MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
"Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều là của dân, chính quyền từ
xã đến Chính phủ đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử
ra, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương do dân tổ chức ra. Nói tóm lại quyền hành và
lực lượng đều ở nơi dân" [47, tr. 698],
Luận điểm trên thể hiện những vấn đề căn bản nhất đó là: Nhà nước do dân thiết lập
và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành quyền lực nhà nước. Quyền lực đó
thể hiện ý chí của nhân dân được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà nước,
trong đó có độc quyền bộ máy cưỡng chế, trấn áp và hệ thống quy phạm pháp luật.
Được sự ủy quyền của toàn thể nhân dân, nhà nước trở thành một bộ máy có quyền
lực rất lớn, độc lập với xã hội. Trong xã hội có giai cấp khi quyền lực nhà nước không được
kiểm soát, nhà nước sẽ là cơ quan đứng trên xã hội, xa lạ với xã hội, trở thành một lực
lượng ăn bám xã hội, trong nhiều thời kỳ nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát triển
của xã hội.
ở nước ta hiện nay, ở nơi này, nơi khác đã xuất hiện nguy cơ Đảng và Nhà nước
không còn là của dân, vói những biểu hiện là một số cán bộ công chức nắm quyền lực được
nhân dân ủy thác lại xa dân, xa cấp dưổi, xa cơ sở, không chủ động phục vụ nhân dân vô
điều kiện mà chỉ lo làm ăn phát tài, lo thăng quan tiến chức, đánh mất bản chất cách mạng
chân chính của mình.
Một số tài sản quốc gia và của nhân dân bị bọn tham nhũng những kẻ vô trách
nhiệm phần lổn là nắm quyền lực chiếm đoạt và làm thất thoát. Có những vụ ăn cắp tài sản
quốc gia hàng ngàn tỷ đổng, một số không ít nắm quyền lực nhà nước đã và đang tiếp tục
làm giàu bất chính, gây hậu quả xấu cho xã hội, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước vói nhân dân.
Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ấy là do quyền lực nhà nước mà
biểu hiện cụ thể là một số kẻ có chức, có quyền đã lạm dụng quyền lực nhà nước để mưu
cầu lợi ích riêng. Nói cách khác là quyền lực nhà nước không được kiểm soát đầy đủ.
thể của công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà
nước ta ở cả cấp Trung ương và tỉnh, thành. Một số công trình như "Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa" của Bộ Tư pháp, "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay"
của Khoa Nhà nước và Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cũng đã đề
cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực.
Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếp cận và phương pháp luật học (khoa học
pháp lý) đã phân tích từng hoạt động cụ thể của việc thực hiện các chức năng như giám sát
của Quốc hội và HĐND, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), thanh tra, kiểm tra
của Chính phủ... Những công trình này đã đưa ra được các đánh giá khái quát, các giải pháp
mang tính định hướng chung của việc kiểm soát quyền lực, nhưng chưa đi sâu luận chứng
hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta.
Đề tài mà tác giả chọn tập trung đi sâu vào hệ thống tổ chức và hoạt động kiểm soát
quyền lực nhà nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1.
3
Mục đừh
Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà
nước ở nước ta hiện nay.
3.2.
Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa một cách khái quát các quan điểm, lý thuyết, các khái niệm, phạm
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
-
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và thực thi quyền lực nhà nước, về công tác kiểm tra,
kiểm soát.
-
Vận dụng lý luận về kiểm soát quyền lực của các nhà tư tưởng chính tri trên
thế giới, đặc biệt là các tư tưởng thòi đại khai sáng về tổ chức quyền lực nhà nước và kiểm
soát quyền lực nhà nước.
-
Các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức và hoạt động của
các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền lực nhà nước.
-
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, lôgic, phân tích, thống kê, tổng
hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn và một số phương pháp chuyên ngành và liên ngành khác.
6.
Cái mới và ý nghĩa của luận văn
4
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết.
Chương 1
KIỂM SOÁT QUYỂN Lực NHÀ NƯỚC MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THựC
TIEN
1.1. KIỂM SOÁT QUYỂN Lực LÀ YÊU CẦU TẤT YẾU KHÁCH QUAN
1.1.1.
