Đề tài: Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay, các giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá potx - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Thực trạng cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay,
các giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I . Tính cấp thiết của đề tài :
Tháng 11-2006 vừa qua đã đánh dấu một bước ngoặt lớn của nền kinh tế Việt
Nam.Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Là thành viên của tồ
chức,Việt Nam có được những thuận lợi cơ hội để phát triển nền kinh tế của mình,
song nó cũng là những thức thách cực kì lớn đối với một đất nước có nền kinh tế đang
phát triển như Việt nam.
Gia nhập WTO Việt Nam cần có cái nhìn sâu hơn rộng hơn về kinh tế trong nước
và quốc tế , đặc bịêt là các vấn đề còn tồn tại cần được giải quyết một cách triệt để ,
giúp Việt Nam tự tin hơn trên trường quốc tế .Việt Nam đã đổi mới cơ chế từ năm
1996 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thành tựu quan trọng : trong thời kì
thực hiện chiến lược 10 năm 1991 đến 2000, nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng ;
trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực thực hiện chiến lược 10 năm 2001_2010 , nền kinh
tế dường như “ không chệch hướng “ khỏi quỷ đạo đạt tốc độ tăng trưởng hằng năm
tương đối cao . Ngoài ra còn thành tích khá ấn tượng về ổn định kinh tế vĩ mô , về tốc
độ tăng giá trị xuất khẩu hằng năm, về xoá đói giảm nghèo … chính những thành tích
đạt được và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm dịu đi nỗi băn khoăn về một số chỉ tiêu khác
của đổi mới kế hoạch ,một trong nhưỡng chỉ tiêu đó là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước .
Chính phủ đã đề ra chính sách thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
được 15 năm , tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm chạp đến nay gây cản trở không
nhỏ tới việc phát triển nền kinh tế , tăng thêm thử thách cho Việt Nam khi là thành
viên WTO bởi vì số lượng các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là khá lớn mà
những doanh nghiệp này hiện đang kinh doanh kết quả không mấy lợi nhuận ,chưa kể

chung vốn của các nhà tư bản), và cuối cùng là hình thái công ty cổ phần. Các bước
phát triển trên cũng diễn ra một cách tuần tự về phương diện lịch sử, tuy rằng giữa các
bước chuyển tiếp của các giai đoạn không hề có một ranh giới rạch ròi nào cả. Và do
sự phát triển không đều giữa các nền kinh tế cũng như giữa các lĩnh vực khác nhau của
mỗi nền kinh tế, ngày nay ở bất cứ quốc gia nào cũng có một kết cấu đa sở hữu với sự
có mặt của tất cả mọi loại hình thức sở hữu nói trên. Song điều đặc biệt đáng chú ý là,
càng ở những nền kinh tế có trình độ phát triển cao thì vai trò của hình thái cổ phần
càng lớn. Ở những nền kinh tế này, tuy số lượng những công ty cổ phần nhỏ hơn rất
nhiều so với các loại hình công ty khác, nhưng nó lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng
nguồn vốn đầu tư và quy mô kinh tế mà nó chi phối trong toàn bộ nền kinh tế.
Ngay từ thế kỷ trước, Ph.Ăng-ghen (năm 1895) - trong phần bổ sung cho tập III
bộ Tư bản của C.Mác - đã đánh giá về vai trò và triển vọng của hình thái cổ phần như
sau: “Hãng cá thể thông thường ngày càng chỉ là một giai đoạn chuẩn bị nhằm đưa xí
nghiệp tới một trình độ đủ lớn để trên cơ sở xí nghiệp đó mà “thành lập” công ty cổ
phần. Hơn nữa, điều đó không chỉ đúng với các ngành công nghiệp mà còn diễn ra ở
khắp mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế: thương nghiệp, ngân hàng và các cơ quan tín
dụng, nông nghiệp và “hết thảy mọi khoản đầu tư tư bản ra nước ngoài đều tiến hành
dưới hình thức cổ phần”.
Mức độ phổ biến của hình thái cổ phần trong điều kiện của nền kinh tế thị
trường không phải chỉ là do nó có ưu thế tuyệt đối trong việc tập trung vốn của xã hội
cho những mục tiêu kinh doanh, mà còn bao hàm trong đó những điểm nổi bật sau:
- Dưới hình thức cổ phần những người đồng sở hữu công ty (những cổ đông)
chỉ được hưởng lợi và chỉ phải chịu trách nhiệm có giới hạn ở khuôn khổ số tiền mà họ
đã bỏ ra để mua cổ phiếu của công ty. Như vậy, một mặt về pháp lý, họ chỉ có quyền
nhân danh cá nhân mình chịu trách nhiệm về phần tài sản của mình đã góp vào công ty
theo luật định. Mặt khác, qua thị trường chứng khoán, sự di chuyển của các cổ phiếu
với tư cách là hàng hóa vốn đầu tư, công chúng (các cổ đông) đã “bỏ phiếu tín nhiệm”
có sự bảo đảm “bằng vàng” của mình cho những ngành, những lĩnh vực, những công
ty mà họ cho là có triển vọng nhất. Đồng thời, cơ chế này còn giúp mỗi người đầu tư
4

