LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - Pdf 68

lý luận cơ bản về tài chính doanh nghiệp
1-Bản chất và khái niệm tài chính doanh nghiệp
a. Khái niệm
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế dới hình thái
tiền tệ giữa doanh nghiệp và môi trờng xunh quanh nó, những mối quan hệ này
nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
b. Bản chất
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì nhà kinh doanh
đều phải có một lợng vốn ban đầu nhất định đợc huy động từ các nguồn khác
nhau nh: Tự có, ngân sách cấp, liên doanh liên kết, phát hành chứng khoán hoặc
vay của ngân hàng.... Số vốn ban đầu đó sẽ đợc đầu t vào các mục đích khác nhau
nh: xây dựng nhà xởng, mua sắm máy móc thiết bị, vật t và thuê nhân công. Nh
vậy, số vốn ban đầu khi phân phối cho các mục đích khác nhau thì hình thái của
nó không còn giữ nguyên dới dạng tiền tệ ban đầu mà đã biến đổi sang hình thái
khác là những hiện vật nh nhà xởng, máy móc thiết bị, đối tợng lao động... Quá
trình phân chia và biến đổi hình thái của vốn nh vậy là quá trình cung cấp hay nói
cách khác là quá trình lu thông thứ nhất của quá trình sản xuất kinh doanh. Quá
trình tiếp theo là sự kết hợp của các yếu tố vật chất nói trên dể tạo ra một dạng vật
chất mới là sản phẩm dở dang, kết thúc quá trình này thì thành phẩm mới đợc xuất
hiện. Quá trình đó chính là quá trình sản xuất sản phẩm. Sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ phải trải qua quá trình lu thông thứ hai, quá trình tiêu thụ, để vốn dới
dạng thành phẩm trở lại hình thái tiền tệ ban đầu thông qua khoản thu bán hàng
của doanh nghiệp. Số tiền thu đợc đó lại trở về tham gia quá trình vận động biến
đổi hình thái nh ban đầu. Quá trình vận động nh vậy lặp đi lặp lại liên tục và có
tính chất chu kỳ. chính sự vận động biến đổi hình thái nh trên của vốn tạo ra quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ta có thể khái quát quá trình vận
động đó qua sơ đồ sau:
(QT cung cấp) (QT sản xuất) (QT tiêu thụ)
Tiền Hiện vật SPdở dang TH.Phẩm Tiền
(Nhà xởng,
vật t)

Theo các nhà kinh tế học, tài chính doanh nghiệp đợc coi là có hai chức năng
cơ bản là:
-Chức năng phân phối.
-Chức năng kiểm tra (giám đốc) bằng tiền.
Trớc hết nói về chức năng phân phối của tài chính, ta thấy rằng để có thể tiến
hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào thì số vốn huy động đợc của
doanh nghiệp phải đợc phân chia cho các mục đích khác nhau. Một phần vốn
dùng cho việc đầu t xây dựng nhà xởng, mua sắm máy móc thiết bị, những phần
khác dùng cho mục đích mua sắm các đối tợng lao động và thuê nhân công... Nếu
tiền vốn tập trung lại mà không chia ra cho các mục đích nh trên thì nó chỉ có ý
nghĩa là phơng tiện dự trữ giá trị mà không giúp gì cho việc sáng tạo giá trị mới
cho doanh nghiệp. Tuy vậy, việc phân phối phải dựa trên các tiêu chuẩn và định
mức đợc tính toán một cách khoa học trên nền tảng là hệ thống các mối quan hệ
kinh tế của doanh nghiệp với môi trờng xung quanh nó. Ta hãy xét một trờng hợp
giả định nh sau: Giả sử một ngời có trong tay số tiền 500 triệu đồng, số tiền này
có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nếu ngời đó đem toàn bộ số tiền mua
thành vàng hoặc đá quý để cất giữ, việc làm nh vậy không giúp ngời đó có thêm
số lợng vàng mới và những lợng giá trị mới theo thời gian. Với mục đích duy nhất
là cất giữ nh vậy nên số vốn ban đầu chỉ có vai trò là phơng tiện dự trữ giá trị, ng-
ời chủ của nó không cần quan tâm đến các mối quan hệ kinh tế với môi trờng
xung quanh, thậm chí còn cố gắng để không tiết lộ các thông tin liên quan đến số
tiền đó. Trờng hợp ngợc lại, số vốn trên đợc đầu t vào hoạt động sản xuất kinh
doanh với mục đích làm cho nó sinh sôi nảy nở càng nhiều, thì nó phải đợc phân
chia.
Chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính, ta thấy sau mỗi quá trình sản
xuất kinh doanh kết quả mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều
đợc thể hiện bằng các chỉ tiêu tài chính nh thu, chi, lãi, lỗ... Các chỉ tiêu tài chính
đó tự bản thân nói lên kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt ở mức độ
nào đồng thời cũng thể hiện quá trình phân phối còn bất hợp lý ở chỗ nào tức là có
mối quan hệ tài chính nào cha đợc thực hiện thoả đáng, qua đó nhà quản lý có thể

