Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay


Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
"Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều là của dân, chính quyền
từ xã đến Chính phủ đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân
cử ra, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương do dân tổ chức ra. Nói tóm lại quyền hành
và lực lượng đều ở nơi dân" [47, tr. 698].
Luận điểm trên thể hiện những vấn đề căn bản nhất đó là: Nhà nước do dân thiết
lập và trao quyền lực, nghĩa là quyền lực nhân dân trở thành quyền lực nhà nước. Quyền
lực đó thể hiện ý chí của nhân dân được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy
nhà nước, trong đó có độc quyền bộ máy cưỡng chế, trấn áp và hệ thống quy phạm pháp
luật.
Được sự ủy quyền của toàn thể nhân dân, nhà nước trở thành một bộ máy có
quyền lực rất lớn, độc lập với xã hội. Trong xã hội có giai cấp khi quyền lực nhà nước
không được kiểm soát, nhà nước sẽ là cơ quan đứng trên xã hội, xa lạ với xã hội, trở
thành một lực lượng ăn bám xã hội, trong nhiều thời kỳ nhà nước trở thành lực lượng cản
trở sự phát triển của xã hội.
ở nước ta hiện nay, ở nơi này, nơi khác đã xuất hiện nguy cơ Đảng và Nhà nước
không còn là của dân, với những biểu hiện là một số cán bộ công chức nắm quyền lực
được nhân dân ủy thác lại xa dân, xa cấp dưới, xa cơ sở, không chủ động phục vụ nhân
dân vô điều kiện mà chỉ lo làm ăn phát tài, lo thăng quan tiến chức, đánh mất bản chất
cách mạng chân chính của mình.
Một số tài sản quốc gia và của nhân dân bị bọn tham nhũng những kẻ vô trách
nhiệm phần lớn là nắm quyền lực chiếm đoạt và làm thất thoát. Có những vụ ăn cắp tài
sản quốc gia hàng ngàn tỷ đồng, một số không ít nắm quyền lực nhà nước đã và đang tiếp

"tổng kết" từ các hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND), các hoạt
động thanh tra nhà nước, kiểm tra Đảng v.v...


Đã có một số đề tài cử nhân chính trị, thạc sĩ khoa học đề cập đến từng lĩnh vực
cụ thể của công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát đối với hoạt động của bộ máy
nhà nước ta ở cả cấp Trung ương và tỉnh, thành. Một số công trình như "Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa" của Bộ Tư pháp, "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội
nước ta hiện nay" của Khoa Nhà nước và Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh) cũng đã đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực.
Các nghiên cứu này xuất phát từ cách tiếp cận và phương pháp luật học (khoa
học pháp lý) đã phân tích từng hoạt động cụ thể của việc thực hiện các chức năng như
giám sát của Quốc hội và HĐND, kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), thanh
tra, kiểm tra của Chính phủ... Những công trình này đã đưa ra được các đánh giá khái
quát, các giải pháp mang tính định hướng chung của việc kiểm soát quyền lực, nhưng
chưa đi sâu luận chứng hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta.
Đề tài mà tác giả chọn tập trung đi sâu vào hệ thống tổ chức và hoạt động kiểm
soát quyền lực nhà nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà
nước ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa một cách khái quát các quan điểm, lý thuyết, các khái niệm, phạm
trù và thành tựu khoa học trong và ngoài nước về kiểm soát quyền lực nhà nước.
Về mặt lý luận, làm rõ tính tất yếu khách quan, những yêu cầu thực tế và khả
năng thực hiện việc kiểm soát quyền lực ở nước ta hiện nay.
- Làm rõ thực trạng vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát quyền lực
nhà nước ở nước ta hiện nay.


- Bước đầu cung cấp những kiến giải có tính học thuật về kiểm soát quyền lực
nhà nước.
- Trên cơ sở mô tả thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước, luận văn đưa ra
những dự báo và kiến nghị về nguy cơ quyền lực không được kiểm soát.
Nhờ vậy mà luận văn có ý nghĩa tham khảo cho các nhà hoạt động chính trị xã
hội trong thực tiễn đồng thời góp phần nâng cao văn hóa chính trị cho người đọc.
Những giải pháp mà luận văn đưa ra có thể được áp dụng trong thực tiễn góp
phần hạn chế tha hóa quyền lực trong bộ máy nhà nước, đẩy mạnh thực thi dân chủ trong
xã hội chúng ta nhằm làm cho quyền lực nhà nước được thực hiện khoa học, hiệu lực,
hiệu quả, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 2 chương, 4 tiết.


