XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 34

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

-------o-------

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NĂM 2008

Mã số:B08 - 13

XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHỦ NHIỆM ĐỀTÀI: TS LƯU VĂN QUẢNG
THƯ KÝ KHOA HỌC: ThS PHẠM THẾ LỰC
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN CHÍNH TRỊ HỌC

7402
08/6/2009

HÀ NỘI 1/2009


DANH SÁCH CÔNG TÁC VIÊN ĐỀ TÀI
1. TS Lưu Văn Quảng (Chủ nhiệm đề tài) Viện Chính trị học
2. ThS Phạm Thế Lực (Thư ký đề tài)

Viện Chính trị học

3. TS Nguyễn Hữu Đổng


11. PGS,TS Trịnh Đức Thảo

Viện Nhà nước và Pháp luật

12. TS Trịnh Thị Xuyến

Viện Chính trị học

2


MỤC LỤC
1

PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC -

14

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC KIỂM

14

SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
1.1.1. Quyền lực và quyền lực nhà nước

14

1.1.1.1. Quyền lực là gì?


38

1.2.1.2. Kiểm soát quyền lực của cơ quan hành pháp

46

1.2.1.3. Kiểm soát quyền lực của cơ quan tư pháp

49

1.2.2. Các phương thức kiểm soát quyền lực từ bên ngoài nhà nước

52

1.2.2.1. Bầu cử với vai trò là một phương thức kiểm soát quyền lực

53

1.2.2.2.Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các định chế về công
khai minh, bạch của chính quyền

56

1.2.2.3.Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động của các đảng

59

chính trị
1.2.2.4.Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các phương tiện truyền


73

2.2.1.Phương thức kiểm soát quyền lực bên trong nhà nước
2.2.1.1. Chức năng giám sát tối cao của Quốc hội

82

2.2.1.2. Chức năng thanh tra của Thanh tra Chính phủ

91

82

2.2.1.3. Hoạt động kiểm soát quyền lực của cơ quan tư pháp

101

2.2.2. Các phương kiểm soát quyền lực nhà nước mang tính xã hội

105

2.2.2.1. Hoạt động kiểm tra của Đảng

105

2.2.2.2. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các tổ

115


144

dung trọng tâm của xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở

4

140

144


Việt Nam hiện nay
3.1.2. Đổi mới nhận thức về vấn đề kiểm soát quyền lực
3.1.3. Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng đảm bảo và
mở rộng các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân
3.2. CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.2.1.Xây dựng thể chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy của Đảng
3.2.2. Đổi mới nội dung và phương thức bầu cử
3.2.3. Đổi mới nội dung và phương thức kiểm soát quyền lực của các
thiết chế nhà nước theo hướng pháp quyền
3.2.3.1. Đối với Quốc hội
3.2.3.2. Cải cách bộ máy hành chính theo hướng nâng cao tính chuyên
nghiệp và tính trách nhiệm của bộ máy hành pháp
3.2.3.3. Đổi mới hoạt động của cơ quan tư pháp
3.2.4. Xây dựng cơ chế xác định trách nhiệm trong hoạt động của bộ
máy Đảng và Nhà nước
3.2.5. Nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà
nước
3.2.6. Đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ và các tổ chức thành

hệ qua lại, phụ thuộc lẫn nhau giữa pháp luật và quyền lực, cá nhân và cộng
đồng, công dân và nhà nước, nhằm đảm bảo tính hiệu quả của việc thực thi
quyền lực.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự
mở rộng và tự tăng cường vai trò của mình. Nhìn chung, các chủ thể khi nắm
giữ quyền lực đều có xu hướng sử dụng nó phục vụ cho những lợi ích cá nhân,
lợi ích cục bộ nhóm của mình, làm cho quyền lực bị tha hóa. Và hậu quả của sự
tha hoá đó dẫn đến quyền lực bị suy thoái, mất tác dụng điều tiết các quan hệ
xã hội, hệ thống quyền lực bị tê liệt. Ở mức độ thấp, nó làm cho xã hội rơi vào
trạng thái ngưng trệ, bất ổn; ở mức độ cao, nó có thể đẩy xã hội vào tình trạng
hỗn loạn.
Do nhận thức được quyền lực luôn có xu hướng bị lạm dụng và những
hậu quả mà nó mang lại, nên kể từ khi xã hội loài người được tổ chức thành xã
hội chính trị, con người đã không ngừng quan tâm tìm kiếm những phương
thức khác nhau để kiểm soát quyền lực, để tạo ra một cơ chế đủ sức ngăn chặn
việc tiếm quyền và sử dụng quyền lực trái với mong muốn của chủ thể cầm
quyền. Từ rất sớm, các nhà tư tưởng ở cả phương Đông và phương Tây đã tìm
kiếm và xây dựng những lý thuyết khác nhau để kiểm soát quyền lực. Nhiều
mô hình kiểm soát quyền lực cũng từ đó được hình thành và phát triển. Trong
số rất nhiều lý thuyết và mô hình được đưa ra, thì cho đến nay, hai lý thuyết
được sử dụng nhiều nhất là lý thuyết phân quyền và lý thuyết tập quyền.
Hạt nhân của lý thuyết phân quyền là sự kiềm chế và đối trọng lẫn nhau
giữa các nhánh quyền lực và loại trừ khả năng tập trung toàn bộ quyền lực