hữu tư bản, đơn thuần thành những chức năng của những người sản xuất xã hội”. Điều
này có nghĩa là, theo cách tiếp cận của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ
nghĩa Mác thì “chế độ cổ phần là sự thủ tiêu công nghiệp tư nhân trên cơ sở chính
ngay bản thân chế độ tư bản chủ nghĩa; nó càng lan rộng ra và càng bao trùm những
ngành sản xuất mới, thì càng thủ tiêu công nghiệp tư nhân”. Nhân khi biên tập để xuất
bản bản thảo tập thứ III bộ Tư bản của C.Mác, đến vấn đề này, ngay từ năm 1894,
Ph.Ăng-ghen đã viết thêm vào: “Từ khi Mác viết những dòng này cho đến nay, người
ta đều biết rằng nhiều hình thái mới về xí nghiệp công nghiệp đã phát triển, đấy là
công ty cổ phần ở bậc 2 và bậc 3. Tốc độ mỗi ngày một lớn mà ngày nay, người ta có
thể đẩy nhanh sản xuất ở trong tất cả các ngành của nền đại công nghiệp ”
5
Với lô-gíc ấy, thật không khó khăn gì khi thấy rằng, trong các sách báo kinh tế
hiện đại, nhiều khi người ta bắt gặp các phân tích, đánh giá về một thứ “chủ nghĩa tư
bản nhân dân” như là một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thị trường hiện đại. Vì
nhiều lý do, không nhất thiết phải sẻ chia với uyển ngữ này, nhưng lại không phải vì
thế mà phủ nhận được một thực tế là, việc đầu tư ở quy mô quảng đại công chúng
thông qua thể thức của loại hình “công ty vô danh có cổ phần” là rất có ý nghĩa đối với
thu nhập và cuộc sống của bản thân những người tham gia đầu tư vào công ty này.
Tóm lại, trong khuôn khổ của cơ chế kinh tế thị trường, hình thái cổ phần mang
trong mình nó tính chất xã hội hóa sản xuất sâu sắc, là kiểu tổ chức sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển rất cao của lực lượng sản xuất và chiếm vị trí ưu thế, phổ biến
trong các nền kinh tế thị trường hiện đại. Theo nghĩa này, bất kỳ kiểu tổ chức nào nhân
danh sự xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đều cần phải xem hình thái cổ phần như
một trong những hình thái tổ chức sản xuất quan trọng chủ yếu của chế độ kinh doanh.
2. Những vấn đề của cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
a. Điều kiện cổ phần hoá
- Đối tượng cổ phần hóa. Nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến việc lựa chọn
doanh nghiệp nhà nước nào để thực hiện cổ phần hóa. So với quy định ban đầu, chúng
ta đã bổ sung đối tượng cổ phần hóa là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các tổng công
ty nhà nước. Tuy vậy cho đến nay, 77% số doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy

b. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với
tính quy luật chung của các nước
- Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quá
trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây. Điều này khác với các
doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển: là kết quả của quá trình
phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở
rộng quan hệ sở hữu.
- Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơ
chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khác
với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong
cơ chế thị trường, cạnh tranh.
- Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức và
hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thực
hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân
và tuân theo quy luật thị trường.
- Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nước
hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý
do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn
tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để
nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh.
3. Thành tựu đạt được .
Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trên
nhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếp lại
các doanh nghiệp nhà nước. Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp
nhà nước" thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung được coi là
chủ yếu. Chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được khởi động từ đầu
những năm 1990 đến nay đã làm được nhiều việc; trong đó ấn tượng nhất là số lượng
doanh nghiệp nhà nước từ hơn 12 nghìn năm 1992 đã giảm xuống còn gần 2.200 (9-
2006); trong đó, hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanh
7

cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước được nâng lên
đáng kể. Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ động đổi mới công nghệ,
tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu. Cổ phần hoá cũng đã huy động thêm
vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho
người lao động. Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, cổ phần hoá đã thật sự
giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển
sang chủ động, tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủ
hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho người
lao động".
Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, sau
quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tục
giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt. Khu vực doanh nghiệp nhà nước
vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước

.
8
Đặc biệt, Quá trình cổ phần hoá 2005 có những chuyển biến rõ rệt. Số lượng
doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hoá tăng không nhiều nhưng phần đông
trong số đó là các doanh nghiệp làm ăn khá, có quy mô vốn lớn, hấp dẫn công chúng
đầu tư. Trong năm qua, khá nhiều doanh nghiệp “có tên tuổi” hoặc đã lên sàn (chứng
khoán) hoặc đã bước đầu phát hành cổ phiếu: Về điện lực có Thuỷ điện Vĩnh Sơn
(Sông Hinh), Điện lực Khánh Hoà Về công nghệ thực phẩm có Vinamilk, Kinh Đô
Một số Công ty cổ phần cũng đã phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng qua thị
trường chứng khoán như: Sacombank, Exibank, Bảo hiểm Dầu khí Nhiều “đại gia”
khác như: Vina Phone, Mobi Fone, Thuỷ điện Thác Bà cũng đang rục rịch chuẩn bị
phát hành cổ phiếu. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, sau nhiều năm thai nghén,
cũng đã được khai trường. Tất cả những động thái trên đã tạo nên không khí sôi động
cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm, chỉ số Vietnam Index được duy trì
ổn định ở mức cao, thị trường OTC có bước khởi phát
Trong một diễn biến mới nhất, cuối tháng 11 vừa qua, Ngân hàng Ngoại thương

Thứ nhất, quy mô cổ phần hoá vẫn còn nhỏ, tốc độ vẫn còn chậm và còn
nhiều bất cập
9
- Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực
tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa. Bình quân thời gian để
thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty mất 554 ngày.
Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nước
vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới
30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn
chiếm giữ đến 80%.
Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy: chúng
ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị
trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa
trước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường.
Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư
duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân
Sau hơn 10 năm, chúng ta mới cổ phần hoá được khoảng 10% vốn nhà nước tại
các doanh nghiệp nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá
trong thời gian qua là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số gần 3.000 doanh nghiệp
đã được cổ phần hoá chỉ có khoảng 30% là có quy mô vốn trên 5 tỷ đồng. Như vậy rõ
ràng là tình trạng độc quyền của nhà nước trong quản trị doanh nghiệp về cơ bản vẫn
chưa được xoá bỏ. Đây là nguyên nhân chính tiếp tục kìm hãm sức phát triển của nền
kinh tế, làm giảm hiệu quả đầu tư như chúng ta đã nhiều lần đề cập.
Tiến trình cổ phần hoá ở hầu hết các lĩnh vực then chốt, những Tổng Công ty
“đỉnh” vẫn khá ì ạch. Cổ phần hoá Vietcombank - ngân hàng thương mại lớn nhất,
mạnh nhất Việt Nam luôn được nhắc đến như một “bước đột phá” nhưng tiếc thay vẫn
chưa bước ra khỏi giai đoạn chuẩn bị. Kế hoạch cổ phần hoá của nhiều Công ty, Tổng
Công ty lớn cũng đang trong tình trạng tương tự, nghĩa là liên tiếp bị trì hoãn từ năm
này qua năm khác với nhiều lý do khác nhau. Bên cạnh đó, nếu chịu khó quan sát một

mới của công ty cổ phần, chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốc
điều hành”và tất nhiên là hiệu quả kinh doanh cũng không được cải thiện. Vẫn có tới
gần 10% doanh nghiệp hậu cổ phần hoá tiếp tục nằm trong tình trạng thua lỗ. Khá hài
hước nhưng không ngạc nhiên khi có Công ty cổ phần quyết định chia cổ tức bằng
chè, bằng nông sản
Một phần do nhận thức của các cổ đông nhỏ lẻ (cá nhân, cán bộ công nhân
viên ) chưa cao nên có tình trạng là họ hầu như không có thực quyền nào trong việc
kiểm soát phần vốn của mình cũng như thực thi đầy đủ các quyền cơ bản của cổ đông.
Do vậy, ở không ít Công ty cổ phần, thực quyền chi phối doanh nghiệp nằm trong tay
một số ít người có trách nhiệm và nắm được thông tin. Vì thế, hiện tượng lạm dụng
quyền lực vì lợi ích cá nhân là không thể tránh khỏi. Nhiều Công ty cổ phần nhiều năm
không tiến hành đại hội cổ đông, không công khai báo cáo tài chính Bi quan hơn, có
một số doanh nghiệp nhà nước loại “vừa vừa” sau khi được cổ phần hoá đang có nguy
cơ bị “tư hữu hoá”.
Mặt khác, tại nhiều doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi
phối những vẫn giữ tới hơn 51% số cổ phần. Vì vậy, sau khi cổ phần hoá, nhà nước
vẫn nắm giữ quyền quản lý doanh nghiệp và những “vết xe cũ” tiếp tục được lặp lại.
Cổ phần hoá chỉ có ý nghĩa thay đổi một phần sở hữu vốn mà chưa tạo ra sự biến đổi
về chất trong quản trị, điều hành. Việc khống chế vốn cổ phần của cổ đông là nhà đầu
tư nước ngoài trong các Công ty nhà nước được cổ phần hoá cũng là một hạn chế.
Thứ ba, Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế,vẫn dựa
trên quy mô cũ.
Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi
doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề. Việc giải quyết vấn đề tài
chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập như:
Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát và
lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa. Việc xác định giá trị
doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn chưa có Nghị định
187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảm
nhận. Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó,