Khái niệm quyền lực nhà nước - kiểm soát quyền lực nhà nước
- Quyền lực Nhà nước:
Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, xuất hiện từ khi xã hội loài người bị
phân chia thành những giai cấp đối kháng.
Quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực chính trị và là trung tâm
của quyền lực chính trị, được hình thành thông qua cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành
quyền tổ chức nhà nước và thực hiện chức năng thống trị xã hội.
5
Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước, trong đó có việc tổ chức và việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Đồng thời còn được bảo đảm bằng các phương tiện độc quyền như luật pháp, và bộ máy
cưỡng chế chuyên nghiệp quân đội, cảnh sát, nhà tù...
ở đây cần thấy rằng, quyền lực nhà nước mang tính chính trị, nhưng không phải mọi
quyền lực chính tri đều là quyền lực nhà nước. Quyền lực chính tri rộng hơn, đa dạng hơn
về phương thức thực hiện cũng như hình thức thể hiện, có nhiều cấp độ hơn về cơ cấu của
chủ thể quyền lực.
dài suốt thời kỳ trung cổ thực sự là mảnh đất cho sự lộng hành, cản trở sự phát triển xã hội.
Để xóa bỏ rào cản đi đến tự do, dân chủ đã buộc các nhà tư tưởng phải tìm ra các giải pháp
cho sự tiến bộ xã hội, học thuyết phân quyền mà trường phái khai sáng đề xướng đến nay
vẫn là những chỉ dẫn cho việc kiểm soát quyền lực ở các quốc gia mà nhà nước chưa thực
sự là của dân, nhân dân chưa có đủ điều kiện để kiểm soát hữu hiệu quyền lực nhà nước.
Kiểm soát quyền lực từ tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền có
những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: Sự phân ra rành mạnh về chức năng và nhân sự, cùng với cơ chế kìm chế,
đối trọng vừa có tác dụng đề cao trách nhiệm cá nhân, tính độc lập sáng tạo của cá nhân
trong thực thi quyền lực nhà nước vừa hạn chế khả năng lạm quyền và tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát giác sự lạm quyền.
Thứ hai: Ở mức độ nhất định cơ chế phân quyền đảm bảo tính độc lập của cơ quan
xét xử.
Thứ ba: Cơ chế kìm chế đối trọng là một trong những
8 đảm bảo (ở mức độ nhất định)
hiệu lực của hiến pháp.
Xuất phát từ ưu điểm trên đây, các nước tư bản hiện đại đã áp dụng học thuyết phân
chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình và coi đó là một trong những
nguyên tắc quan trọng nhất, có ý nghĩa cơ sở để đảm bảo dân chủ, tự do, bình đẳng xã hội.
Tuy nhiên cũng cần nói rằng, mặt trái của phân quyền là tranh giành, chia rẽ phân
tán quyền lực nếu không được kiểm soát tốt. Vì vậy, phân quyền vừa có mục đích kiểm soát
quyền lực vừa phải kiểm soát cả sự phân quyền và thực thi quyền lực trong cơ chế phân
quyền.
- Dưổi chế độ XHCN, về nguyên tắc nhân dân có toàn quyền quyết định đối với
quyền lực nhà nước, có toàn quyền kiểm soát quyền lực đó. Thế nhưng các nguyên tắc đó
9
- Phương Đông
Tư tưởng về quyền lực chính tĩị và kiểm soát quyền lực cai trị đáng chú ý nhất trong
trường phái pháp tri Trung Hoa cổ đại, được biểu hiện trong tác phẩm của Hàn Phi Tử, một
"Tập đại thành" gói trọn kinh điển pháp gia. Trong xã hội phong kiến chuyên chế phương
Đông, vua thâu tóm mọi quyền lực nhà nước cả quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, tức
vận mệnh của đất nước đặt cược vào trong tay một con người. Yiệc kiểm soát quyền lực từ
trên xuống của nhà vua là khá chặt chẽ, để chống lại sự phản kháng của dân chúng và sự
mưu lợi ích riêng của đội ngũ quan lại, nhằm mục đích bảo vệ chế độ chính trị quân chủ
chuyên chế, đem lợi ích cho vua và giai cấp thống tri. Thực hiện mục tiêu đó, các nhà pháp
tậ đặc biệt là Hàn Phi Tử đã không ngừng tìm tòi, khám phá kế thừa và phát triển những hạt
nhân hợp lý trong tư tưởng pháp trị, để hình thành những quan điểm và nguyên tắc pháp lý
tương đối hoàn chỉnh thông qua hệ thống pháp luật nhằm kiểm soát việc thực thi quyền lực
của đội ngũ quan lại trong hệ thống chính quyền nhà nước chuyên chế.