6


trong tay một nhánh quyền lực nào đó. Trong khi đó, theo lý thuyết tập quyền,
quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất, được kiểm soát thông qua chức
năng giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đó là Quốc hội. Lý

dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền trong bộ máy nhà nước
diễn ra tương đối phổ biến; có nơi, có lúc vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ
của nhân dân. Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử còn hình thức, còn
nhiều “vùng cấm” bị bỏ qua trong quá trình giám sát. Hệ thống các cơ quan
kiểm tra, thanh tra tuy khá đầy đủ, nhưng chưa phát huy được vai trò của mình,
hầu như không có khả năng phát hiện và xử lý tệ quan liêu, tham nhũng và các
hiện tượng tiêu cực trong bộ máy. Các cơ quan tư pháp vẫn chưa hòan toàn thể
hiện được tính độc lập trong quá trình xét xử, chưa thực sự là “cán cân công lý”
trong việc bảo vệ pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người dân. Vai trò giám
sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên vẫn mang nặng
tính hình thức, ít phát huy tác dụng. Các phương tiện thông tin đại chúng còn
gặp nhiều khó khăn trong hoạt động của mình. Các thiết chế làm chủ của nhân
dân còn chung chung và khó thực hiện..v.v..
Bên cạnh đó, nguyên tắc tập trung dân chủ và cơ chế tập thể lãnh đạo đã
và đang tạo ra tình trạng khó xác định trách nhiệm cụ thể của các cá nhân và tổ
chức trong quá trình thực thi quyền lực. Điều này dẫn đến hiện tượng “núp
bóng tập thể”, nhân danh tập thể để lạm quyền, vụ lợi mà không phải chịu trách
nhiệm. Vì lẽ đó, cơ chế kiểm soát quyền lực tuy có, nhưng chưa phát huy được
hiệu quả.
Những hạn chế nêu trên đã làm cản trở quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và những nỗ lực nhằm mở rộng và phát
huy dân chủ. Đó chính là mảnh đất màu mỡ để sự tha hoá quyền lực tồn tại và
phát triển, nhiều khi làm cho quyền lực nhà nước bị những lợi ích cục bộ làm
cho biến dạng, đi ngược lại với lợi ích chung mà đáng ra quyền lực phải phục
vụ. Đó cũng là lý do giải thích tại sao trong thời gian qua số lượng đơn, thư
khiếu nại, tố cáo của người dân không hề giảm, số lượng cán bộ bị phát hiện vi
phạm pháp luật ngày càng lớn, các điểm nóng xã hội vẫn xảy ra, các vụ án
tham nhũng bị phát hiện và xử lý ngày càng nhiều. Hàng loạt các vụ án đặc biệt
nghiêm trọng được phát hiện và xử lý trong thời gian qua như: vụ Lã Thị Kim
Oanh (Bộ NN&PTNT), vụ án tham nhũng ở Tổng công ty dầu khí Việt Nam,