phần hoá thì còn một số bộ ngành, địa phượng , tổng công ty vẫn còn chần chừ, chỉ nói
nhiều về khó khăn , vướng mắc mà ít tổ chức học tập , nghiên cứu kinh nghiệm của
những nơi đã làm tốt để giải thích ,thuyết phục và chỉ đạo các đợn vị trực thuộc cổ
phần hoá .
Các bộ, ngành, địa phương, tổng công ty 91 nhìn chung đều có đề án tổng thể sắp
xếp lại doanh ngiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lí của mình, trong đó phân loại các
nhóm doanh nghiệp theo chỉ thị số 20/1998/CT-TTg. Nhưng đa số chưa có lộ trình và
12
kế hoạch hàng năm cụ thể về cổ phần hoá. khi chính phủ yêu cầu , các bộ tổng cục chỉ
đạo thực hiện cổ phần hoá một cách đối phó nặng về hình thức nên kết quả còn hạn
chế .
- Xét về cơ cấu doanh nghiệp được cổ phần hoá việc thực hiện cổ phần hoá chưa
được thực hiện đều khắp trong tất cả các lỉnh vực . Cụ thể là các doanh nghiệp được
cổ phần hoá chủ yếu là thuộc ngành công nghiệp, thương mại và xây dựng , số lượng
các doanh nghiệp cổ phần hoá trong các lỉnh vực khác rất ít . Do số lượng doanh
nghiệp được cổ phần hoá không cao , hơn nữa , các doanh nghiệp này chủ yếu là
doanh nghiệp vừa và nhỏ , trên 90% công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới 10 tỷ
đồng , trong đó khoảng trên khoảng trên 75% có vốn dưới 5 tỷ đồng . mặt khác , nhà
nước vẫn còn gữi lại một tỷ lệ đáng kể cổ phần của mình trong các công ty cổ phần ,
nên việc cổ phần hoá nhìn chung chưa có tác động đáng kể đến việc cơ cấu lại vốn của
nhà nước tại các doanh nghiệp . Về cơ bản , chỉ có những doanh nghiệp nhà nước vừa
và nhỏ được cổ phần hoá . các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn và các tổng công ty
hầu như chưa được đề cập . Chính vì vậy , các công ty cổ phần hình thành trên nên
doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá chủ yếu là công ty cổ phần quy mô nhỏ .
Các phương án cải cách chỉ mới tập trung vào việc thu gọn đầu mối, chỉ cổ phần
hoá những doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần giữ 100% vốn của nhà
nước vẫn hoạt động trong những địa bàn không thật sự cần thiết , trong lúc đó , nhiều
tổng công ty quy mô còn nhỏ , mức nộp ngân sách thấp, vai trò mờ nhạt .
- Một số doanh nghiệp cổ phần hoá chỉ mới tập trung vào tiết kiệm chi phí, giảm
giá thành để tăng lợi nhuận , chia cổ tức , trong khi chưa chú trọng đến nhưng vấn đề

mua cổ phiếu ưu đải ở mức bình quân cổ phiếu ưu đải trong doanh nghiệp cổ phần hoá
. Quy định về quyền được mua cổ phần lần đầu đối với cá nhân không quá 5-10% ;
đối với pháp nhân không quá 10-20% tổng số cổ phần đang là một hạn chế khả năng
mua cổ phần của cả người lao động trong doanh nghiệp lẫn các cá nhân , tổ chức kinh
tế , xã hội muốn đầu tư vào doanh nghiệp .
- Thủ tục xác định giá trị của doanh nghiệp nói chung còn rườm rà , thường phải
kéo dài, đặc biệt đối với các doanh nghiệp thuộc các bộ và tổng công ty 91. Theo trình
tự đã được quy định , doanh nghiệp tự tiến hành xác định doanh nghiệp xong báo cáo
bộ, tổng công ty .Bộ, tổng công ty đề nghị bộ tài chính thành lập hội đồng thẩm định
giá trị doanh nghiệp. Bộ tài chính yêu cầu các bộ ,tổng công ty 91 gửi danh sách cán
bộ tham gia Hội đồng thẩm định gias trị doanh nghiệp để quyết định . Công việc này
thường kéo dài từ 1-3 tháng như trong trường hợp khách sạn Thanh Nhàn , Công Ty
Bia , nước giải khát thuộc Tổng công ty Than Việt Nam . Từ khi có hội đồng đến khi
bắt đầu làm việc phải mất 5-10 này, thậm chí có doanh nghiệp đến 20 ngày như trong
trường hợp của công ty đường La Ngà , Tổng công ty mía đường II (Bộ Nông
Nghiệp). Sau đó để có quyết định giá trị doanh nghiệp của bộ Tài Chính cũng phải
mất thêm ít nhất 10 ngày nữa , thậm chí có khi đến gần 4 tháng như trường hợp Công
Ty Phát Triển Tin Học củaa tổng công ty Than Việt Nam , hơn 10 tháng như Công ty
Savimex thành phố Hồ Chí Minh . Cơ chế chính sách đối với công ty cổ phần sau khi
thực hiện cổ phần hoá , đặc biệt là về tài chính , tín dụng , ngân hàng , đất đai chưa
được quy địng rõ nên các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương chưa
có điều kiện giải quyết những khó khăn , vướng mắc phát sinh cho doanh nghiệp một
cách kịp thời .
Với tư cách là hình thức chuyển đổi sỡ hữu doanh nghiệp nhà nước chủ yếu , việc
cổ phần hoá chậm đã ảnh hưởng đáng kể tới quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta .
+ Hạn chế về nhận thức và chỉ đạo thực hiện .
Trong thực tế , nhiêu cán bộ quản lý các lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước
chưa thực sự quyết tâm tiến hành cổ phần hoá doanh nghiêp mà mình đang quản lý.
Cản trở này bắt nguồn từ nhận thức không đúng về cổ phần hoá. Có thể nói rằng, đại