Chương 1
Kiểm soát quyền lực nhà nước
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

1.1. Kiểm soát quyền lực là yêu cầu tất yếu khách quan
1.1.1. Khái niệm quyền lực nhà nước - kiểm soát quyền lực nhà nước
- Quyền lực Nhà nước:
Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, xuất hiện từ khi xã hội loài người
bị phân chia thành những giai cấp đối kháng.
Quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực chính trị và là trung
tâm của quyền lực chính trị, được hình thành thông qua cuộc đấu tranh chính trị, nhằm
giành quyền tổ chức nhà nước và thực hiện chức năng thống trị xã hội.
Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, trong đó có việc tổ chức và việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư

hội có giai cấp đối kháng, nhân dân có rất ít khả năng thực tế tham gia vào việc tổ chức
quyền lực nhà nước, để từ đó kiểm soát được quyền lực. Việc kiểm soát quyền lực này thực
tế phụ thuộc trước hết là vào cấu trúc quyền lực của nó. Một cấu trúc có thể cho phép tồn tại
sự kiểm soát, sau đó là năng lực kiểm soát của các chủ thể khác. Chế độ tập quyền chuyên
chế kéo dài suốt thời kỳ trung cổ thực sự là mảnh đất cho sự lộng hành, cản trở sự phát
triển xã hội. Để xóa bỏ rào cản đi đến tự do, dân chủ đã buộc các nhà tư tưởng phải tìm ra
các giải pháp cho sự tiến bộ xã hội, học thuyết phân quyền mà trường phái khai sáng đề
xướng đến nay vẫn là những chỉ dẫn cho việc kiểm soát quyền lực ở các quốc gia mà nhà
nước chưa thực sự là của dân, nhân dân chưa có đủ điều kiện để kiểm soát hữu hiệu
quyền lực nhà nước.
Kiểm soát quyền lực từ tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền có
những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: Sự phân ra rành mạnh về chức năng và nhân sự, cùng với cơ chế kìm
chế, đối trọng vừa có tác dụng đề cao trách nhiệm cá nhân, tính độc lập sáng tạo của cá
nhân trong thực thi quyền lực nhà nước vừa hạn chế khả năng lạm quyền và tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền.


Thứ hai: ở mức độ nhất định cơ chế phân quyền đảm bảo tính độc lập của cơ
quan xét xử.
Thứ ba: Cơ chế kìm chế đối trọng là một trong những đảm bảo (ở mức độ nhất
định) hiệu lực của hiến pháp.
Xuất phát từ ưu điểm trên đây, các nước tư bản hiện đại đã áp dụng học thuyết
phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình và coi đó là một trong
những nguyên tắc quan trọng nhất, có ý nghĩa cơ sở để đảm bảo dân chủ, tự do, bình
đẳng xã hội.
Tuy nhiên cũng cần nói rằng, mặt trái của phân quyền là tranh giành, chia rẽ
phân tán quyền lực nếu không được kiểm soát tốt. Vì vậy, phân quyền vừa có mục đích
kiểm soát quyền lực vừa phải kiểm soát cả sự phân quyền và thực thi quyền lực trong cơ
chế phân quyền.

chế phương Đông, vua thâu tóm mọi quyền lực nhà nước cả quyền hành pháp, lập pháp
và tư pháp, tức vận mệnh của đất nước đặt cược vào trong tay một con người. Việc kiểm
soát quyền lực từ trên xuống của nhà vua là khá chặt chẽ, để chống lại sự phản kháng của
dân chúng và sự mưu lợi ích riêng của đội ngũ quan lại, nhằm mục đích bảo vệ chế độ
chính trị quân chủ chuyên chế, đem lợi ích cho vua và giai cấp thống trị. Thực hiện mục
tiêu đó, các nhà pháp trị đặc biệt là Hàn Phi Tử đã không ngừng tìm tòi, khám phá kế
thừa và phát triển những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng pháp trị, để hình thành những
quan điểm và nguyên tắc pháp lý tương đối hoàn chỉnh thông qua hệ thống pháp luật
nhằm kiểm soát việc thực thi quyền lực của đội ngũ quan lại trong hệ thống chính quyền
nhà nước chuyên chế.
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là một hệ thống quan điểm về pháp - thế thuật, lấy pháp làm nội dung cai trị gồm những đặc trưng cơ bản: 1- Pháp là pháp luật
thành văn của quốc gia, gồm những điều luật, luật lệ, quy định mang tính nguyên tắc
được biên soạn rõ ràng minh bạch như khuôn mẫu, được chép trong đồ thư và bày ra ở
nơi quan phủ, ban bố rộng rãi cho dân chúng biết việc gì làm được và việc gì không làm
được. 2- Nội dung và các hình thức thưởng phạt. 3- Mục đích thức hiện pháp là:


