Luận án tiến sĩ thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở việt nam - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhu cầu tất yếu trong quá trình tổ
chức thực thi quyền lực nhà nước, là yếu tố trung tâm của nhà nước pháp
quyền. Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng quyền lực nhà nước phải được kiểm
soát, không thể để quyền lực tuyệt đối không giới hạn. Bất kỳ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào khi được giao sử dụng quyền lực nhà nước đều phải chịu sự
kiểm soát để không xảy ra các tệ nạn độc quyền, cửa quyền, đặc quyền, lạm
quyền, tiếm quyền,… làm tha hoá bản chất và mục đích ban đầu của quyền
lực nhà nước.
Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay đang đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức, như: tham nhũng chưa
bị đẩy lùi; dân chủ có lúc, có nơi bị vi phạm; kỷ cương, kỷ luật ở một số cấp,
một số lĩnh vực không nghiêm. Nhiều biểu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội
đang có xu hướng đi ngược lại với tôn chỉ, mục đích mà Đảng, Nhà nước ta
hướng đến là xây dựng một Nhà nước phục vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với
Nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của Nhân dân, tôn trọng, lắng
nghe ý kiến của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân, có cơ chế và
biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,
vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân.
Mặt khác, chúng ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới toàn diện, hội nhập sâu rộng, theo đó giải
quyết mối quan hệ nhà nước - thị trường - xã hội trong các lĩnh vực phát triển
ngày càng trở nên quan trọng. Chúng ta cũng đang xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa mà trong đó các quyền con người, quyền công dân phải được
bảo đảm, Nhà nước phải là nhà nước “có trách nhiệm”, nhà nước “kiến tạo

1


phát triển”. Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn, kiểm soát quyền lực nhà nước

Những phân tích nêu trên cho thấy nghiên cứu “Thể chế pháp lý về
kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” hiện nay là vấn đề thực sự cấp
thiết. Qua tìm hiểu, Nghiên cứu sinh nhận thấy có nhiều nghiên cứu về quyền
lực nhà nước và những cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, song nghiên
cứu toàn diện về thể chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta thì
chưa thực sự được chú ý. Do đó, Nghiên cứu sinh đã đề xuất và được chọn đề
tài: “Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” để thực
hiện Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thể chế pháp lý kiểm
soát quyền lực nhà nước; khái quát sự hình thành, phát triển, đánh giá được
thực trạng và nêu ra những bất cập của thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực
nhà nước ở Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó xác định những yêu cầu và kiến
nghị giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở
Việt Nam thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những nội dung lý luận về thể chế pháp lý kiểm soát quyền
lực nhà nước, như: khái niệm, vai trò, đặc điểm, nội dung, hình thức, các bộ
phận hợp thành thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam;
trình bày một số kinh nghiệm có giá trị qua tham khảo thể chế pháp lý về
kiểm soát quyền lực nhà nước của một số nước trên thế giới.
- Khái quát quá trình hình thành, phát triển thể chế pháp lý về kiểm soát
quyền lực nhà nước ở Việt Nam trên nền tảng các bản hiến pháp đã có trong
lịch sử lập hiến nước ta; tập trung đánh giá thực trạng thể chế và việc thực
hiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước theo các quy định của
Hiến pháp năm 2013.

3




- Phương pháp hệ thống, liên ngành: Đặt đối tượng nghiên cứu trong
mối quan hệ có tính chỉnh thể, biện chứng, khách quan, kết hợp thành tựu
nghiên cứu của nhiều ngành (xã hội học, chính trị học, luật học,...) để luận
giải đa diện, đa chiều về đối tượng nghiên cứu. Phương pháp này áp dụng chủ
yếu trong Chương 2 của Luận án.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp các số
liệu, tri thức có được từ hoạt động nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn chuyên gia
nhằm đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuất của tác giả luận án. Phương
pháp này được áp dụng chủ yếu trong Chương 3 và Chương 4 của Luận án.
- Phương pháp luật học so sánh được vận dụng trong nghiên cứu thể
chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước; rút ra những
kinh nghiệm có thể áp dụng phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của Việt Nam.
Phương pháp này thể hiện tập trung ở mục 2.3, Chương 2 của Luận án.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các vấn đề lý luận về thể chế
pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước; thực tiễn xây dựng, áp dụng thể chế
pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đây là đề tài có phạm vi rộng, do đó, trong khuôn khổ Luận án này, tác
giả xác định phạm vi nghiên cứu chủ yếu là thể chế pháp lý về kiểm soát
quyền lực nhà nước được quy định trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959,
1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); tập trung vào thể chế pháp lý được
xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và một số luật mới ban hành trong
thời gian gần đây ở nước ta.
5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
- Luận án đã bổ sung, xây dựng được cơ sở lý luận về thể chế pháp lý
kiểm soát quyền lực nhà nước một cách khoa học, hệ thống và toàn diện: làm