hoá doanh nghiệp nhà nước .Một số Bộ , địa phương và phần lớn doanh nghiệp nhà
nước chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa của chủ trương cổ phần hoá , lo ngại quyền lợi bị
ảnh hưởng hoặc chưa thực sự yên tâm là cổ phần hoá sẽ có hiệu quả .Từ đó nảy sinh
tư tưởng chần chừ , né tránh ,sợ trách nhiệm , e ngại chệch hướng , chờ dợi người
khác làm trước , thiếu chủ động thự hiện . Điều đáng ngại hơn là chính lãnh đạo của
các ngành trung ương , các doanh nghiệp trực thuộc trung ương không chuyển biến
nhanh như ở địa phương .
+ Về chỉ đạo củaa Đảng ,Nhà nước : Việc cổ phần hoá là giải pháp cơ bản, toàn
diện trong sắp xếp , đổi mới ,phát triên và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước .
Do động chạm đến nhiều vấn đề phức tạp nên trong quá trình thực hiện , đảng và nhà
nước vừa làm , vừa rút kinh nghiệm . Thực tế cho thấy nơi nào cấp uỷ đảng , chính
quyền địa phương quan tâm chỉ đạo thì mọi khó khăn lúng túng đều có thể khắc phục
được . Khách sạn Sai Gòn ban đầu chỉ có 25% công nhân viên đăng kí mua cổ phần
nhưng qua gần hai năm kiên trì giải thích, thuyết phục , khi cổ phần hoá đã có 100%
người lao động trong công ty mua cổ phần . Tuy nhiên , đây là vấn đề lớn , phức tạp
không thể tránh khỏi những hạn chế , bất cập nhất định . Những hạn chế về chỉ đạo
thực hiện ở một số khía cạnh sau :
15
- Cơ sở cho cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chưa vững chắc .Việc ban hành
các nghị định , các thông tư , các điều lệ điều chỉnh các vấn đề khác nhau của cổ phần
hoá không giải quyết được mâu thuẫn giữa các văn bản luật có liên quan đến những
vấn đề cụ thể của cổ phần hoá . Đã qua 15 năm thực hiện song chúng ta chưa có được
một văn bản luật có giá trị cao, mang tính hệ thống về cổ phần hoá . mặc dù số lượng
các văn bản về cổ phần hoá được ban hành nhiều , nhất là các thông tư vệ tinh xung
quanh các nghị định , quyết định song số vấn đề được giải quyết trong đó không tăng .
Hơn nữa các văn bản pháp luật đã ban hành chưa xác định đúng loại quan hệ đột phá
trong cổ phần hoá nên tính dàn trải của các quy định điều dễ nhận thấy trong đó .
- Môi trường thật sự bình đảng giữa các thành phần kinh tế chưa được tạo lập.
Doanh nghiệp nhà nước vẫn được nhiều ưu đãi hơn nên và một số cán bộ quản
lý ở các ngành vẫn coi doanh nghiệp đã cổ phần hoá là doanh nghiệp ngoài quốc

