VẬN DỤNG sự NHẬN THỨC vận DỤNG QUY LUẬT TRÊN của ĐẢNG TA ở VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 95

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
LỜI NÓI ĐẦU
Triết học ra đời từ đời sống xã hội, những vấn đề được triết học đặt ra và
tìm lời giải đáp là những vấn đề về thế giới quan và phương pháp luận, triết
học nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên của xã hội và con
người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.
Trong quá trình ra đời và phát triển, triết học đã đạt đến đỉnh cao bằng sự
ra đời của triết học Mác - Lênin. Đó chính là bước phát triển tạo nên sự biến
đổi có ý nghĩa cách mạng lịch sử phát triển triết học của nhân loại.
Triết học Mác - Lênin là một môn học hết sức quan trọng được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo, không ngừng nâng cao chất từ khâu biên soạn
giáo trình, giản dạy, học tập, nghiên cứu trong hệ thống giáo dục của cả nước.
Nó đã và đang được tuổi trẻ học đường, cán bộ đảng viên và toàn dân ta tiếp
đón nhiệt tình và say mê học tập nghiên cứu nghiêm túc. Chính vì thế nghị
quyết Đại hội VIII của Đảng nêu rõ: "Đảng làm giàu trí tuệ của mình bằng
cách không ngừng nâng cao trình độ lí luận, nắm vững và vận dụng sáng tạo
những luận điểm cơ bản và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phải không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn sinh động từ phong trào cách mạng quần chúng".
Nhận thức và vận dụng sáng tạo triết học Mác-Lênin đã góp phần mang
lại những thành tựu ta lớn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ta
đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Những quy luật, những phạm trù triết học
Mác-Lênin nghiên cứu hầu hết đều được Đảng và Nhà nước ta vận dụng linh
hoạt trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, an
ninh, của đất nước.
Đặc biệt phải kể đến quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất một ảnh hưởng không nhỏ trong xã
xu hướng phát triển kinh tế - chính trị nước ta hiện nay.
1
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
A.PHẦN LÝ LUẬN

b. Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Nghĩa là trong quá trình sản xuất, con người chinh phục giới tự nhiên bằng
tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được chủ nghĩa duy
vật lịch sử khái quát tong khái niệm lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là
năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu
đời sống của mình. Lực lượng sản xuất háng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là người lao động.
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể của quá trình lao
động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình. Lao động của
con người ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ. Trong
quá trình lịch sử lâu dài của xã hội loài người, trí tuệ hình thành phát triển
cùng với lao động làm cho lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn.
Hàm lượng trí tuệ trong lao động, đặc biệt là trong điều kiện của khoa học
công nghệ hiện nay, đã làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của
sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận.
Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản
của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công
cụ lao động do con người sáng tạo ra ”là sức mạnh của tri thức đã được vật
thể hoá" , nó "nhân" sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản
xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất. Ngoài ra ,
công cụ lao động, theo Ph.Ăngghen là: "khí quan của bộ óc con người " là
"sức mạnh của tri thức đã được" "vật thể hoá" có tác dụng "nối dài bàn tay"
và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con người . Bởi vậy khi công cụ lao động đã
3
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
đạt đến trình độ tin học hoá, được tự động hoá, thì vai trò "khí quan vật
chất" của nó trở nên hết sức kỳ diệu
- Trong mọi thời đại, nhờ yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, công
cụ lao động biểu hiện năng lực thực tiễn của con người ngày một tăng thêm