*Mục đích: - Vốn cố định- tài sản cố định là một yếu tố quan trọng để thực hiện
hoạt động sản xuất kinh Doanh nghiệp
- Vốn cố định- tài sản cố định là một yếu tố cơ bản tạo ra khối lợng
sản phẩm nâng cao năng suất và chất lợng sản phẩm
- Vốn cố định- tài sản cố định phản ánh quy mô, năng lực sản xuất
của Doanh nghiệp tại một thời điểm nghiên cứu, nó phản ánh giá trị của Doanh
nghiệp chính là vốn
- Qua công tác quản lý Vốn cố định- tài sản cố định có thể làm căn
cứ xác định nhu cầu về vốn
*ý nghĩa: Nhàm phát hiện ra những bất hợp lý, sai sót trong quá trình sử dụng,
xác định nhu cầu để điều chỉnh Vốn cố định- tài sản cố định. Từ đó đa ra các biện
pháp phù hợp
* Khái niệm: - Tài sản cố định là những t liệu lao động với nội dung vật chất là
Vốn cố định
* Đặc điểm: Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và qua mỗi một
chu kỳ nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó giảm dần và
dịch chuyển dần vào sản phẩm thông qua hình thức khấu hao
* Phân loại: tài sản cố định rất phong phú, đa dạng về chủng loại tính năng tác
dụng, giá trị, thời gian sử dụng... để quản lý tốt tài sản cố định ngời ta tiến hành
phân loại. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu ngời ta có các cách phân loại tơng ứng
và với mỗi cách phân loại sẽ cho một cơ cấu tài sản cố định tức là số lợng và tỷ
trọng của từng bộ phận trong tổng thể và qua mỗi một cơ cấu ngời ta sẽ có các
biện pháp quản lý phù hợp
+Phân loại căn cứ vào hình thái vật chất
- tài sản cố định hữu hình: tài sản cố định có hình thái vật chất
- tài sản cố định vô hình:tài sản cố định không có hình thái vật chất
+ Căn cứ vào tình hình sử dụng
- Tài sản cố định đang khai thác
- Tài sản cố định sửa chữa lớn
- Tài sản cố định chờ thanh lý

- Về mặt số lợng
- Về mặt chất lợng
+ Các chỉ tiêu hiệu quả
- Sức sản xuất
- Hấp thụ vốn
- Tỷ suất lợi nhuận
3.2 Quản lý Vốn lu động- Tài sản lu động
*Mục đích:
- Vốn lu động- Tài sản lu động là những đối tợng lao động là một yếu tố của quá
trình sản xuất tạo ra khối lợng sản phẩm trong quá trình sản xuất.
- Vốn lu động- Tài sản lu động bao gồm rất nhiều chủng loại khác nhau. Với mỗi
chủng loại quá trình vận động tham gia sản xuất khác nhau. Qua tìm hiểu nghiên
cứu mới đa ra đợc biện pháp quản lý phù hợp
- Vốn lu động- Tài sản lu động là một bộ phận vốn sản xuất tài sản của Doanh
nghiệp phản ánh đợc năng lực, mức độ đảm nhiệm về vốn. Qua nghiên cứu xác
định đợc nhu cầu về vốn, đảm bảo đợc nhu cầu về vốn, đảm bảo đợc vốn cho sản
xuất.
- Vốn lu động- Tài sản lu động tham gia vào quá trình sản xuất tạo nên giá trị sản
phẩm do đó chi phí vốn hợp lý sẽ xác định giá thành hợp lý góp phần nâng cao
hiệu quả Doanh nghiệp.
* ý nghĩa: Qua nghiên cứu sẽ xác định đợc nhu cầu về vốn đảm bảo vốn cho sản
xuất, đa ra đợc biện pháp phù hợp. Quản lý Vốn lu động- Tài sản lu động là một
trong những công tác rất quan trọng góp phần quyết định việc tiết liệm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm từ đó nâng cao đợc hiệu quả hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status