Để chữa cái loạn của dân chúng, trừ cái họa trong thiên hạ. Khiến cho
kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già
được thỏa lòng, người trẻ và cô độc được trưởng thành, biên giới không bị
xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho nhau, lại không mắc
phải cái lo bị giết chóc hay bị giặc bắt cầm tù, đó cũng là cái công hết sức lớn
[55, tr. 130].
Như vậy, pháp luật được Hàn Phi xem là tiêu chuẩn để phân biệt đúng - sai,
chính tà, là phương tiện của người cầm quyền dùng để điều khiển đất nước. Theo Hàn
Phi chỉ có pháp luật mới làm cho nước trị: "Cái làm cho trị an là pháp luật, cái gây ra
loạn là sự riêng tư. Pháp luật đã thiết lập rồi thì không ai có thể làm điều riêng tư được
nữa" [55, tr. 500].
Điều này cho thấy, pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu quan trọng nhất trong
của bình ổn xã hội kể cả đối với đội ngũ quan lại không thể dùng quyền lực nhà nước do

đánh dấu bước tiến mới trên con đường giành dân chủ.
Các Mác có một nhận xét rất xác đáng về chế độ đó rằng: Sự tùy tiện là quyền
lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tùy tiện.
Để chống lại chế độ chuyên quyền, độc đoán đó ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện
tư tưởng phân quyền. ở những mức độ khác nhau. Đại biểu của những tư tưởng ấy là
Platôn (427 - 347 TCN) và Arixtôt (384 - 322 TCN).
Aristôt quan niệm hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chức quyền lực chính
trị. Nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phận độc lập. Cơ quan nghị luận
(làm luật), cơ quan chấp hành (hành chính), cơ quan xét xử, trong đó cơ quan làm luật
giữ vị trí vai trò chủ đạo, bởi lẽ ông quan niệm luật thống trị tất cả, các cơ quan hành
chính không có quyền đó mà chỉ cụ thể hóa luật và thực thi pháp luật.
Như vậy, tư tưởng phân quyền thời cổ đại chỉ là phân công lao động, phân công
chức năng, thẩm quyền giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước. Việc thực hiện nhiệm vụ nhà
nước theo chức năng, tự nó đã có sự giám sát quyền lực.


Platôn cho rằng, nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là chính trị phân giải
thành pháp lý, hành chính, tư pháp và ngoại giao. Song tất cả các yếu tố đó phải được
thống nhất bởi chính trị. Tức là phân công lao động trong bộ máy nhà nước là cần thiết,
hoạt động của nhà nước như lập pháp, hành pháp, tư pháp cùng nhằm vào một đối tượng,
nhưng đồng thời chúng có khác nhau.
Một nhà nước lý tưởng, nhà nước đó phải được cầm quyền bởi sự thông thái; có
sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khác nhau. Nhà nước đó gồm ba tầng lớp
(giai cấp) cơ bản:
Tầng lớp các pháp quan là những người có lý trí, có vai trò cai trị thành bang.
Tầng lớp chiến binh là những người có sức mạnh bảo vệ thành bang.
Tầng lớp nông dân, thợ thủ công là những người nặng về đời sống nhục cảm, có
trách nhiệm cung cấp đồ ăn, vật dụng cho thành bang.
1.1.3.2. Các nhà tư tưởng thời cận đại
Các nhà tư tưởng thời cận đại đã kế thừa tư tưởng phân quyền về kiểm soát