Đây chính là một trong những trở lực củaa cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước , bởi
vì nó tạo ra sự sợ hãi ở lãnh đạo củaa các doanh nghiệp nhà nước đang có ý định
tham gia tiến trình cổ phần hoá Mặt, khác các thay đổi có khả năng xảy ra các ngân
hàng thương mại còn hạn chế sự phát triển đối với các công ty cổ phần được hình
thành trên nền tảng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá .Từ tình trạng dễ dàng
được đáp ứng nhu cầu vốn, khi rơi vào hoàn cảnh này , hoạt động sản xuất , kinh
doanh của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá dễ bị tổn thương . Kết quả khảo sát của
viện khoa Học Tài Chính, Bộ Tài Chính thực hiện cho thấy có tới 81% công ty cổ
phần hoá muốn được bình đảng trong việc vay vốn từ ngân hàng thương mại quốc
doanh như khi chưa cổ phần hoá , tức là khi còn là doanh nghiệp nhà nước thuần tuý .
Cũng theo kết quả điều tra , khảo sát này thì 90% công ty cổ phần khẳng định có biểu
hiện của sự phân biệt đối xử củaa ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng .Sự bất lợi của
các doanh nghiệp nhà nước nhà nước cổ phần hoá còn thể hiện ở sự mất đi nhiều lợi
khác so với khi còn là doanh nghiệp nhà nước . Những điều này làm giảm hẳn tiến độ
cổ phần hoá .
2. Giải pháp
Để nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Sau 20 năm chuyển đổi nền kinh tế, nước ta đã đạt được một số thành tựu về tăng
trưởng kinh tế, nhưng hiệu quả, chất lượng tăng trưởng còn chưa cao. Trên nền chung
đó lại diễn ra quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, triển vọng của
quá trình cổ phần hóa sẽ như thế nào có quan hệ chặt chẽ với chất lượng đổi mới nền
kinh tế từ nay trở về sau.
Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ có hiệu quả khi đồng thời tạo
được các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, điều chỉnh phương hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn này, khai thác những lợi thế của đất nước và các nguồn đầu tư bên
ngoài để đưa đến một mô hình kinh tế hợp lý.
Theo dõi quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, giáo sư Đa-vít Đa-pi (David Dapice
đại học Ha-vớt) nêu rõ: thực tế mỗi năm Chính phủ Việt Nam đầu tư khoảng 30%
GDP, nhưng chỉ tăng trưởng 7%-8%. Nếu biết đầu tư đúng thì tăng trưởng phải đạt ở

doanh nghiệp kiểu cũ).
III. PHƯƠNG HƯỚNG , NHIỆM VỤ ĐẾN NĂM 2010 .
Theo số liệu tổng hợp từ các Bộ, địa phương, tổng công ty 91, đến nay, cả nước
còn 2.176 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn
tỷ đồng. Trong đó, 1.546 doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, 335 doanh
nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và 295
nông, lâm trường quốc doanh. Phân theo cơ quan chủ sở hữu, có 301 doanh nghiệp
thuộc tổng công ty 91; 408 doanh nghiệp thuộc tổng công ty 90; 307 doanh nghiệp
thuộc các Bộ, ngành; 1.160 doanh nghiệp thuộc địa phương.
Với những bối cảnh và yêu cầu nêu trên, phấn đấu đến cuối năm 2009, cơ bản
hoàn thành việc sắp xếp DNNN. Cụ thể là:
a) Tiếp tục cổ phần hóa các công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, địa
phương:
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh: tiến hành cổ phần hóa toàn bộ, kể cả
doanh nghiệp hoạt động ở địa bàn khó khăn. Có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp
không phân biệt thành phần kinh tế, thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng đến mua cổ
phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá ở địa bàn này. Những doanh nghiệp có khó
khăn về tài chính cần cơ cấu lại trước khi chuyển đổi sở hữu.
Những doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, kinh tế với an ninh thuộc
Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hoạt động trong lĩnh vực may mặc, xây lắp, thương
mại sẽ cổ phần hóa; trường hợp thật cần thiết Nhà nước mới giữ cổ phần chi phối.
Có chính sách, chế độ lương hợp lý đối với số sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp làm
việc trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.
18
Những công ty không còn vốn nhà nước thì bán, giải thể hoặc phá sản.
Đối với những doanh nghiệp quy mô nhỏ, có cùng ngành nghề hoặc có mối
quan hệ về công nghệ, thị trường với các doanh nghiệp khác thì xem xét sáp nhập,
hợp nhất, không phụ thuộc vào doanh nghiệp do địa phương hay do Trung ương quản
lý để hình thành những doanh nghiệp quy mô lớn hoạt động theo mô hình công ty mẹ -
công ty con.