hai về chính quyền (Two treasures of government), đã cho rằng, trong thể chế

9


chính trị tự do, quyền lực tối cao được chia làm ba lĩnh vực: lập pháp, hành
pháp và liên hợp (quan hệ quốc tế). Các quyền này phải được phân cho các cá
nhân, tổ chức khác nhau nắm giữ chứ không thể tập trung trong tay một người.
Nhưng phải đến Montesquieu, với tác phẩm Tinh thần pháp luật (De L’Esprit
des lois), thì lý thuyết phân quyền mới đạt đến sự hoàn thiện. Tiếp tục phát
triển quan điểm của các tác giả trước đó, ông cho rằng, cách tốt nhất để chống
lạm quyền không phải là tập trung quyền lực nhà nước, mà là phân chia quyền
lực nhà nước ra thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nội dung của lý thuyết phân quyền không chỉ dừng lại ở việc phân định
các chức năng cho các nhánh quyền lực mà còn tiến đến kiểm soát các cơ quan
quyền lực - đó chính là cơ chế kiềm chế và đối trọng. Cơ chế này tạo cơ sở để
các nhánh quyền lực thực hiện sự kiểm soát lẫn nhau. Nó tạo lập mối quan hệ
tương tác và phụ thuộc giữa các nhánh quyền lực, sao cho các nhánh đó có thể
độc lập giải quyết các nhiệm vụ được quy định bằng những phương tiện pháp
lý, đồng thời có thể ngăn chặn sự độc chiếm, thao túng, lạm dụng quyền lực
của các nhánh còn lại.
Trái với lý thuyết phân quyền, một số nhà tư tưởng phương Tây lại cho
rằng, quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất vì nó được hình thành trên cơ
sở sự uỷ quyền của dân, nên phải dùng dân chủ để hạn chế và kiểm soát quyền
lực. Các nhà tư tưởng theo lý thuyết này thống nhất với nhau ở chỗ: xét cho
cùng, muốn dân chủ và tự do thì mọi quyền lực đều phải do nhân dân kiểm soát
thông qua hai hình thức chính: (1) Bầu cử theo nhiệm kỳ, lấy phiếu tín nhiệm
chính phủ và những người cầm quyền - tức là quyết định trực tiếp theo đa số; và
(2) Công luận - tức là giám sát và phản biện quyền lực mang tính thường xuyên
của nhân dân. Trong hai hình thức kể trên, thì bầu cử tự do được coi là phương

hoạt động như thế nào tại Oasinhtơn (The Lobbyists - How influence peddlers
work their way in Washington); Andrew Heywood (2002): Chính trị (Politics).
Bên cạnh đó, một số tác giả còn đề cập đến những khía cạnh cụ thể nhằm
tạo môi trường cho sự kiểm soát quyền lực như: vấn đề quyền con người, tự do
báo chí, tính trách nhiệm và đạo đức trong khu vực công cộng, sự công khai
hoá và dân chủ hoá các quyết định của chính phủ, xây dựng chế độ kiểm toán
11


độc lập và minh bạch hoá tài chính... Các tác giả tiêu biểu của những nghiên
cứu trên là Stapenhurst Rick, Kpundeh Sahr (1999), Kiềm chế tham nhũng Hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch quốc gia (Curbing corruption:
Toward a model for building national integrity); Kriegel và Blandine (1995),
Nhà nước và nhà nước pháp quyền (The State and the rule of law); Micheal
J.Sodaro (2000), Chính trị so sánh - một giới thiệu mang tính

toàn cầu

(Comparative politics - A global introduction) .v.v...
Ở Việt Nam:
Nghiên cứu vấn đề kiểm soát quyền lực ở nước ta vẫn còn là một đề tài
khá mới mẻ và giữa các nhà nghiên cứu còn có những cách tiếp cận khác nhau.
Các tác giả chủ yếu tập trung vào hai hướng: nghiên cứu so sánh các mô hình
của nước ngoài và nghiên cứu mô hình kiểm soát quyền lực ở nước ta.
Nhóm tác giả nghiên cứu các mô hình kiểm soát quyền lực ở nước ngoài
tập trung vào sự phân tích các luận điểm, tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà
nước của các nhà tư tưởng của lý thuyết phân quyền; phân tích mang tính mô tả
hệ thống sự vận dụng và cơ chế vận hành của lý thuyết này trong thiết kế mô
hình kiểm soát quyền lực nhà nước ở các nước tư sản, cụ thể là các chính thể
đại nghị (cả cộng hoà lẫn quân chủ), chính thể cộng hoà (cả cộng hòa tổng
thống và cộng hoà lưỡng tính) thông qua các nhà nước mang tính điển hình