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là một hệ thống quan điểm về pháp - thế - thuật,
lấy pháp làm nội dung cai trị gồm những đặc trưng cơ bản: 1- Pháp là pháp luật thành văn
của quốc gia, gồm những điều luật, luật lệ, quy định mang tính nguyên tắc được biên soạn
rõ ràng minh bạch như khuôn mẫu, được chép trong đồ thư và bày ra ở nơi quan phủ, ban
bố rộng rãi cho dân chúng biết việc gì làm được và việc gì không làm được. 2- Nội dung và
các hình thức thưởng phạt. 3- Mục đích thức hiện pháp là:
Để chữa cái loạn của dân chúng, trừ cái họa trong thiên hạ. Khiến cho kẻ
mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già được thỏa
lòng, ngưòi trẻ và cô độc được trưởng thành, biên giói không bị xâm lấn, vua và
tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho nhau, lại không mắc phải cái lo bị giết
chóc hay bị giặc bắt cầm tù, đó cũng là cái công hết sức lớn [55, tr. 130].
Như vậy, pháp luật được Hàn Phi xem là tiêu chuẩn để phân biệt đúng - sai, chính
tà, là phương tiện của người cầm quyền dùng để điều khiển đất nước. Theo Hàn Phi chỉ có
pháp luật mới làm cho nước trị: "Cái làm cho trị an là pháp luật, cái gây ra loạn là sự riêng
tư. Pháp luật đã thiết lập rồi thì không ai có thể làm điều riêng tư được nữa" [55, tr. 500].
quyền tư pháp đều tập trung vào một người là nhà vua. Do không có cơ chế kiểm soát,
quyền lực xã hội phong kiến chìm đắm trong sự độc đoán chuyên quyền, còn gọi là "đêm
dài trung cổ".
-
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước (quyền
hành pháp, quyền lập pháp, quyền tư pháp) đều nằm trong tay một nhà quân chủ. Nhà nước
quân chủ chuyên chế - quyền lực của nhà vua là vô hạn. Cách tổ chức quyền lực chuyên chế
dẫn đến sự lạm quyền, và tùy tiện.
Trong điều kiện đó, hệ tư tưởng giải phóng để phát triển của cuộc cách mạng tư sản
mà cốt lõi là học thuyết về quyền tự nhiên, chủ nghĩa lập hiến và chế độ đại nghị.... đánh
dấu bước tiến mới trên con đường giành dân chủ.
Các Mác có một nhận xét rất xác đáng về chế độ đó rằng: Sự tùy tiện là quyền lực
của vua, hay quyền lực của vua là sự tùy tiện.
Để chống lại chế độ chuyên quyền, độc đoán đó ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện tư
tưởng phân quyền. Ở những mức độ khác nhau. Đại biểu của những tư tưởng ấy là Platôn
(427 - 347 TCN) và Arixtôt (384 - 322 TCN).
1
Aristôt quan niệm hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chức quyền lực chính
trị. Nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phận độc lập. Cơ quan nghị luận
(làm luật), cơ quan chấp hành (hành chính), cơ quan xét xử, trong đó cơ quan làm luật giữ
vị trí vai trò chủ đạo, bởi lẽ ông quan niệm luật thống trị tất cả, các cơ quan hành chính
không có quyền đó mà chỉ cụ thể hóa luật và thực thi pháp luật.
Như vậy, tư tưởng phân quyền thời cổ đại chỉ là phân công lao động, phân công
Jon Lock muốn trao từng bộ phận quyền lực cho 1những lực lượng chính tri xã hội
khác nhau là tư sản và phong kiến.
Trong cơ cấu quyền lực, quyền lập pháp có vai trò chủ đạo, nhưng không tuyệt đối
vì quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Là ngưòi có thể giải tán hay thay đổi thành lập cơ
quan lập pháp khi hoạt động không còn đủ tín nhiệm với nhân dân...