chắn, giữ vững ổn định sản xuất, không gây tác động đến môi trường đầu tư, đời sống
người lao động và xã hội. Khẩn trương phân loại rõ những tập đoàn, tổng công ty nhà
nước cần nắm giữ 100% vốn; những tập đoàn, tổng công ty cần cổ phần hoá. Nhà
nước chỉ nắm giữ 100% vốn đối với các tập đoàn, tổng công ty hoạt động có hiệu quả,
được Nhà nước giao quản lý, khai thác và phân phối một bộ phận tài nguyên quốc gia,
làm công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô.
Các tổng công ty nhà nước là những doanh nghiệp có quy mô lớn, đa số hoạt
động có hiệu quả, tuy nhiên, vẫn còn một số tổng công ty kết quả sản xuất, kinh doanh
còn thấp. Để cổ phần hóa một cách hiệu quả, cần phân thành hai loại: loại hoạt động
có hiệu quả thì tiến hành cổ phần hóa ngay, loại hiệu quả chưa cao thì cần làm rõ
19
nguyên nhân để có biện pháp nâng cao hiệu quả trước khi cổ phần hóa như: đầu tư, sắp
xếp lại, lành mạnh hóa tình hình tài chính, đổi mới tổ chức cán bộ.
c) Cổ phần hoá các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm:
Ngân hàng thương mại nhà nước là loại doanh nghiệp đặc thù, là một kênh
cung cấp vốn quan trọng nhất cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp
nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại nhà nước có vốn điều lệ và
hệ số an toàn vốn còn thấp, năng lực quản lý, trình độ công nghệ còn yếu, các sản
phẩm, dịch vụ của ngân hàng còn nghèo, mới tập trung chủ yếu vào hoạt động cấp tín
dụng. Ngân hàng thương mại nhà nước nhìn chung chưa thật sự đáp ứng nhu cầu vay
vốn, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp chưa thật sự bình đẳng, vừa là đối
tác, vừa là bạn hàng, gắn bó chặt chẽ với nhau để hoạt động và phát triển. Trong các
năm 2007 - 2010, cần tập trung chỉ đạo đổi mới và phát triển ngân hàng thương mại
nhà nước theo các hướng sau:
Đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà đồng
bằng sông Cửu Long, cần khẩn trương thực hiện các công việc mà Thủ tướng Chính
phủ đã quyết định, hoàn chỉnh trình Thủ tướng Chính phủ đề án cổ phần hóa ngay
trong năm 2006 để hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2007.
Đối với ba ngân hàng thương mại còn lại (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông

đựng tính chất xã hội hóa rất cao trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, nên việc cổ
phần hóa ở nước ta hiện nay với nội dung chủ yếu là chuyển một phần các doanh
nghiệp nhà nước (hay còn gọi là các doanh nghiệp quốc doanh) sang hình thức công ty
cổ phần về thực chất là sự chuyển đổi hình thức xã hội hóa quá trình sản xuất từ dạng
doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần. Sự thay đổi ở đây không phải là
bản chất xã hội hóa của sản xuất mà là phương cách tổ chức sản xuất kinh doanh, phù
hợp với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế
thị trường. Vì thế, sự trì trệ của tiến trình cổ phần hóa ở nước ta sẽ là không có lý do
chính đáng nếu cho rằng nguyên nhân của tình hình chủ yếu do sự “ách tắc” về
phương diện quan điểm tư duy lý luận. Thật vậy, tuy chưa phải là mọi vấn đề cơ bản
về cổ phần hóa đã được giải quyết, song đã bước đầu có được một số kết luận quan
trọng từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn để làm cơ sở cho việc đẩy nhanh quá
trình thực hiện cổ phần hóa. Hai trong số những vấn đề có ý nghĩa then chốt nhất là:
- Dưới góc độ của kinh tế thị trường, cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa.
Về điều này, sự phân tích về tính chất xã hội hóa của hình thái cổ phần so với các hình
thái công ty khác ở phần trên đã rất rõ. Điều còn “chưa hoàn toàn rõ” ở đây chỉ là
tương quan giữa hình thái cổ phần và doanh nghiệp quốc doanh, mà cụ thể là, liệu rằng
việc chuyển một phần các doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần có làm
cho tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị suy yếu đi không? Trong vấn đề này,
ít nhất có một điều đã rõ là, không phải tỷ lệ kinh tế thuộc doanh nghiệp quốc doanh
càng lớn về mặt lượng thì tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế càng cao. Đây là
một sự nhầm lẫn về nhận thức đã được thực tiễn lịch sử kiểm chứng và xác nhận. Kết
luận rút ra từ đây là, chưa có căn cứ xác đáng để khẳng định rằng, giảm bớt số lượng
doanh nghiệp quốc doanh, trong đó có việc cổ phần hóa một số bộ phận của chúng thì
tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế sẽ bị xói mòn. Song, thách thức về mặt lý
luận lại là ở chỗ, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp quốc doanh sẽ có tác động
ảnh hưởng gì đến tính chất xã hội chủ nghĩa (hay chính xác hơn là tính chất định
hướng xã hội chủ nghĩa), trong đó, điều đáng được kỳ vọng hơn cả là quá trình này
chẳng những sẽ không làm cho tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị suy yếu
đi, mà trái lại, có thể còn nâng cao hơn so với hiện trạng được không? Chúng tôi nghĩ

