp phần đảm bảo cho tính pháp quyền của nhà nước được tăng cường, nhân tố làm cho
nhà nước mạnh.
Thứ ba, cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước có vai trò là
phương tiện phát huy dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, thiết lập mối quan
9
hệ bình đẳng giữa nhà nước và công dân, tổ chức và cá nhân trước pháp luật, trong nhà
nước pháp quyền.
2.2.2. Phng thc hot ng ca c ch pháp lý nhân dân kim soát quyn
lc nhà nc
Một là, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện các quyền dân
chủ trực tiếp do hiến pháp quy định.
10
Hai là, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các tổ chức đại diện như Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận
Ba là, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở thông qua cơ chế " dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
Bốn là, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các phương tiện truyền thông
đại chúng. Các phương tiện truyền thông đại chúng kết hợp với thực hiện tự do ngôn luận,
tự do báo chí, xuất bản là một phương thức quan trọng để nhân dân kiểm soát quyền lực
nhà nước có hiệu quả.
Năm là, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo về các việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước theo Điều 30, Hiến pháp
năm 2013.
Trình tự, thủ tục trong cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
chính là những cách thức được quy định theo một trật tự cụ thể do luật định, qua đó nhân
dân thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước một cách thuận tiện, hiệu quả. Việc luật hóa
phương thức, trình tự, thủ tục có ý nghĩa pháp lý buộc cả chủ thể và đối tượng kiểm soát
đều phải tuân thủ nghiêm túc, tránh được tùy tiện, trùng chéo trong thực hiện.
Hậu quả pháp lý từ hoạt động nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước có yếu tố
xác định tính chịu trách nhiệm của nhà nước trong việc tiếp thu, xử lý những bất cập, thiếu
sót, khuyết điểm theo quy định của pháp luật tùy theo mức độ vi phạm, sai phạm.
2.3. CƠ CHẾ PHÁP LÝ NHÂN DÂN KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở
MỘT SỐ NƯỚC VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM
2.3.1. Cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước một số nước
Nghiên cứu cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước
(Anh, Pháp Mỹ, Nga, Nhật, các nước, châu Á, Bắc Âu ), có thể rút ra một số điểm chung
cơ bản sau đây:
Tiểu kết chương 2: Trên cơ sở làm rõ khái niệm, các yếu tố cấu thành và mối quan
hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế, vai trò, mục đích và tiêu chí của việc hoàn thiện cơ
chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước, Luận án đã đi sâu phân tích nội dung,
phương thức, điều kiện bảo đảm vận hành cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực
nhà nước; phân tích cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của một số
nước, từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
Chương 3
LCH S HÌNH THÀNH PHÁT TRIN VÀ THC TRNG C CH PHÁP LÝ
NHÂN DÂN KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
3.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ CHẾ PHÁP LÝ NHÂN DÂN
KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
* Giai đoạ n 1945-1959
Giai đoạn này, các thiết chế mang tính nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
chưa được quy định cụ thể trong hiến pháp và pháp luật và trên thực tế. Các phương thức
nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước còn ít và không đa dạng. Các yếu tố bảo đảm của
cơ chế còn sơ khai Có thể nói, đây là giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu của cơ
chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
12
* Giai đoạ n 1959-1980
Bối cảnh của đất nước giai đoạn 1959 đến 1975 là đất nước chia làm hai miền với
hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước; năm 1975 đến 1980 đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH.
Thời kỳ này có một số văn bản luật, nghị quyết, nghị định, thông tư với vai trò là
những bộ phận của yếu tố thể chế được ban hành nhằm hiện thực hóa các quyền của nhân
dân, trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước trong chế độ dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, do
điều kiện thời chiến và đặc điểm tổ chức quyền lực nhà nước theo mô hình Xô viết nên
các yếu tố thể chế, thiết chế của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
chưa thực sự được chú trọng xác lập và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
* Giai đoạ n 1980-1992
Hiến pháp năm 1980 được ban hành ở thời kỳ đất nước thống nhất, cả nước đi lên
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp" (Khoản 3, Điều 2). Thừa nhận và quy định vấn đề kiểm soát
quyền lực nhà nước đồng nghĩa với việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước, trong đó có cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước.
Cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013
là cơ sở hiến định để tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, thiết chế và các bảo đảm của cơ
chế, kết hợp với thực hiện dân chủ trực tiếp, nhân dân có những công cụ, phương tiện cần
thiết để tích cực, chủ động thực hiện quyền năng kiểm soát quyền lực nhà nước của mình
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chính mình. Tuy nhiên, thực trạng
thể chế của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước giai đoạn này còn có
những hạn chế sau:
Một là, các quy định trong hiến pháp, pháp luật về trách nhiệm công khai, minh
bạch và hậu quả pháp lý của việc thiếu công khai minh bạch, không bảo đảm quy trình,
thủ tục công khai, minh bạch của các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước còn
thiếu đồng bộ, không đầy đủ, chế tài không đủ mạnh.
Hai là, các quyền của công dân có tính kiểm soát quyền lực nhà nước như: tự do
ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình chưa được luật hóa
đầy đủ, kịp thời khiến việc thực hiện trên thực tế còn tuỳ tiện, hình thức, kém hiệu quả.
Ba là, các quy định của pháp luật để nhân dân với tư cách cá nhân công dân có thể
kiểm soát được hoạt động tư pháp rất hạn chế, ít khả thi…
Bốn là, cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân từ khâu hiệp thương
lựa chọn ứng cử viên đến lập danh sách ứng cử viên thiếu vắng sự giám sát, tham gia trực
tiếp, thực chất của nhân dân.
Năm là, nhân dân với tư cách là cá nhân chưa trực tiếp thực hiện được quyền dân
chủ trực tiếp trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước về hoạt động lập pháp do pháp luật
còn thiếu, chưa đồng bộ, không thuận tiện…
3.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THIẾT CHẾ VÀ CÁC
YẾU TỐ BẢO ĐẢM CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ NHÂN DÂN KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
NHÀ NƯỚC, NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ
3.2.1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của các thiết chế cấu thành cơ chế
đạo luật nào cụ thể hóa nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội, nên Mặt trận Tổ quốc vẫn
chưa thể hiện được đầy đủ tư cách là một thiết chế quan trọng bậc nhất trong cơ chế pháp
lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Các tổ chứ c chính trị - xã hộ i
(1) Công đoàn Việt Nam vừa hoạt động theo hiến pháp, pháp luật vừa hoạt động
theo Điều lệ công đoàn Việt Nam, có hệ thống tổ chức như sau: Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam; Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Liên đoàn lao động
cấp tỉnh, thành phố); Liên đoàn lao động quận, huyện; Công đoàn ngành; công đoàn cơ
sở, nghiệp đoàn, với hơn 7,9 triệu đoàn viên và 114.000 Công đoàn cơ sở. Hoạt động của
Công đoàn Việt Nam gồm có: Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người lao động thông qua các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bộ máy của Công
đoàn phụ thuộc vào nhà nước và chủ doanh nghiệp cho nên tính độc lập, khách quan trong
hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát còn hạn chế. Công tác cán bộ Công đoàn hầu hết là
15
do " chỉ đạo" " sắp xếp" của tổ chức chính trị hoặc của chủ doanh nghiệp nên tính đại diện
cho người lao động không cao.
(2) Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Với tính chất là tổ chức đại diện, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, thanh niên, Đoàn có hệ thống tổ
chức bộ máy rộng khắp từ trung ương đến cơ sở với hơn 6 triệu đoàn viên và gần 7 triệu
hội viên Hội liên hiệp thanh niên. Tuy nhiên, trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà
nước thì vai trò còn chưa rõ, kết quả đạt được không nhiều, nhất là việc kiến nghị xây
dựng, ban hành chính sách, pháp luật về thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.