kế, tổ chức bộ máy nhà nước. Trong phần nghiên cứu hệ thống chính trị ở các
nước XHCN, đặc biệt là ở Liên Xô và ở các nước XHCN Đông Âu trước đây,
các công trình chủ yếu làm rõ việc vận dụng lệch lạc, không đúng nguyên tắc
tập trung thống nhất trong tổ chức quyền lực nhà nước, chỉ ra sự lỏng lẻo, yếu
kém và không hiệu quả của các thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước - vốn
được xác định là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho Liên Xô sụp
đổ, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình vận
dụng và đổi mới bộ máy nhà nước. Các công trình tiêu biểu cho cách tiếp cận
này có thể kể đến: Chính trị của chủ nghĩa tư bản hiện tại và tương lai Nxb
CTQG, H.2002 của TS Nguyễn Đăng Thành; Tổ chức và hoạt động thanh tra,
kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới, Nxb CTQG, H.2001; Đề tài
KX 05.02: Chính trị và hệ thống chính trị của các nước tư bản phát triển do GS
Hồ Văn Thông chủ nhiệm; Đề tài KX 04.04: Xây dựng mô hình tổ chức,
phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong nhà nước pháp quyền
13


XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước ta do PGS.TS Trần Ngọc Đường làm
chủ nhiệm; Đề tài KX 04.01: Cơ sở thực tiễn về nhà nước pháp quyền XHCN
của dân, do dân và vì dân do GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm; Đề tài KX
10.10: Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở một số nước trên
thế giới” do PGS, TS Tô Huy Rứa làm chủ nhiệm.v.v...
Bên cạnh việc trình bày, phân tích cách thức vận dụng lý thuyết phân
quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực ở một số nhà nước tư sản, nhiều tác giả
cũng đã đề cập đến việc tiếp thu những hạt nhân hợp lý của sự phân quyền cho
việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam và coi đó là
một trong những yếu tố không thể thiếu trong quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền. Các công trình tiêu biểu bàn về vấn đề này là:
(1) Lê Minh Tâm, Bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự
phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư

thức và khó thực hiện. Đó là lý do giải thích vì sao tình trạng lạm quyền, quan
liêu, tham nhũng khó kiểm soát và ngày càng lộng hành trong đời sống xã hội.
Các công trình bàn về vấn đề này có thể kể đến:
(1) GS, TSKH Đào Trí Úc và PGS, TS Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên),
Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện
nay, Nxb Công an nhân dân, 2003.
(2) PGS, TS Phạm Ngọc Kỳ,Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội,
Nxb CTQG, 2000.
(3) TS Đặng Đình Tân (Chủ biên), Nhân dân giám sát các cơ quan dân
cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Nxb CTQG, 2006.
(4) Dương Bá Thành, Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Chính trị học, 2004.
(5) Đề tài KX 10-07: Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm sự kiểm tra, giám sát
của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ
chức trong hệ thống chính trị do GS,TSKH Đào Trí Úc làm chủ nhiệm.
Có thể thấy, việc nghiên cứu vấn đề kiểm soát quyền lực dù trực tiếp hay
gián tiếp, từ các góc độ khác nhau đã có những thành tựu đáng ghi nhận:
- Các công trình nghiên cứu ngày càng làm rõ hơn tính tất yếu, nội dung,
bản chất, hình thức và cơ chế kiểm soát quyền lực. Hầu hết các công trình đều
15


khẳng định quyền lực nếu không bị kiểm soát chặt chẽ thì xu hướng lạm quyền sẽ
trở nên phổ biến, có thể tạo ra sự kém hiệu quả trong cơ chế thực thi quyền lực.
- Các công trình trên bước đầu cũng đã cung cấp những luận chứng, luận
cứ cho việc cải cách bộ máy nhà nước, tăng cường và mở rộng dân chủ, đề cao
quyền lực của các cơ quan dân cử, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà
nước ở nước ta một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nói chung
còn mang tính tản mạn, thiếu cách tiếp cận hệ thống về cơ chế kiểm soát quyền

1.1.3. Một số nội dung liên quan đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước
1.1.4. Hiến pháp - cơ sở chính trị -pháp lý quan trọng bảo đảm cho việc
kiểm soát quyền lực nhà nước
1.2. CÁC PHƯƠNG THỨC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
1.2.1. Phương thức kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máy nhà nước
1.2.2. Các phương thức kiểm soát quyền lực từ bên ngoài nhà nước
CHƯƠNG 2. CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG TA VỀ KIỂM
SOÁT QUYỀN LỰC
2.1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực
2.1.2. Quan điểm của Đảng ta về vấn đề kiểm soát quyền lực
2.2. CÁC PHƯƠNG THỨC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1.Phương thức kiểm soát quyền lực bên trong nhà nước
2.2.2. Các phương kiểm soát quyền lực nhà nước mang tính xã hội
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ
CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN
LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