Huống chi, theo lô-gíc của cơ chế kinh tế thị trường thay thế nó, cổ phần hóa
không phải là tư nhân hóa, mà là hình thái tổ chức sản xuất mang tính chất xã
hội hóa cao nhất, đối lập với kinh tế tư nhân.
Rõ ràng là không thể chối bỏ được những lý do chính đáng khi đặt vấn đề xem
xét lại một cách nghiêm túc vai trò của các doanh nghiệp quốc doanh, bởi tính chất xã
hội chủ nghĩa của nền kinh tế chỉ có thể trông cậy vào những doanh nghiệp quốc
doanh có hiệu quả cao hoặc bất khả thay thế chứ không phải vào bất kỳ mọi doanh
nghiệp nào mang danh doanh nghiệp quốc doanh. Vì thế, chúng tôi chia sẻ quan điểm
cho rằng không nên đặt vấn đề: làm thế nào để mở rộng các doanh nghiệp quốc doanh
(hay doanh nghiệp nhà nước), mà phải là: làm thế nào để tăng cường (nâng cao) sức
mạnh kinh tế của Nhà nước. Sở dĩ như vậy là vì, bản thân các doanh nghiệp nhà nước
chỉ là một trong số nhiều công cụ khác nhau trong tay Nhà nước để điều hành nền kinh
tế theo ý chí của mình chứ không phải là một công cụ duy nhất hay có khả năng thay
thế cho tất cả mọi loại công cụ khác. Trong điều kiện của kinh tế thị trường, để điều
hành nền kinh tế, ngoài cách thông qua các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước còn
dùng (và chủ yếu là dùng) các loại công cụ khác như hệ thống luật, các chính sách
kinh tế vĩ mô, bộ máy quản lý hành chính về kinh tế, v.v Để có khả năng hướng nền
kinh tế đi theo những mục tiêu đã định, Nhà nước rất cần có thực lực sức mạnh kinh tế
của mình. Để tăng cường sức mạnh kinh tế của mình, việc sử dụng các công cụ với tư
23
cách của cả hệ thống đồng bộ và nhất quán chắc chắn sẽ có kết quả tốt hơn so với việc
chỉ dựa vào việc đề cao một loại công cụ nhất định. Đặc biệt là trong trường hợp sử
dụng các doanh nghiệp nhà nước, khi mà việc gia tăng số lượng loại công cụ này chưa
hẳn đã làm cho chính nó mạnh hơn. Ấy là chưa kể tới việc không hiếm khi những nỗ
lực mở rộng khu vực kinh tế này đã lấy đi mất quá nhiều nguồn lực có hạn của quốc
gia mà lẽ ra có thể dành cho việc cải thiện sức mạnh kinh tế của Nhà nước theo quan
điểm hệ thống và xét từ góc độ hiệu quả.
Tóm lại, cần phân biệt sự khác nhau giữa doanh nghiệp nhà nước với sức mạnh
kinh tế của Nhà nước. Trong đó, cái cần tăng cường để bảo đảm giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là sức mạnh kinh tế của Nhà nước được nhìn nhận

nền sản xuất được xã hội hóa từ dạng thức doanh nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp
nhà nước) hiểu theo nghĩa của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang dạng
thức công ty cổ phần thích hợp với cơ chế thị trường. Cổ phần hóa không phải là một
phong trào hay chiến dịch làm một lần là xong. Có lẽ chỉ trừ một số rất ít trường hợp,
còn lại nói chung có thể có rất nhiều doanh nghiệp nhà nước (hiểu theo nghĩa 100% cổ
phần do nhà nước nắm giữ) vẫn có thể thực hiện “cổ phần hóa” rộng rãi trong công
chúng trong tương lai khi có điều kiện thích hợp. Đồng thời ngược lại, cũng có thể có
những công ty cổ phần được nhà nước mua lại toàn bộ số cổ phần trong những trường
hợp cần thiết phải làm như vậy.
- Vì các doanh nghiệp nhà nước vốn từ đầu đã thuộc sở hữu toàn dân nên rất
cần công khai hóa các thông tin kinh tế cần thiết về các doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hóa, không những chỉ với những người làm việc trong các doanh nghiệp đó mà
với toàn xã hội.
- Đứng trước thách thức và cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế, sự vận hành của
cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải theo kịp tiến trình hội nhập. Do vậy,
cần phải quy định bắt buộc tất cả các doanh nghiệp nhà nước (kể cả cổ phần hóa lẫn
không cổ phần hóa) phải tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tính cần thiết
của quy định này dựa trên các ưu điểm cụ thể của thị trường chứng khoán, mà đại thể
là:
+ Thị trường chứng khoán là một kênh thu hút vốn quan trọng từ xã hội để đầu
tư phát triển. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhà nước
nói riêng hiện đang rất thiếu vốn, đặc biệt là đứng trước nhu cầu đầu tư để hiện đại hóa
công nghệ sản xuất, cần phải và không nên bỏ qua kênh tạo vốn ngày càng có ý nghĩa
quan trọng này.
+ Thị trường chứng khoán là loại hình thị trường phổ biến và có ý nghĩa như
một trong những chỉ số quan trọng biểu thị mức độ phát triển của bất kỳ nền kinh tế thị
trường nào. Vì vậy, cùng với quá trình hội nhập, hình thái buôn bán trên thị trường
chứng khoán cũng sẽ trở nên phổ cập ở Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước với tư
cách là bộ phận giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, không thể không trở thành lực
lượng đi tiên phong trong việc góp phần tạo ra thị trường chứng khoán bằng cách trực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status