Trong đó sản xuất , mói quan hệ giữa con người với giới tự nhiên .Trong sản
xuất, mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thể hiện thành những trình
độ được xây dựng trong và thong qua những quan hệ khác nhau giữa người
với người, tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm “Lao động làm
thuê và tư bản”, C.mác viết: “trong sản xuất người ta không chỉ quan hệ với
giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau
theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau.
Muốn sản xuất được người ta phải có mối quan hệ và quan hệ nhất định với
nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”. Như vậy,
quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách
quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con
người. Song quan hệ sản xuất tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan
của sự vận động đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất bao gồm:
- Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất
- Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động
- Ba mặt quan hệ này trong quá trình sản xuất luôn gắn bó với nhau tạo
thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động không
ngừng của lực lượng sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất biểu hiện thành
chế độ sở hữu – là đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất. Trong hệ
5
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
thống các quan hệ snr xuất của một nền kinh tế xã hội nhất định, quan hệ sở
hữu có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác. Quan hệ này là
quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của của các quan hệ sản
xuất; là cái quyết định phương thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn
người theo đại vị của họ đối với sản xuất xã hội; “Định nghĩa quyền sở hữu tư
bản không phải là cái gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của
sản xuất tư sản”.

cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật cũng như giữa các thuộc
tính của cùng một sự vật, hiện tượng.
Sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất biểu
hiện mối quan hệ mang tính biện chứng. Quan hệ này tạo thành quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất –
quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
Sự biến đổi của sản xuất luôn luôn theo chiều hướng tiến bộ, và xét cho
cùng, bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất,
trước hết là công cụ lao động. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất . Đương nhiên , khi trình độ của lực lượng sản
xuất phát triển thì tính chất của nó cũng phát triển theo.
Trình độ của lực lượng sản xuất là khái niệm nói lên khả năng của con
người thực hiện quá trình biến đổi và thích ghi với giới tự nhiên nhắm bảo
đảm cho sự sinh tồn và phát triển của mình thong qua công cụ lao động
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sự sản phẩm của sự kết hợp
giữa các nhân tố :
- Trình độ của công cụ lao động
- Trình độ tổ chức lao động xã hội
7
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
- Trình độ ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất
- Trình độ tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người
- Trình độ phân công lao động
Những yếu tố này quyết định kiểu tổ chức sản xuất xã hội và quan hệ của
những con người sản xuất. Nghĩa là chúng chi phối mối quan hệ của con
người với những tư liệu sản xuất chủ yếu, với cách thức tổ chức, điều
này được C.Mác khẳng định rõ trong “Sự khố cùng của triết học”.
Những quan hệ sản xuất đều gắn mật thiết với lực lượng sản xuất. Do
được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản

thức sản xuất mới. Mác đã nhận định "Tới một giai đoạn phát triển nào đó
của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những
quan hệ sản xuất hiện có Trong đó từ trước đến nay lực lượng sản xuất vẫn
phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những
quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu
thời đại một cuộc cách mạng xã hội". Đó là nội dung quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.'
Như vậy, với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhân tố
đóng vai trò quyết định với quan hệ sản xuất là lực lượng sản xuất song họ
cũng chỉ rõ rằng bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng
sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục
đích xã hội của sản xuất tác động đến khuynh hướng phát triển của khoa học,
công nghệ. Trên cơ sở đó hình thành một hệ thống những yếu tố thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù
hợp, phát triển hợp lý và đồng bộ với lực lượng sản xuất; Trong đó trường
hợp ngược lại, quan hệ sản xuất sẽ kìm h hãm lực lượng sản xuất phát triển.
Nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc "tiên tiến" hơn một cách giả tạo cũng sẽ
làm cho lực lượng sản xuất không phát triển. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng
9
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
sản xuất và quan hệ sản xuất đã trở nên gay gắt, đòi hởi phải giải quyết một
cách sai lầm Thì không thể phát triển được lực lượng , thậm chí còn phá
hoại lực lượng sản xuất.
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ quá trình phát
triển của lịch sử loài người từ xã hội công xã nguyên thuỷ đến xã hội cộng sản
tương lai và là quy luật cơ bản nhất trong quan hệ của quy luật xã hội
B.VẬN DỤNG: SỰ NHẬN THỨC -VẬN DỤNG QUY LUẬT
TRÊN CỦA ĐẢNG TA Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN

vào trí thức của các nhà lãnh đạo. Tuy vậy không phải lúc nà người ta cũng
nhận thức và vận dụng đúng quy luật đó. Theo phương châm: Chỉ có sự tinh
tế nếu mình nhìn nhận được những việc đúng sai của mình. Sau đó ta hãy đi
vào nghiên cứu quá trình vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam, phát triển
hiện ra xem có những hành động đúng đắn hay sai lầm nào.
Ở thời kỳ đầu khi mà Miền Bắc nước ta bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Đảng ta nhìn nhận trong thực tiễn sản xuất ở nước ta, lực lượng sản xuất
bị quan hệ sản xuất kìm hãm làm cho lực lượng sản xuất kém phát triển. Đời
sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Bởi vậy, Đảng ta đã tiến hành cuộc cải
cách ruộng đất nhằm thực hiện khẩu hiện "người cày có ruộng"; mặc dầu
trong phương pháp thực hiện có nhiều sai lầm song về cơ bản đã xoá bỏ được
chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện sở hữu ruộng đất chi nhân dân,
11
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
cởi trói sức sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người
chủ ruộng đất.
Ở các bước tiếp sau chúng ta lại tiếp tục mắc một số sai lầm nghiêm
trọng. Do chưa nhận thức đúng quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lực
lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Trong cuộc cải tạo quan hệ sản xuất cũ
và xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta đã ra sực vận động, một số nơi
gần như là cưỡng bức, nông dân đi vào hợp tác hoá khi mà họ chưa có thời
gian để suy nghĩ trên mảnh đất được chia. Có thể chúng chưa tuân thủ lời giáo
huấn của Lênin:
Muốn sử dụng một phương pháp mau lẹ nào đó, một sắc lệnh, một tác
động ngoài vào để cải tạo hệ cá thể ấy thì thật là một tư tưởng hoàn toàn phi
lý. Đồng thời cùng với việc xây dựng hợp tác xã quy mô từ thấp tới cao
chúng ta đã mở rộng và phát triển các quy mô nông trường quốc doanh, các
nhà máy, xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ của lực lượng sản xuất
đang còn thấp kém. Mặt khác chúng ta tạo ra những quy mô lớn mà ngộ nhận

lao động. Bản thân con người là yếu tố quyết định là chủ thể quan trọng nhất
trong lực lượng sản xuất. Song sản xuất bị đặt trong vòng cương toả của cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp nên con người lao động đã trở thành
thực thế thụ động, năng lực sáng tạo bị ức chế và mất đi một cách tự nhiên.
Tất cả những sai lầm đó đã dẫn đến sự "ngã gục" trng tiến trình phát triển của
lực lượng sản xuất và do đó phá vỡ luôn cả nhịp độ phát triển kinh tế xã hội.
Một sai lầm cơ bản củ chúng ta đã vấp phải là xoá bỏ quá sớm quan hệ
sản xuất tư bản khi kinh tế XHCN của ta chưa đủ sức thay thế. Điều đó ảnh
hưởng không tốt đến lực lượng sản xuất và mất một khả năng tạo ra sản phẩm
dồi dào cho xã hội. Cũng vậy, nếu ta xoá sách tiểu thương khi hệ thống
thương nghiệp quốc quanh và hợp tác xã mua bán của ta chưa làm nổi vai trò
"người nội trợ cho xã hội " thì sẽ gây ra nhiều khó khăn và ách tắc hàng hoá
và không thể đps ứng được nhu cầu cần thiết cho nhân dân xoá bỏ một hình
13
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
thức quan hệ snr xuất nào khi lực lượng sản xuất tương ứng với nó đang tồn
tại và thúc đẩy sức sống.
vấp váp, những thất bại. Đảng ta vẫn còn rất nhiều sự nhìn nhận đúng
đắn cũng như các biện pháp kịp thời để khắc phục và phát triển nền kinh tế.
Qua quá trình lãnh đạo sản xuất lâu dài Đảng ta rút ra kinh nghiệm bổ ích và
khẳng định rằng; một trong những nguyên nhân làm cho xã hội chậm phát
triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là: Không nắm vững quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, từ
đó Đảng đã rút ra cái cốt lõi để đẩy mạnh việc vận dụng quy luật bằng cách
nêu vấn đề gắn liền với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học
kỹ thuật lên hàng đầu. Đồng thời tổ chức lạo nền sản xuất xã hội để xác định
đúng những hình thức và bước đi thích hợp. Đảng ta nhận thức rằng sự phù
hợp giữa quan hệ mâu thuẫn, không trao đổi. Sự phù hợp này không bao giờ
là sự phù hợp chung mà là sự tồn tại dưới nhiều hình thức cụ thể, thích ứng
với nhiều đặc điểm cụ thể, thích ứng với đặc điểm nhất định với trình độ nào