17


3.1.1. Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả như một nội dung
trọng tâm của xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
3.1.2. Đổi mới nhận thức về vấn đề kiểm soát quyền lực
3.1.3. Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng đảm bảo và mở
rộng các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân
3.2. CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN

uy quyền hay quyền điều khiển.
Quyền lực là gì? Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau do sự đa dạng
trong nhận thức vấn đề. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, khoa học chính trị đã có
những bước phát triển vượt bậc ở nhiều nước, đặc biệt là ở các quốc gia
phương Tây. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều cách định nghĩa khác nhau
về quyền lực:
- “Quyền lực là khả năng của một người trong một mối quan hệ xã hội cụ
thể thực hiện những mong muốn của anh ta bất kể sự kháng cự”(Max Weber),
- “Quyền lực là khả năng tạo ra sản phẩm một cách có chủ đích”
(Russell, 1938, tr.18).
- “Quan điểm trực giác của tôi về quyền lực như sau: A có quyền lực đối
với B khi anh ta có thể buộc B phải làm một điều gì đó mà B không muốn”
(Dahl, 1957, tr.202).
“Quyền lực là khả năng giành được kết quả thông qua hành động phối
hợp. Nó là sản phẩm của việc huy động sự ủng hộ”.1
1

Leslie Lipson (1965), The Great issues of politics, Prentice-Hall, Inc. Englewood Cliffs, N.J, page 67

19


Như vậy, các quan điểm khác nhau về quyền lực gợi ý cho chúng ta một
cái nhìn tương đối rộng rãi và bao quát về vấn đề này. Giống như câu chuyện
“thầy bói xem voi”, quyền lực được định nghĩa, biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau, tuỳ thuộc vào cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu.
Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên
cứu đều có một cái nhìn khá nhất quán: Quyền lực là năng lực buộc người khác
phải hành động theo ý chí của mình nhờ một sức mạnh nào đó. Tuy nhiên, các
quan niệm trên mới chỉ dừng lại xem xét khái niệm quyền lực ở quan hệ cá

quyền lực đó để gây ảnh hưởng. Chỉ cần những người lính dưới quyền ý thức
được rằng, viên sĩ quan có quyền lực thực sự thì họ đã tuân lệnh anh ta rồi.
Quyền lực trong xã hội tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau. Cách
phân loại quyền lực dựa trên nhiều tiêu chí:
Nếu dựa trên hình thức biểu hiện của quyền lực, theo các tác giả French và
Raven2, sẽ có năm loại quyền lực khác nhau, gồm: Quyền lực chính đáng ((legitimate
power), quyền lực ban thưởng (reward power), quyền lực cưỡng bức (coercive
power) , quyền lực uy tín (Referent power) và quyền lực chuyên gia ((Expert power).
Nếu tiếp cận quyền lực từ các lĩnh vực của đời sống xã hội có thể có các
loại quyền lực: quyền lực xã hội, quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền
lực gia đình và quyền lực tư tưởng.
Nếu tiếp cận từ góc độ tổ chức, có ba loại quyền lực chính là quyền lực
vị trí, quyền lực quan hệ và quyền lực cá nhân.3
Phân loại theo tiêu chí mức độ của quyền lực: đó là quyền quyết định
(Decision making power), quyền phủ quyết (Veto power) và quyền xác định
nghị trình (Agenda setting power).
Phân loại theo tính chất thời gian: Quyền lực liên tục và quyền lực gián đoạn
1.1.1.2. Quyền lực nhà nước và sự cần thiết của quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước là vấn đề trung tâm, cơ bản nhất của đời sống chính
trị - xã hội. Từ trước tới nay, vấn đề này được bàn đến như một trong những
công cụ cơ bản nhất để tổ chức và vận hành đời sống xã hội. Cùng với quá trình
2

French, John R.P. and Bertram Raven. “Bases of Social Power.” Studies in Social
Power. Ed. Dorwin Cartwright. University of Michigan, Ann Arbor,1959.
3

Xem: Đại học Harvard (2005), Quyền lực, tầm ảnh hưởng và sức thuyết phục, NXB Thanh Niên, tr.33-49

21


4

C.Mác và Ph. Ăngghẹn: Toàn tập, Sđd, t.18, tr.421.