6


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về quyền lực nhà nước
Tại Việt Nam, quyền lực nhà nước (QLNN) thuộc đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành: luật học, chính trị học, hành chính học, triết học,... Vì
vậy, QLNN được quan tâm luận giải dưới nhiều góc độ, qua đó đã góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề, như: khái niệm, ngu n gốc, bản chất, cách thức tổ
chức, cơ chế vận hành, các bộ phận cấu thành QLNN. Các kết quả nghiên cứu
về QLNN đã được công bố trong nhiều tác phẩm, tiêu biểu như:
- Sách tham khảo Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà
nước (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) của TS. Nguyễn Minh
Đoan và các tác giả, trong đó đã trình bày: khái quát về QLNN; quyền lực nhà
nước thống nhất và vấn đề phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện QLNN ở Việt Nam; vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam với việc tổ chức thực hiện QLNN; nguy cơ tha hóa QLNN; vấn đề
bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động của nhà nước.
- Sách chuyên khảo Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nhà
xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2009) do GS.TSKH. Đào Trí Úc và
PGS.TS. Phạm Hữu Nghị đ ng chủ biên. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích về
đặc trưng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã cho rằng cần
thiết xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phải bảo đảm sự giám sát
đối với việc thực thi QLNN ở Việt Nam.
Trong giai đoạn chuẩn bị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, nhiều

Thái [124]; “Sự phát triển nhận thức và vận dụng nguyên tắc về tổ chức
quyền lực nhà nước ở nước ta từ năm 1986 đến nay” của PGS,TS. Bùi Xuân
Đức; “Quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân thể hiện xuyên
suốt trong toàn bộ Hiến pháp năm 2013” của TS. Trần Thị Tuyết Mai [123].

8


Gần đây, để góp phần xây dựng văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XII, nhiều quan điểm khoa học về QLNN được quan tâm chia sẻ, trong đó
tiêu biểu là các bài viết tại Hội thảo khoa học “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách về nhà nước và pháp luật trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XII của Đảng” do Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam) tổ chức tại Hà Nội ngày 14-15/7/2015, như: “Nh ng
vấn đề cấp bách trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở
nước ta hiện nay” của GS.TS. Võ Khánh Vinh; “Tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của
GS.TSKH. Đào Trí Úc; “Bàn về nh ng mối liên hệ của quyền lực nhà nước ở
nước ta hiện nay” của PGS.TS. Nguyễn Đức Minh; “Một số vấn đề về quyền
lực nhà nước ở nước ta hiện nay” của PGS.TS. Vũ Thư; “Quan hệ gi a
Đảng và Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của
PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương; “Tổ chức thực thi quyền lập pháp trong
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của TS. Nguyễn Văn Thuận; “Tổ
chức thực thi quyền hành pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”
của TS. Nguyễn Văn Tuấn; “Tổ chức thực thi quyền tư pháp trong Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam” của TS. Phạm Thị Hương Lan …[122].
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà
nước
Cho đến nay, nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước (KSQLNN)
ở nước ta đã có khá nhiều, cả dưới góc độ chung và đi vào từng cơ chế, hình