- Mongtexkỉơ ị1689 - 1775): Là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc của pháp, người đề
xưổng học thuyết phân quyền; tư tưởng của ông được phản ánh trong tác phẩm "Tinh thần
pháp luật" và "Những bức thư thành Ba Tư".
Nghiên cứu lịch sử của chế độ chuyên chế, quyền lực nằm trong tay một người, hay
một tổ chức tất yếu dẫn đến lạm quyền và sử dụng quyền lực để mưu lợi ích riêng. Tác giả
cho rằng, để loại trừ khả năng lạm quyền thì cần phải thiết lập một trật tự trong đó - quyền
lực lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập, trở thành lực lượng kiềm chế nhau. Quyền
lập pháp được chia giữa tư sản và phong kiến. Nghị viện có hai viện, Thượng viện đại diện
cho quý tộc; Hạ viện đại diện cho dân. Quyền hành pháp thuộc quý tộc, và thành lập chính
phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm trước nhân dân, tức là trước giai cấp tư sản.
Mongtecxkiơ giải thích như sau: "Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại
trong tay một người hay một viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta
sợ rằng chính ông ta hay Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài" [50, tr.
100], Cũng tương tự như vậy, "nếu quyền tư pháp nhâp lại với quyền lập pháp thì người ta
sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân" [50, tr. 100] và "nếu quyền tư
pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức manh của kẻ đàn áp" [50,
tr. 101] và "nếu một người hay một tổ chức của quan chức hoặc của quý tộc hoặc của dân
chúng nắm luôn cả ba thứ quyền nói trên thì tất cả sẽ mất hết" [50, tr. 101].
Ông còn cho rằng, quyền tư pháp phải độc lập, không trao cho cơ quan thường trực
nào, mà trao cho nhân dân bầu theo định kỳ.
Mongtecxkiơ chỉ ra rằng: "Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật và xem xét
ngưòi ta thực hiện luật như thế nào" [50 tr. 101] và không có "chức năng ngăn cản" tức là
"quyền làm cho quyết định của ngưòi khác trở thành vô hiệu" [50, tr. 101].
Thuyết phân chia quyền lực ra đòi trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản
tập hợp quần chúng chống chế độ phong kiến. Khi giai cấp tư sản giành được chính quyền,
quan đối vói hoạt động của con ngưòi và tổ chức. Có hoạt động thì phải có kiểm ưa. Các
Mác khẳng định rằng:
Vào một thòi kỳ ở một nước mà thế lực vua chúa, giai cấp quý tộc và giai
cấp tư sản tranh giành quyền thống trị, mà do đó quyền thống tri bị phân chia thì
học thuyết phân quyền tỏ ra là tư tưởng thống trị, nó được người ta coi là quy luật
vĩnh viễn... mỗi điều khoản của hiến pháp đều chứa sẵn trong bản thân nó cái
phản đề của bản thân nó, cái thượng viện và hạ viện của nó tự do trong câu nói
chung chung, và xóa bỏ cái tự do trong điều khoản kèm theo... Hiến pháp đã được
thảo ra sao cho nghị viện có thể gạt bỏ được tổng thống bằng con đường lập hiến,
nhưng Tổng thống lại có thể gạt bỏ nghị viện bằng con đường không hợp hiến,
bằng cách thủ tiêu luôn cả hiến pháp. Như thế là ở đây, bản thân hiến pháp lại đi
thách thức thủ tiêu mình bằng bạo lực. Chẳng những nó thần thánh hóa chế độ
phân quyền giống như Hiến chương 1830, mà nó còn mở rộng chế độ phân quyền
đến chỗ mâu thuẫn không sao chịu nổi... Nếu hiến pháp giao cho tổng thống
1
quyền thực tế thì nó lại cố gắng bảo đảm cho nghị viện quyền tinh thần... [41, tr.
236],
Khi xem xét mối liên hệ giữa Thuyết phân quyền với sự phân công lao động trong
bộ máy nhà nước Ph. Ãngghen đã viết "Phân quyền được xem như là nguyên tắc thiêng
liêng và không thể xâm phạm được trên thực tế, về thực chất nó không có gì khác là sự
phân công công việc lao động được áp dụng đối với bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hóa
và để kiểm tra" [43, tr. 405], Các ông cho rằng, Thuyết phân quyền ở đó Nghị viện chỉ là
nơi bàn cãi suông, tòa án chỉ độc lập giả dối, còn toàn bộ quyền lực tập trang vào cơ quan
hành pháp. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của các học thuyết chính tri pháp lý,
kể cả thuyết phân chia quyền lực. Đổng thòi, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, Mác
và Ảngghen đã cho ta thấy, trong xã hội có giai cấp đối kháng, quyền lực nhà nước nằm
trong tay giai cấp thống trị; nếu chế độ nhà nước đó bị đập tan thì quyền lực nhà nước trở
rất khác nhau.