các nước trên thế giới ngày càng tăng. Những đặc điểm khách quan cho phép
chúng ta kết hợp hình thức phát triển tuần tự và nhảy vọt để nhằm vừa có thể
đẩy mạnh và rút ngắn thời hạn lịch sử tạo nên bước nhảy vọt về chất và sự
tăng trưởng mạnh nhanh chóng của lực lượng sản xuất.
Đảng đã nhận thấy, từ nước có nền sản xuất nhỏ như giai đoạn nhỏ như
giai đoạn công nghiệp hoá. Trên thực tế chúng ta đã và đang tiến hành công
nghiệp hoá đất nước. Song những lệch lạc về thời kỳ công nghiệp hoá theo
kiểu cổ điển, không phù hợp nữa.
Đối với thế giới nền văn minh cơ khí hoá đang lùi vào lịch sử, nhưng với
chúng ta, có thể từng bộ phận, từng ngành của nền văn minh ấy vẫn còn có
giá trị và cần phải được xây dựng và hiện đại hoá. Để tạo điều kiện cho con
người chủ động nhận thức và giải quyết những mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất, điều chỉnh và hoàn thiện quan hệ sản xuất để thông
qua đó phát triển lực lượng sản xuất. Muốn tạo ra những động lực tích cực,
15
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
kích thích năng lực sáng tạo của người lao động thì đòi hỏi phải có chiến lược
về con người nhằm tạo ra những biến đổi mới tích cực về cơ cấu và chiến
lược phân công.
Việc cải cách giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật và năng lực
quản lý việc ban hành và thực hiện chính sách phù hợp với yêu cầu của cuộc
sống hiện đại và hướng lên của xã hội là những phương tiện đa dạng trong hệ
thống để đi đến phát triển lực lượng sản xuất.
Ở nước ta thế mạnh của khoa học kỹ thuật mới chỉ ở dạng tiềm năng, sự
tham gia của nó vào quá trình sản xuất còn hạn chế. Đảng ta chủ trương với
cơ chế quản lý kinh tế mới với sự mở rộng quyền tự chủ kinh tế của người sản
xuất sẽ là tác nhân kích thích sự thâm nhập của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Trong điều kiện đất nước còn nghèo, chỉ co tính thực tế đó mới chinh phục
được người sản xuất và do đó cũng là con đường ngắn nhất để khoa học kỹ
thuật đi nhanh nhất vào cuộc sống và sản xuất. Ít ra cũng là giai đoạn này.

giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất của Trương Hữu Hoàn. Tạp chí
triết học
- Tuyển tập các Mác - Ph. Anghen tập I
- Giáo trình triết học Mác - Lênin tập II
- Tìm thông tin trên Internet

18
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thu Hằng Lớp: QTKD - Tổng hợp B
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
A.PHẦN LÝ LUẬN 2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
1. KHÁI NIỆM PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT, LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT 2
a.Phương thức sản xuất 2
b. Lực lượng sản xuất 3
c. Quan hệ sản xuất 5
2. NỘI DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI
TÍNH CHẤT TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT 7
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ 10
B.VẬN DỤNG: SỰ NHẬN THỨC -VẬN DỤNG QUY LUẬT TRÊN
CỦA ĐẢNG TA Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY10
C. KẾT LUẬN 17
NHỮNG TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status