100]. Cũng tương tự như vậy, "nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ
độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân" [50, tr. 100] và "nếu quyền tư pháp
nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp" [50, tr. 101]
và "nếu một người hay một tổ chức của quan chức hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng
nắm luôn cả ba thứ quyền nói trên thì tất cả sẽ mất hết" [50, tr. 101].
Ông còn cho rằng, quyền tư pháp phải độc lập, không trao cho cơ quan thường
trực nào, mà trao cho nhân dân bầu theo định kỳ.
Mongtecxkiơ chỉ ra rằng: "Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật và xem
xét người ta thực hiện luật như thế nào" [50 tr. 101] và không có "chức năng ngăn cản"
tức là "quyền làm cho quyết định của người khác trở thành vô hiệu" [50, tr. 101].
Thuyết phân chia quyền lực ra đời trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản
tập hợp quần chúng chống chế độ phong kiến. Khi giai cấp tư sản giành được chính
quyền, học thuyết này đã trở thành nguyên tắc căn bản về tổ chức và hoạt động của nhà


nước tư sản. ý nghĩa lịch sử của học thuyết phân quyền là ở chỗ thấy được sức mạnh của
quyền lực nhà nước (với tư cách là quyền lực của nhân dân ủy quyền). Vì thế nó không
được trao cho một ai hoàn toàn, mặt khác nó cho thấy sự nguy hiểm nếu quyền lực nhà
nước không được kiểm soát để rơi vào tay quý tộc hay tư sản. Cũng cần thấy rằng, nguồn
gốc sâu xa của lý thuyết phân quyền là: ở chỗ nó đã thích ứng với tính không thuần nhất
về lợi ích giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ giai cấp tư sản, thích ứng với tình
trạng tranh giành quyền lực diễn ra liên tục giữa các bộ phận đó.
Như vậy, về phương tiện chính trị trước đây phân quyền là cái cớ để giai cấp tư
sản đòi chia quyền thống trị với giai cấp phong kiến, thì hiện giờ là giải pháp tổ chức
quyền lực thích ứng với mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản. Tuy nhiên bản thân học
thuyết phân quyền ngoài việc phản ánh hiện tượng khách quan của xã hội tư sản là có
mong muốn một xã hội tốt đẹp, trong đó quyền tự do con người được đề cao, xã hội
không phải gánh chịu những lộng hành của nhà nước, họ đã kỳ vọng chủ yếu vào sự kiểm
soát quyền lực nhà nước ngay trong hệ thống tổ chức quyền lực.
1.1.3.3. Quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít về kiểm tra - kiểm soát

chấp hành Trung ương. Thành phần của Ban này bao gồm những đồng chí có uy tín nhất.
Các thành viên của Ban kiểm tra Trung ương có quyền tham dự các kỳ họp của Bộ Chính
trị, Ban Bí thư, có quyền đọc các tài liệu và có ý kiến.
Để nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát cần thực hiện tốt những phương pháp
chủ yếu sau:
Một là, phải tổ chức phối hợp việc kiểm tra, kiểm soát từ dưới lên và từ trên
xuống. Nhất thiết phải đặt ra và chấp hành những quy tắc về tiếp dân, tổ chức phòng tiếp
khách sao cho việc lui tới cơ quan được tự do, hoàn toàn không cần có giấy phép nào cả.
Hai là, phải công khai hóa việc kiểm tra, kiểm soát.
Ba là, kiểm tra phải thực sự, hình thức kiểm tra phải linh hoạt.
Bốn là, kiểm tra và xử lý phải thật nghiêm minh, kiên quyết.


1.1.3.4. Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng Cộng sản
Việt Nam về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ở Việt Nam
- Tư tưởng Hồ Chí Minh
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra,
kiểm soát gắn liền với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người về Đảng nói
chung. Xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, nhà nước của dân do dân, vì dân nói riêng.
Tư tưởng trên được hình thành rất sớm biểu hiện rõ nét trong hai văn kiện quan
trọng "án nghị quyết của hội nghị trù bị toàn quốc đại biểu đại hội" ngày 23 tháng giêng
năm 1929 và trong Điều lệ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Trong văn kiện thứ
nhất, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề "đặt ra đặc biệt ủy viên Hội để điều tra và xử đoán"
[88, tr. 91] những sự kiện cáo nhau. Trong văn kiện thứ hai đã đề cập tới các hình thức kỷ
luật đối với các hội viên của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên bị sai lầm, khuyết điểm.
Tiếp đó trong các văn kiện, bài nói, bài viết từ năm 1930 đến năm 1969 tư tưởng về công tác
kiểm tra, kiểm soát và thi hành kỷ luật đã không ngừng được người bổ sung, hoàn thiện.
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kiểm soát và thực hành kỷ luật
được biểu hiện rõ nét ở những vấn đề chủ yếu sau:
+ Vì sao phải tiến hành công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý kỷ luật.