Nói một cách khái quát, theo V.I.Lênin, nội dung công tác kiểm tra bao gồm: kiểm
tra việc và kiểm tra người. Nó bao trùm toàn bộ việc kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà
nước, chứ không chỉ là một quá trình của công tác lãnh đạo.
Khi giai cấp tư sản nắm quyền thống tĩị thì chủ thể kiểm tra, kiểm soát thuộc về giai
cấp tư sản. Còn đối tượng (khách thể) kiểm tra, kiểm soát là giai cấp vô sản và quần chúng
lao động.
Khi giai cấp vô sản giành quyền thống trị thì chủ thể kiểm tra, kiểm soát thuộc về
giai cấp công nhân và toàn thể dân cư tiến hành. Nhà nước chuyên chính vô sản dựa vào
quần chúng lao động, trước hết là công nhân và nông dân, để tiến hành kiểm tra, kiểm soát.
Đối tượng bị kiểm tra, kiểm soát lúc này bao gồm:
-
Tất cả các đơn vị kinh tế, các ngành...
-
Bọn ăn cắp, đầu cơ, làm ăn gian dối, nhận hối lộ, ăn bám, lưu manh, phá hoại
ngầm, bọn "con ông cháu cha".
-
Các biểu hiện của tính tự phát vô chính phủ.
-
Nhà nước và các tổ chức đảng vừa là chủ thể vừa là khách thể của công tác
kiểm tra, kiểm soát.
Tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát
Xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, nhà nước của dân do dân, vì dân nói riêng.
Tư tưởng trên được hình thành rất sớm biểu hiện rõ nét trong hai văn kiện quan
trọng "Án nghị quyết của hội nghị trà bị toàn quốc đại biểu đại hội" ngày 23 tháng giêng
năm 1929 và trong Điều lệ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Trong văn kiện thứ
nhất, Hổ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề "đặt ra đặc biệt ủy viên Hội để điều tra và xử
đoán" [88, tr. 91] những sự kiện cáo nhau. Trong văn kiện thứ hai đã đề cập tói các hình
thức kỷ luật đối vói các hội viên của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên bị sai lầm, khuyết
điểm. Tiếp đó trong các văn kiện, bài nói, bài viết từ năm 1930 đến năm 1969 tư tưởng về
công tác kiểm tra, kiểm soát và thi hành kỷ luật đã không ngừng được người bổ sung, hoàn
thiện. Nội dung tư tưởng Hổ Chí Minh về công tác kiểm tra, kiểm soát và thực hành kỷ luật
được biểu hiện rõ nét ở những vấn đề chủ yếu sau:
+ Vì sao phải tiến hành công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý kỷ luật.
Học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân đã khẳng
định: chính đảng ra đời là một tất yếu lịch sử. Là đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu
tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thể hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử thế giới
của giai cấp mình. Như vậy lãnh đạo là chức năng bao trùm của Đảng. Chức năng ấy được
qui định bởi ngay từ qui luật ra đời của Đảng.
1
Thế nào là lãnh đạo đúng? Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc Hồ Chí Minh đã
luận giải hết sức rõ ràng, lãnh đạo đúng có nghĩa là:
Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng..
Phải tổ chức sự thi hành cho đúng...
Phải tổ chức sự kiểm soát... [46, tr. 285],
Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không phải là viết nghị quyết và ra chỉ
thị, mà điều quan trọng, lãnh đạo còn là tổ chức thi hành và kiểm soát thực hiện. Lãnh đạo
là kiểm soát, điều đó hoàn toàn chính xác cả về lý luận và thực tiễn. Sự chính xác của các
tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây,
ngấm vào trong Đảng" [46, tr. 261].