(3) Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có hệ thống tổ chức gồm 4 cấp: cấp Trung
ương; tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương; huyện/quận/thị xã/thành phố thuộc tỉnh và
cấp tương đương; xã/phường/thị trấn và tương đương, ở cơ sở có các tổ được hình thành
theo địa bàn dân cư. Với lực lượng chiếm trên 50 % dân số và gần 15 triệu hội viên, Hội
đã tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng
giới; thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; tham
gia xây dựng và giám sát thực hiện các chính sách, pháp luật đối với phụ nữ, gia đình, trẻ
em, bình đẳng giới; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, công
chính sách, chương trình, đề án, các dự thảo chính sách, pháp luật do các cơ quan có thẩm
quyền của nhà nước yêu cầu hoặc đặt hàng. Tuy nhiên, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề
nghiệp thể hiện vai trò phản biện độc lập đối với các dự thảo chính sách, pháp luật chưa
được nhiều, có nội dung phản biện chưa sâu, có lĩnh vực còn để trống., nhất là các vấn đề
liên quan trực tiếp đến người dân. Nhiều tổ chức vẫn phụ thuộc nhiều vào sự bao cấp ngân
sách của nhà nước và bị hành chính hóa. Chính sách, pháp luật của nhà nước về lĩnh vực
này có nhiều hạn chế, bất cập.
- Ban Thanh tra nhân dân là hình thức thực hiện dân chủ cơ sở đồng thời là thiết
chế mang tính nhân dân do các tổ chức Mặt trận, Công đoàn tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn
hoạt động nhằm kết hợp chặt chẽ giữa thanh tra nhân dân với thanh tra nhà nước trong
kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các Ban thanh tra nhân
dân ở cơ sở còn nhiều hạn chế do cơ chế thiết lập tổ chức, duy trì hoạt động chưa khoa
học, hợp lý. Một số nơi hoạt động của Ban thanh thanh tra nhân dân còn hình thức.
- Các phư ơ ng tiệ n truyề n thông đạ i chúng là thiết chế mang tính chính trị, xã hội
rộng rãi. Nhân dân sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để biểu thị ý kiến đến
nhà nước. Đó còn là kênh thông tin đa dạng, nhiều chiều cung cấp cho người dân các góc
nhìn, các thông tin về xã hội và hoạt động quyền lực nhà nước qua đó nâng cao khả năng
làm chủ của mình trong mối quan hệ với nhà nước. Các phương tiện truyền thông đại chúng
rộng lớn, đa dạng, có sức hút mạnh và lan toả nhanh, vừa là chủ thể, vừa là công cụ, phương
tiện, diễn đàn của nhân dân trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
Tuy nhiên, tính độc lập, khách quan nhiều mặt còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu
cầu thông tin sự thật, chưa tạo dựng không khí dân chủ, cung cấp phương pháp, cách thức,
kinh nghiệm làm chủ cho người dân.
3.2.2. Thực trạng các yếu tố bảo đảm vận hành của cơ chế pháp lý nhân dân
kiểm soát quyền lực nhà nước
* Thực trạng về môi trường dân chủ, pháp quyền của đất nước để vận hành cơ chế
pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
Hiện nay, môi trường dân chủ, pháp quyền của nhà nước ta đã đạt được quả đạt
được những tiến bộ rõ rệt, điều đó thể hiện trên một số mặt cơ bản sau:
hơn, hiệu lực, hiệu quả hơn so với trước. Tuy nhiên, quan hệ tác động này cũng còn một
số tồn tại sau:
Một là, mối liên hệ giữa thể chế và thiết chế còn có điểm thiếu tính đồng bộ, thể
hiện ở chỗ không phân biệt rành mạch thế nào là tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội- nghề nghiệp Thực tế là chưa phát huy được đầy đủ, hiệu quả của hoạt
động kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội
Hai là, các thiết chế của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
không độc lập về tài chính mà phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, nên hoạt động kiểm
18
soát quyền lực nhà nước thiếu khách quan, thiếu chủ động, nể nang, dễ dãi trong giám sát
và phản biện.
Ba là, các yếu tố về phương thức thực hiện, cụ thể là trình tự, thủ tục, hậu quả pháp
lý của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước thể hiện còn thiếu tính đồng
bộ, một số quy định chưa cụ thể hoặc không thuận tiện nên cơ chế vận hành hiệu lực, hiệu
quả không cao.