22


+ Mặt khác, trong các xã hội luôn tồn tại một tình trạng khách quan là tổng
các giá trị mà xã hội tạo ra bao giờ cũng thấp hơn tổng số nhu cầu của toàn thể
các thành viên của nó. Điều này có nghĩa rằng, trong những xã hội cụ thể luôn
tồn tại những thiếu hụt nhất định. Hệ quả là sự bất đồng, mâu thuẫn xoay quanh
việc phân bổ những giá trị thiếu hụt này là không tránh khỏi. Để giải quyết
những vấn đề trên cần thiết phải có một quyền lực công với chức năng cơ bản
là đưa ra các giải pháp phân bổ giá trị đảm bảo một sự hài hoà nhất định giữa
các giai cấp. Quyền lực công đó về thực chất lại luôn do giai cấp giữ địa vị
thống trị trong xã hội nắm giữ.
Như vậy, quyền lực chính trị nảy sinh từ những nhu cầu chung của cả
cộng đồng xã hội. Nhờ có quyền lực mà xã hội tồn tại trong an ninh, trật tự và
được tổ chức. Sự xuất hiện của quyền lực chính trị đã hướng mọi nỗ lực và
hành vi của mọi thành viên trong xã hội vào việc thực hiện những chuẩn mực
giá trị chung được cả cộng đồng chấp nhận, vì sự tồn tại và vì lợi ích chung của
các thành viên trong xã hội.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng đã cho rằng quyền lực là cái vốn có
trong xã hội. Nguồn gốc của quyền lực nói chung và quyền lực nhà nước nói
riêng được giải thích là do hiện tượng siêu nhiên, là ý niệm tuyệt đối, là sản
phẩm của Thượng đế, Chúa trời. Theo Arixtot, con người do tự nhiên có
khuynh hướng sống thành một cộng đồng chính trị. Con người ngay từ đầu đã
liên kết lại với nhau vì các cá nhân không thể sống thiếu nhau. Điều này không
phải là sự lựa chọn mà là sự bắt buộc tự nhiên. Do vậy, trong xã hội tất yếu sẽ

lực của các cộng đồng tỏ ra quá yếu ớt trước những thách thức của tự nhiên và
của kẻ thù xã hội, xuất hiện nhu cầu cần phải liên hợp, liên kết các cá nhân, các
cộng động lại với nhau. Đây cũng là phương thức hình thành quyền lực xã hội
(hay còn gọi là quyền lực công) buổi ban đầu. Quyền lực xã hội ra đời do nhu
cầu khách quan trong tổ chức đời sống xã hội, đó là việc thực hiện các hoạt
động chung mang tính cộng đồng, nhờ đó xã hội được tổ chức chặt chẽ và theo
một trật tự nhất định. Quyền lực xã hội được các thành viên trong cộng đồng
trao cho một số người có uy tín và kinh nghiệm thừa hành. Những người này
phải nhân danh cộng đồng để thực hiện quyền lực ấy. Họ không có đặc quyền,
đặc lợi cá nhân, không thể bắt cộng đồng phải phục vụ cho lợi ích riêng. Họ
hoàn toàn thực hiện vai trò của mình theo ý chí và quyết định của cộng đồng.
24


Với tư cách này, quyền lực là vũ khí trang bị cho những người được uỷ quyền
để hành động trong khuôn khổ ý chí của cộng đồng.
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội đã nảy sinh người giàu - người
nghèo, quan hệ giai cấp xuất hiện, quan hệ người áp bức người thay thế cho
quan hệ bình đẳng, hợp tác. Sự xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp đã làm
xuất hiện một loại quyền lực mới - quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước.
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp (hay liên minh giai
cấp) nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị của mình, mà về cơ bản là bằng
quyền lực nhà nước.
Trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị của giai cấp (hay liên minh
giai cấp) cầm quyền được tổ chức thành nhà nước. Hay nói cách khác, quyền
lực nhà nước là quyền lực chính trị của một giai cấp (hay liên minh giai cấp)
được tổ chức thành nhà nước.
Với sự xuất hiện của mình, quyền lực nhà nước được xác định là một
dạng đặc biệt của quyền lực chính trị. Tính chất đặc biệt của quyền lực nhà
nước thể hiện ở chỗ nó là quyền lực công khai, thống nhất, bao trùm toàn xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status