Trong Đảng ta gồm những ngưòi có tài, có đức, phần đông những người hăng hái
nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết dũng cảm nhất. Tuy vậy, không phải là
ngưòi ngưòi đều tốt, làm việc đều hay. Trong Đảng chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vụ
lọi những việc không chính đáng. Do vậy kiểm tra và thực hành kỷ luật trong Đảng là một
tất yếu khách quan, để ngăn chặn khuyết điểm sai lầm, sửa chữa thói hư tật xấu, thải loại
những kẻ thoái hóa biến chất, xây dựng đảng trong sạch vững mạnh. Xây dựng nhà nước
của dân do dân vì dân.
+ Mục đích, ý nghĩa, tác dụng, nội dung của công tác kiểm tra
Phạm vi, nội dung của công tác kiểm tra rất rộng nhưng tập trung nhất là kiểm tra
việc và kiểm tra người. Yiệc ở đây chủ yếu bao gồm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính
sách pháp luật của nhà nước. Người ở đây là cá nhân cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh chỉ rõ
mục đích, tác dụng của công tác kiểm tra, kiểm soát là giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc
được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước trong hiện thực cuộc sống có gì đúng đắn, sai lệch, ai chấp hành tốt, ai chấp
hành chưa tốt, năng lực thực tế của mỗi người...
Người cho rằng: có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu.
Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm
của các mệnh lệnh và nghị quyết. Muốn chống bệnh quan liêu bàn giấy, muốn biết các nghị
quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho
qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi
ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định sẽ bớt đi [46, tr. 287].
Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc những cơ quan, cán bộ
mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, "chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và
gửi chỉ thị" [46, tr. 520]; "có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ
mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững... Ngưòi cho rằng, những ngưòi đó
"không làm được việc, phải thải đi". Ngoài ra, Hổ Chí Minh còn lưu ý đến hai hạng người"
hiệu quả cao thì phải "khéo kiểm soát". "Khéo" tức là phải trên cơ sở khoa học, có hình
thức, phương pháp kiểm tra linh hoạt, đa dạng. Ngưòi phê phán nghiêm khắc lối làm việc
quan liêu; thiếu kiểm tra, kiểm soát cụ thể; thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều; ngồi một
noi chỉ tay năm ngón. Cách làm việc như thế rất có hại. Nó làm cho lãnh đạo không đi sát
vói phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưổi, cho nên phần nhiều chủ trương, nghị
quyết không được chấp hành đến noi đến chốn.
"Khéo" kiểm tra còn có nghĩa là:
-
Kiểm tra phải có hệ thống, nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải lập tức đốc
thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và
2
nhân dân địa phương ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những khó
khăn để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn.
-
Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào giấy tờ báo cáo, ngồi trong phòng giấy
mà chờ người ta báo cáo mà phải đi đến tận nơi, xem tận chỗ.
-
Kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ mọi
khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy. Như thế, thì cán bộ càng thêm
trọng kỷ luật và lòng phụ trách.
"Khéo" kiểm tra tức là phải biết kết hợp linh hoạt các hình thức, phương pháp kiểm
việc có kiểm tra, tôn trọng kỷ luật của Đảng. Dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người
vẫn thường xuyên đến với quần chúng - công nhân, nông dân, bộ đội... trực tiếp xem và
nghe người thật việc thật, trên cơ sở đó hình thành những chủ trương, quyết sách lớn, có
liên quan đến vận mệnh của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, chứ không phải lúc làm, lúc bỏ, đánh
trống bỏ dùi; phải trở thành công việc thường ngày của các cấp ủy Đảng (nhất là các đổng
chí cán bộ chủ chốt). Mỗi cuộc kiểm tra đều phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, phân
công trách nhiệm rõ ràng. Thực hiện đúng các nguyên tắc: công khai, công bằng; dân chủ
gắn liền vói kỷ luật. Khi chưa quyết định thì tha hổ bàn cãi, nhưng khi đã quyết định rồi thì
không được cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là cách bàn cách thi hành cho được, cho nhanh,
không phải để đề nghị không thực hiện.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác kiểm tra, kiểm soát phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của
đất nước ta và Đảng ta. Sự sáng tạo, bổ sung và phát triển đó được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, HỒ Chí Minh đã làm sáng tỏ hơn tính tất yếu khách quan của công tác
kiểm tra, kiểm soát; đã khẳng định nó là một nội dung lãnh đạo, một khâu không thể thiếu
trong quy trình lãnh đạo của Đảng. Người đã phân tích rất sâu sắc mối quan hệ giữa kiểm
tra với đường lối, chính sách của Đảng. Chính công tác kiểm tra là một nhân tố quyết định
để Đảng đề ra được đường lối, chính sách đúng và tổ chức thực hiện thành công đường lối,
chính sách đó.