Bốn là, mối quan hệ và sự tác động giữa các yếu tố trong cơ chế pháp lý nhân dân
kiểm soát quyền lực nhà nước với cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chưa chặt chẽ, ăn khớp khi vận hành
trong thực tế.
Năm là, các thể chế tuy đã chứa đựng nhiều tư duy mới nhưng chưa đồng bộ, toàn
diện; các tư duy pháp lý cũ chưa được thay đổi căn bản
3.2.3. Những nguyên nhân của hạn chế của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát
quyền lực nhà nước ở Việt Nam
- Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, cả chủ thể lẫn đối tượng trong cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền
lực nhà nước đều chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tác dụng của cơ chế pháp lý nhân dân
kiểm soát quyền lực nhà nước.
Thứ hai, tổ chức quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam vẫn
chịu ảnh hưởng nhất định của mô hình Xô viết khiến việc thiết kế cơ chế còn chậm đổi mới.
Thứ ba, hệ thống pháp luật được xây dựng, ban hành tuy đã được đổi mới nhưng
dựng nhà nước mạnh hơn, vai trò nhà nước rõ hơn và thực sự vì dân
4.1.2. Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước phải đi
đôi với việc phát huy dân chủ, xây dựng môi trường công khai, minh bạch
4.1.3. Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước trước hết
là để nhà nước làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn được nhân dân giao quyền, ủy
quyền, quản lý xã hội có hiệu lực và hiệu quả
4.1.4. Đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế
pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước
4.1.5. Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước phải phù
hợp với đòi hỏi hội nhập quốc tế của đất nước
4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ NHÂN DÂN KIỂM
SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
4.2.1. Giải pháp hoàn thiện thể chế của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát
quyền lực nhà nước
4.2.1.1. Hoàn thiệ n thể chế xây dự ng và bả o vệ hiế n pháp
Đảm bảo quy trình: Quốc hội đề xuất, soạn thảo dự thảo hiến pháp, thông qua hiến
pháp còn toàn dân thực hiện việc thảo luận hiến pháp và biểu quyết trực tiếp về hiến pháp
(phúc quyết về Hiến pháp). Quy trình xây dựng, ban hành hiến pháp quyết định cơ chế
bảo vệ hiến pháp. Trước mắt cần luật hóa trách nhiệm các cơ quan và cá nhân trong việc
bảo vệ hiến pháp.
4.2.1.2. Hoàn thiệ n thể chế về sự lãnh đạ o củ a Đả ng
Đảng là chủ thể lãnh đạo nhà nước và xã hội nên Đảng không đứng ngoài hiến
pháp và pháp luật. Vì vậy, trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Cương lĩnh chính trị, quy
20
định của Điều lệ Đảng, các nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp
hành Trung ương cần xây dựng, ban hành Luật về sự lãnh đạo của Đảng. Luật đó, cần
quy định về tổ chức bộ máy và phương thức lãnh đạo của Đảng, cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước của Đảng.
4.2.1.3. Xây dự ng các thể chế nhằ m phát huy vai trò củ a Mặ t trậ n và các đoàn
thể chính trị - xã hộ i, tổ chứ c xã hộ i - nghề nghiệ p trong hoạ t độ ng kiể m soát quyề n
khi quyết định cần phải có sự tham gia tư vấn, thẩm định, phản biện của các tổ chức này.