lực nhà nước Việt Nam hiện nay” của PGS.TS. Vũ Thư, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 12, năm 2006; “Kiểm soát quyền lực nhà nước bằng hệ thống
Viện Kiểm sát ở Việt Nam trong bối cảnh s a đổi Hiến pháp hiện nay” của
GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Tạp chí Kiểm sát, số 13, năm 2012; "Kiểm soát của
Trung ương đối với chính quyền đ a phương ở một số nước trên thế giới” của
TS. Nguyễn Thị Thu Vân, trên trang: www.caicachhanhchinh.gov.vn…
Sau khi Hiến pháp năm 2013 chính thức khẳng định yếu tố kiểm soát
trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta, đã có nhiều tác giả
phân tích sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của các cơ quan nhà nước trong cơ chế
KSQLNN, như các bài viết: “Quốc hội trong cơ chế phân công phối hợp và
13


kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” của TS. Hoàng Minh Hiếu;
“Chính phủ trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước” của TS. Dương
Thanh Mai; “Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong cơ chế phân
công phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của
PGS,TS. Trương Thị H ng Hà [123];…
* Những nghiên cứu về KSQLNN từ bên ngoài bộ máy nhà nước:
- Kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhân dân:
+ Sách chuyên khảo: “Cơ chế giám sát của Nhân dân đối với hoạt động
của bộ máy đảng và nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, do
GS.TSKH. Đào Trí Úc chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010). Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu của nhiều tác giả về cơ chế
giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước. Các
tác giả tập trung phân tích khoa học, có hệ thống về bản chất nền dân chủ
XHCN và yêu cầu xây dựng cơ chế giám sát của Nhân dân đối với hoạt động
của bộ máy Đảng và Nhà nước trong điều kiện một Đảng cầm quyền. Xác
định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ các chủ thể là MTTQ, các tổ chức
thành viên trong cơ chế Nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước cũng như thực

KSQLNN trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt
Nam; làm rõ được khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ
giữa các yếu tố cấu thành cơ chế, vai trò, mục đích, tiêu chí hoàn thiện cơ chế
pháp lý nhân dân KSQLNN; nội dung và phương thức hoạt động của cơ chế;
khảo sát cơ chế pháp lý nhân dân KSQLNN một số nước và rút ra những giá
trị tham khảo cho Việt Nam; khái quát được thực trạng và chỉ ra những hạn
chế, nguyên nhân hạn chế của cơ chế pháp lý nhân dân KSQLNN ở Việt Nam
hiện nay; đề xuất được các quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý
nhân dân KSQLNN ở Việt Nam. Tuy nhiên, luận án mới nghiên cứu một bộ
phận của thể chế pháp lý về KSQLNN là thể chế KSQLNN từ phía Nhân dân,
và chưa coi thể chế như một chỉnh thể mà chỉ dưới quan niệm là một yếu tố
cấu thành trong cơ chế pháp lý nhân dân KSQLNN ở Việt Nam.
15


+ Ngoài ra, các bài viết: “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam vận động Nhân dân thực hiện giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở" của Trần Thanh Bình, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 9 năm 2003;
“Cần tăng cường hơn n a sự kiểm tra giám sát của Nhân dân đối với việc
phòng chống quan liêu tham nhũng hiện nay" của Bùi Thành Phần, Tạp chí
Dân vận, số 01/2005; “Tăng cường hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc
đối với hoạt động của cơ quan nhà nước cán bộ công chức" của GS. Lưu
Văn Đạt, Tạp chí Mặt trận, số 31/2006; “Nâng cao vai trò giám sát của
MTTQ Việt Nam" của tác giả Huỳnh Đảm, Tạp chí Cộng sản, số 792, năm
2008;“Giám sát xã hội trong nhà nước pháp quyền" của Vũ Anh Tuấn, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp số 31(130), 7/2009;... đã góp phần phân tích về các
chủ thể, nội dung, hình thức KSQLNN từ phía nhân dân ở Việt Nam.
- Kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam:
+ Đề tài cấp bộ “Mối quan hệ gi a nhà nước với Đảng Cộng sản trong
Nhà nước pháp quyền Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” (Mã số: CT11-1603) do PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện

hội chủ nghĩa đều thừa nhận nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp, như:
GS.TSKH. Đào Trí Úc (chủ biên, 2007), “Mô hình tổ chức và hoạt động của
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, (Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr.
245); GS.VS. Nguyễn Duy Quý và PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn (đ ng chủ biên,
2008), “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân: Lý
luận và thực tiễn”, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.163).
Ngoài ra, quan điểm ủng hộ việc thành lập Tòa án Hiến pháp được chia
sẻ bởi nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Như Phát và các cộng sự trong
sách “Tài phán Hiến pháp: Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc
tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2011); hay TS. Võ Trí Hảo trong bài “Tài phán Hiến pháp – Nh ng vấn
đề phổ biến, đặc thù quốc gia và mô hình thích hợp cho Việt Nam” (sách

17


Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến
pháp, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội, 2012, tr. 97).
Về các cơ chế bảo hiến khác, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung có bài: “Xây
dựng cơ chế bảo hiến trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam” tại Hội thảo
khoa học do Bộ Tư pháp tổ chức năm 2008 tại Hà Nội. Nhiều ý kiến của các
đ ng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, như: Đỗ Mười (2012), “Góp ý
s a đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo hiến",
Báo Lao động điện tử ngày 17/5/2012 />Như vậy, nghiên cứu về cơ chế bảo hiến, từ chỗ chỉ là bước khởi đầu
tập hợp, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, đã trở thành bộ phận không thể
thiếu, có ý nghĩa quan trọng trong các nghiên cứu về KSQLNN ở nước ta.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về thể chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước
* Những vấn đề lý luận về thể chế, thể chế pháp lý KSQLNN:
Về thể chế, một số sách báo chuyên ngành, đề tài nghiên cứu, hội thảo

lý về kiểm soát quyền lực nhà nước, song cuốn sách chứa đựng nhiều nội
dung tham khảo có giá trị cho Luận án.
Về thể chế pháp lý KSQLNN, gần đây có một số nhà khoa học đã trình
bày quan niệm về thể chế trong cơ chế KSQLNN. Tiêu biểu như: Đề tài cấp
bộ: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước trong vệc thực hiện các quyền lập pháp hành pháp tư pháp ở
nước ta, do GS.TS. Trần Ngọc Đường làm Chủ nhiệm (Văn phòng Quốc hội
đã nghiệm thu năm 2015). Hai bài viết: “Về các yếu tố cấu thành của cơ chế
kiểm soát quyền lực nhà nước” và “Quan niệm về kiểm soát và cơ chế kiểm
soát quyền lực nhà nước” của PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan, PGS.TS. Vũ Thu
Hạnh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật), số
7/2014 và số 9/2014. Mặc dù không đề cập trực tiếp, toàn diện các vấn đề lý
luận về thể chế pháp lý KSQLNN, song những công trình nêu trên đã thừa
19


nhận thể chế pháp lý là một bộ phận có vị trí, vai trò quan trọng, nền tảng
trong cơ chế pháp lý KSQLNN, và gợi mở cho Nghiên cứu sinh hướng đi sâu
nghiên cứu về thể chế pháp lý KSQLNN.
* Những nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thể chế pháp lý
KSQLNN
- Sách Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? của tác giả Nguyễn
Cảnh Bình (Nhà xuất bản Thế giới, tái bản lần thứ 4, năm 2013). Cuốn sách
có cách tiếp cận về lịch sử lập hiến nước Mỹ khá toàn diện và lối viết dễ hiểu,
góp phần giải thích ý nghĩa của bản Hiến pháp Mỹ, và còn giúp người đọc
hiểu được quá trình xây dựng một đạo luật quan trọng nhất ở Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ. Những lập luận, tranh luận của những người được mệnh danh là cha
đẻ của bản Hiến pháp Mỹ, những nội dung của Hiến pháp này và bản Tuyên
ngôn nhân quyền của nước Mỹ đã cho thấy nhiều kinh nghiệm về xây dựng
thể chế pháp lý KSQLNN ở một nước tư sản phát triển hàng đầu hiện nay.