ở đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo tư tưởng
của V.I. Lênin:
Khi mục đích, nhiệm vụ chính trị đã được xác định, quyết định đã được
thông qua, thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu. Điều chủ yếu
là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa
chọn người và kiểm tra sự thực hiện. Đó là vấn đề then chốt nhất đối với Đảng
tiên phong, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Tìm người, kiểm tra công
việc - tất cả là ở đó. Cần phải ưu tiên thời gian, trí tuệ thích đáng, vì nếu không
làm như vậy thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn [29, tr.
450].


Tính tất yếu của công tác kiểm tra kiểm soát được quy định ngay từ qui luật và
phát triển của Đảng. Hồ Chí Minh luận giải rất rõ ràng những căn nguyên của những
khuyết điểm sai lầm trong Đảng: "Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng
lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song
cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên
ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng" [46, tr. 261].
Trong Đảng ta gồm những người có tài, có đức, phần đông những người hăng hái
nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết dũng cảm nhất. Tuy vậy, không phải là
người người đều tốt, làm việc đều hay. Trong Đảng chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vụ
lợi những việc không chính đáng. Do vậy kiểm tra và thực hành kỷ luật trong Đảng là một
tất yếu khách quan, để ngăn chặn khuyết điểm sai lầm, sửa chữa thói hư tật xấu, thải loại
những kẻ thoái hóa biến chất, xây dựng đảng trong sạch vững mạnh. Xây dựng nhà nước
của dân do dân vì dân.
+ Mục đích, ý nghĩa, tác dụng, nội dung của công tác kiểm tra
Phạm vi, nội dung của công tác kiểm tra rất rộng nhưng tập trung nhất là kiểm tra
việc và kiểm tra người. Việc ở đây chủ yếu bao gồm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính
sách pháp luật của nhà nước. Người ở đây là cá nhân cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh chỉ
rõ mục đích, tác dụng của công tác kiểm tra, kiểm soát là giúp Đảng và Nhà nước nắm

Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng CNXH thì công tác
kiểm tra càng có tác dụng, tầm quan trọng đặc biệt. Tại hội nghị tổng kết công tác kiểm
tra của Đảng, ngày 29/7/1964, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
Công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều. Muốn hoàn thành
tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh
đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các cấp ủy Đảng
phải tăng cường công tác kiểm tra. Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo
dục đảng viên và cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với nhà nước,
làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng
về tư tưởng, về tổ chức [47, tr. 300].
+ Cách kiểm tra:


Hồ Chí Minh coi kiểm tra là một phương tiện, một liều thuốc đặc hiệu chống lại
căn bệnh "nghị quyết một đằng thi hành một nẻo" và bệnh quan liêu giấy tờ. Song, muốn
đạt hiệu quả cao thì phải "khéo kiểm soát". "Khéo" tức là phải trên cơ sở khoa học, có
hình thức, phương pháp kiểm tra linh hoạt, đa dạng. Người phê phán nghiêm khắc lối làm
việc quan liêu; thiếu kiểm tra, kiểm soát cụ thể; thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều;
ngồi một nơi chỉ tay năm ngón. Cách làm việc như thế rất có hại. Nó làm cho lãnh đạo
không đi sát với phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới, cho nên phần nhiều
chủ trương, nghị quyết không được chấp hành đến nơi đến chốn.
"Khéo" kiểm tra còn có nghĩa là:
- Kiểm tra phải có hệ thống, nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải lập tức đốc
thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và
nhân dân địa phương ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và những
khó khăn để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn.
- Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào giấy tờ báo cáo, ngồi trong phòng giấy mà
chờ người ta báo cáo mà phải đi đến tận nơi, xem tận chỗ.
- Kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ mọi
khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy. Như thế, thì cán bộ càng thêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status