21
4.2.1.4. Xây dự ng và hoàn thiệ n các thể chế toàn dân và cá nhân công dân thự c
hiệ n kiể m soát quyề n lự c nhà nư ớ c
- V quyn ng c và bu c ca công dân, cn hoàn thin mt s ni dung trng
tâm sau:
Một là, cần sớm sửa đổi Luật bầu cử đại biểu Quốc hội theo hướng mở rộng khả
năng lựa chọn của cử tri đối với các ứng cử viên trên một đơn vị bầu cử . Hai là, phải đổi
mới cơ cấu đại biểu Quốc hội theo hướng tăng đại biểu chuyên trách, giảm số đại biểu
kiêm nhiệm; tăng đại biểu là các nhà khoa học, các nhân sĩ trí thức, đại diện các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, những người có uy tín và
đại biểu các địa phương. Ba là, phải tạo niềm tin của cử tri, nhân dân về tính dân chủ,
khoa học, khách quan, công bằng và trung thực của bầu cử. Bốn là, sớm ban hành văn bản
pháp luật riêng về chế độ bãi nhiệm đại biểu dân cử, trong đó quy định rõ về điều kiện,
trình tự, thủ tục bãi miễn để việc thực hiện được rõ ràng, thuận tiện. Năm là, cần mở rộng
phạm vi các chức danh được thành lập bằng con đường bầu cử để phát huy hơn nữa quyền
thực hiện dân chủ trực tiếp của nhân dân.
- Xây dựng pháp luật về trưng cầu ý dân và Luật tham vấn ý kiến nhân dân
+ Cần xây dựng ban hành Luật trưng cầu ý dân để nhà nước nắm được nhu cầu,
quan điểm của nhân dân, để nhân dân quyết định những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự
phát triển của đất nước.
+ Cần nghiên cứu xây dựng Luật về tham vấn ý kiến nhân dân để phát huy trực
tiếp, toàn diện hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, nhất là ở cấp địa phương. Tham vấn
ý kiến nhân dân càng rộng rãi, càng nhiều vấn đề thì việc quyết định chính sách, pháp luật
càng chặt chẽ, xác đáng. Không chỉ giới hạn tham vấn ý kiến nhân dân khi xây dựng chính
sách, pháp luật hay trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng mà cần tham vấn ý kiến nhân
dân về cả quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật để bổ sung, hoàn thiện chính
sách, pháp luật.
- Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
Hoàn thiện các quy định về: bảo vệ bí mật, bảo vệ nhân chứng, bảo vệ người khiếu
hướng tinh gọn, thiết thực, hiệu quả.
Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị theo hướng phân định rõ chức năng chính trị của Đảng và chức năng thực
thi luật pháp của nhà nước; chức năng cầm quyền và chức năng quản lý nhà nước
- Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
chính trị - xã hội
Một là, không coi những người làm việc trong các tổ chức chính trị-xã hội là công
chức, viên chức nhà nước để các tổ chức chính trị-xã hội bảo đảm được tính độc lập,
khách quan trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước. Hai là, các tổ chức chính trị
- xã hội phải tự chủ, độc lập trong việc xây dựng tổ chức bộ máy của mình. Ba là, phải
có cơ chế để Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
nguồn lực hoạt động thông qua chức năng của mình như: tư vấn, phản biện các vấn đề
mà tổ chức đó có chuyên môn
- Hoàn thiện các thiết chế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp
Để đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp cần tập trung vào một số giải pháp sau:
23
Một là, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp cần xây dựng theo mô hình các tổ chức xã
hội dân sự. Nhà nước chỉ ban hành thể chế và thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo
pháp luật. Hạn chế, tiến tới bãi bỏ các hình thức bao cấp của nhà nước cho các tổ chức đó,
trừ phi việc tài trợ, hỗ trợ có mục đích phục vụ cho dân sinh, dân chủ và lợi ích cộng đồng
mà tổ chức đó đảm nhận theo yêu cầu của nhà nước. Hai là, chấm dứt sự can thiệp sâu
của tổ chức chính trị và nhà nước vào việc nội bộ của các tổ chức đó để đúng nghĩa là tổ
chức tự nguyện, tự chủ và tự quản của nhân dân. Ba là, nhà nước cho phép thành lập và
hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự tham gia đảm trách một số dịch vụ công, chính sách công.
- Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng
Để các phương tiện truyền thông đại chúng phát huy hơn nữa vai trò là một thiết chế
nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước thì cần phải thực hiện một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh hơn nữa việc truyền hình trực tiếp các cuộc họp quan trọng của
các cơ quan nhà nước, các phiên tòa xét xử, các hoạt động giám sát và các sự kiện được