Thứ hai, Hồ Chí Minh đã khẳng định mục đích của kiểm tra là ngăn ngừa khuyết
điểm, sai lầm, phát hiện người tốt việc tốt là chính.
Thứ ba, Người đã bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm các hình thức, phương
pháp kiểm tra. Công tác kiểm tra phải được tiến hành theo đúng nguyên tắc tổ chức của
Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Kiểm tra phải
quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng là một bộ phận của việc giám sát việc
thực thi quyền lực nhà nước đối vdi đảng cầm quyền. Các cấp ủy Đảng và ngưòi đứng đầu
cấp ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát.
Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp lại
được sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới:
+ Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cung cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu
chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
+ Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu
vi phạm trong việc chấp hành
2
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức
của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.
+ Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp
ủy thi hành kỷ luật.
+ Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ
luật Đảng.
+ Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.
Thực chất của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ỏ nước ta là tổng hợp các
công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, của các cơ quan trong hệ thống chính trị và của
nhân dân. Báo cáo chính trị Đại hội IXchỉ rõ:
Lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra của Chính phủ và
các cơ quan hành pháp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đổng nhân
dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, theo đúng chức năng và thẩm
quyền của các cơ quan đó. Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy, của ủy ban
kiểm tra các cấp tập trung vào các nội dung chủ yếu: Thực hiện các nghị quyết,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chấp hành nguyên tắc tập trung
dân chủ và qui chế làm việc, củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng
cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phần
tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Các tổ chức đảng đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra.
Nhiều cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo công tác kiểm tra, xây dựng chương trình kế hoạch và
trực tiếp kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới theo quy định của Điều lệ Đảng, bước đầu có kết
quả thiết thực.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra của các tổ chức đảng và cấp ủy các cấp còn nhiều thiếu
sót, khuyết điểm. Không ít cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ về công tác kiểm tra của Đảng,
coi đây chỉ là công việc của ủy ban Kiểm tra các cấp. Khi xem xét kỷ luật hoặc khi đơn vị
có vụ việc, còn lúng túng, thiếu chủ động cả về nội dung và phương pháp kiểm tra. Nhiều
chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng không được chấp hành nghiêm túc, thậm chí sai
lệch nhưng không được kiểm tra, uốn nắn. Nhiều tiêu cực trong quản lý kinh tế, tài chính,
tiền tệ gây hậu quả nghiêm trọng, tệ quan liêu, tham nhũng đang làm tha hóa một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên nhưng chậm được kiểm tra, phát hiện, xử lý công minh, kịp
thời. Công tác cán bộ còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm, chưa đáp ứng yêu cầu.
1.2. CÁC PHẠM TRÙ VỂ KIEM soát quyển Lực NHÀ NƯỚC, CÁC CẤP ĐỘ VÀ HÌNH
THỨC KIEM soát quyển Lực
Kiểm soát quyền lực nhà nước luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải
trả lời câu hỏi: ai (người, hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát: Kiểm
soát ai? Kiểm soát việc gì? Kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bởi một loạt các
chế định khác nhau, gắn liền với chúng là các phạm trù, khái niệm khác nhau.
1.2.1. Giám sát mang tính quyền lực nhà nước
Giám sát:
Trong Từ điển tiếng Việt: "Giám sát được hiểu là sự theo dõi xem xét làm đúng hoặc
sai những điều đã quy định hoặc được hiểu là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng
những điều quy định không".
Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Quốc hội do vị trí vai trò của
quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên hoạt động
giám sát của Quốc hội có tính chất là giám sát tối cao; như vậy: chủ thể hoạt động giám sát
tối cao là của Quốc hội; ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đổng dân tộc và các
ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu và đại biểu Quốc hội nhằm theo dõi, xem xét kiểm
tra tính hợp hiến, hợp pháp trong các văn bản pháp luật, trong hoạt động của chủ tịch nước,