cập trực tiếp đến pháp luật về KSQLNN, nhất là trong các nghiên cứu về thực
trạng thể chế và kiến nghị giải pháp hoàn thiện thể chế.
- Sách chuyên khảo: S a đổi bổ sung Hiến pháp 1992: Nh ng vấn đề
lý luận và thực tiễn, tập 1: Những vấn đề chung về Hiến pháp và bộ máy nhà
nước, tập 2: Quyền công dân, quyền con người, chế độ kinh tế, bảo hiến và
một số vấn đề khác. Sách của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung
tâm thông tin thư viện và Nghiên cứu Khoa học, Văn phòng Quốc hội do
Phạm H ng Thái, Nguyễn Sỹ Dũng, Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao,
Hoàng Minh Hiếu, Đặng Minh Tuấn đ ng chủ biên (Nhà xuất bản H ng Đức,
Hà Nội, 2012). Cuốn sách tập hợp 76 bài nghiên cứu chọn lọc của nhiều nhà
luật học đầu ngành và nhà nghiên cứu của Việt Nam về những vấn đề cơ bản
của Hiến pháp. Trong đó, đáng lưu ý là Phần II Tổ chức và kiểm soát quyền
lực nhà nước, với các bài viết: Kiểm soát gi a các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp hành pháp tư pháp của GS.TS Phạm
H ng Thái; Kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp của Nguyễn Đức Lam;...
21


- Sách “Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nền
tảng chính tr pháp lý cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước” do Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp – Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Uỷ ban thường vụ
Quốc hội (Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội, 2014); trong đó, có nhiều
bài viết có giá trị tham khảo rất hữu ích, tiêu biểu như: Các bài viết trong
Phần thứ nhất: Những vấn đề chung về Hiến pháp: Ý nghĩa của quy đ nh về
Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp năm 2013 của PGS, TS. Nguyễn
Minh Đoan; Nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 2013
của PGS, TS. Đinh Xuân Thảo; Hiến pháp năm 2013: Cơ hội và thách thức
cải cách thể chế nhà nước của PGS,TS. Vũ Công Giao; Luật hoá việc kiểm
soát quyền lực nhà nước của nhân dân theo Hiến pháp năm 2013 của
PGS,TS. Lê Văn Hoè và Ths, LS. Lê Việt Nga; Quyền giám sát của Nhân dân

của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam. Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện
Kiểm sát, Chủ tịch nước, các cơ quan chính quyền địa phương trong cơ chế
pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam.
Đây là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho đề tài Luận án.
- Bên cạnh đó có một số bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
như: “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và một số kiến giải lập hiến
trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”, của GS.TSKH.
Lê Văn Cảm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 06(2012); bài viết “Bàn thêm
về kiểm soát quyền lực nhà nước với việc s a đổi Hiến pháp năm 1992”, Tạp
chí Quản lý nhà nước, số 08, 2012, của Nguyễn Bái Chiến; bài viết “Kiểm
soát quyền lực nhà nước với việc s a đổi Hiến pháp năm 1992”, của PGS.TS.
Nguyễn Minh Đoan, Tạp chí Luật học, 08,2012; bài viết “Hiến pháp phải là
văn bản kiểm soát quyền lực nhà nước”, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, 04
(2012) của GS. TS Nguyễn Đăng Dung;…
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

Kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề được đề cập từ rất sớm trong
lịch sử các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới. Thời kỳ cổ đại,
23


Aristotle đã đưa ra phương án phải phân chia quyền lực để kiểm soát lẫn nhau
trong tác phẩm “Chính tr luận” (The politics). Thời kỳ cận đại, trong tác
phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” (Two treasures of government),
J.Locke cho rằng trong thể chế chính trị tự do, quyền lực tối cao phải được
phân chia cho các tổ chức, cá nhân nắm giữ, không được tập trung trong tay
một người hay tổ chức nào. Đến Montesquieu thì lý thuyết phân quyền cơ bản
được định hình rõ nét. Lý thuyết đó là một phát kiến quan trọng của nhân loại
trong lĩnh vực chính trị - pháp lý và là một trong các nguyên tắc căn bản trong
Hiến pháp của nhiều quốc gia cho đến ngày nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status