Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự - Pdf 68

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bài viết độc giả gửi – Tác giả xin được ẩn danh
ThoLaw xin chân thành cảm ơn sự đóng góp, chia sẻ của các bạn. Mọi bài viết các bạn
có thể tiếp tục chia sẻ quan hòm thư
Các rủi ro tiềm ẩn trong quá trình vận động của các sự vật luôn là một lực lượng không
thể kiểm soát được và dường như đã trở thành một sức mạnh đe doạ tới sức khoẻ, tính
mạng con người, của cải vật chất trên phạm vi toàn xã hội. Khi các rủi ro xảy ra thường
kéo theo những tổn thất không lường và để lại hậu quả lâu dài, ảnh hưởng sâu sắc đến
đời sống của con người, đến một cộng đồng dân cư, thậm chí đến cả một xã hội. Các
rủi ro có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng bất luận là nguyên nhân
nào đều gây ra một hậu quả là làm cho người gặp rủi ro lâm vào tình trạng khó khăn
trong đời sống, trong một số trường hợp tự họ không thể khắc phục được. Trong các
trường hợp này, nếu người gặp rủi ro đã tham gia bảo hiểm và rủi ro mà họ gặp đã
được bảo hiểm, thì bằng nguồn vốn của mình, công ty bảo hiểm thực hiện việc chi trả
tiền bảo hiểm một cách kịp thời. Từ đó người gặp rủi ro trong trường hợp này sẽ dễ
dàng vượt qua được khó khăn do rủi ro đã mang đến.
I. Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm.
Để khắc phục một phần thiệt hại do những rủi
ro xảy ra đối với tính mạng, tài sản, trách
nhiệm dân sự, Nhà nước khuyến khích cá nhân
và các tổ chức tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm là
một hình thức khắc phục thiệt hại cho cá nhân,
tổ chức khi gặp những sự kiện rủi ro gây thiệt
hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của mình.
Khi có rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm
được tổ chức bảo hiểm bồi thường thiệt hại
nhằm khắc phục hậu quả xảy ra. Mức độ bồi
thường bao nhiêu phụ thuộc vào hợp đồng bảo
hiểm mà các bên thoả thuận.
Theo quy định tại Điều 567 BLDS, hợp đồng
bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo

khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm chi
trả cho người thứ ba được xác định. Hoặc bên
mua bảo hiểm không phải bảo hiểm cho mình
mà bảo hiểm cho người thứ ba. Ví dụ: cha mẹ
mua bảo hiểm tính mạng, sức khoẻ cho con là
học sinh tiểu học.
Đối tượng bảo hiểm có thể là con người, tài
sản, trách nhiệm dân sự hay các đối tượng
khác theo quy định của pháp luật. Con người
là đối tượng bảo hiểm được hiểu là tính mạng,
sức khoẻ của cá nhân bị tổn thất do sự kiện rủi
ro…Tài sản bảo hiểm là tài sản của cá nhân,
pháp nhân và các chủ thể khác được bên bảo
hiểm bồi thường thiệt hại do các sự kiện bảo
hiểm xảy ra. Trách nhiệm dân sự là đối tượng
bảo hiểm được hiểu là bên bảo hiểm phải thực
hiện việc bồi thường thay cho chủ các phương
tiện giao thông vận tải…trong phạm vi số tiền
được bảo hiểm do thoả thuận hoặc do pháp
luật quy định khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Việc tham gia bảo hiểm của các bên phải được
thực hiện bằng hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm
phải được lập thành văn bản. Giấy yêu cầu bảo
hiểm có chữ kí của bên mua bảo hiểm là một
bộ phận không thể tách rời của hợp đồng bảo
hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn
bảo hiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp
đồng bảo hiểm.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, hợp đồng bảo
hiểm có thể được phân chia thành các loại sau:

bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm
dân sự của người tham gia bảo hiểm đối với
bên thứ ba theo quy định của pháp luật ”.
(Điều 52 Luật kinh doanh bảo hiểm). Khác với
hợp đồng bảo hiểm tài sản có đối tượng là tài
sản cụ thể, hợp đồng bảo hiểm con người là
bảo hiểm đối với một người cụ thể; đối tượng
của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người
tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba. Đó là
thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai, trong
phạm vi, giới hạn bảo hiểm và thuộc trách
nhiệm bồi thường của bên tham gia bảo hiểm.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại mang tính
trừu tượng chúng ta không nhìn thấy, không
cảm nhận được bằng các giác quan và thực tế
chúng không tồn tại hiện hữu trong không gian
tại thời điểm giao kết hợp đồng. Chỉ khi nào
người tham gia bảo hiểm gây thiệt hại cho
người khác và phải bồi thường thì mới xác
định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại là
bao nhiêu. Thường đối với các hợp đồng bảo
hiểm tài sản ta có thể xác định được mức tổn
thất tối đa của tài sản khi giao kết hợp đồng,
còn với các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm
dân sự thì không thể xác định được trách
nhiệm bồi thường thiệt hại tối đa là bao nhiêu.
Mức trách nhiệm bồi thường được xác định
theo thoả thuận của các bên và các quy định
của pháp luật, trên cơ sở mức độ lỗi của người

của người thứ ba.
Nếu đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại nhưng người thứ ba không đòi người tham
gia bảo hiểm phải bồi thường, thì doanh
nghiệp bảo hiểm cũng không phải chịu trách
nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm. Việc
bồi thường thiệt hại có thể là bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng, cũng có thể là bồi thường
thiệt hại theo hợp đồng. Đối với việc bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người thứ
ba có thể là bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào bị
thiệt hại. Còn bồi thường thiệt hại theo hợp
đồng thì người thứ ba được xác định cụ thể là
người có một quan hệ hợp đồng đối với người
tham gia bảo hiểm và bị thiệt hại từ hợp đồng
đó do hành vi của người tham gia bảo hiểm
gây ra. Hợp đồng bảo hiểm chỉ tồn tại giữa
người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm, người thứ ba không có quyền trực tiếp
yêu cầu doanh nghiệp trả tiền bồi thường, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu
pháp luật không có quy định khác thì người
thứ ba chỉ có quyền đòi bồi thường đối với
người tham gia bảo hiểm, trên cơ sở đó doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường cho người
tham gia bảo hiểm và trách nhiệm bồi thường
cho người thứ ba thuộc về người tham gia bảo
hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và người tham
gia bảo hiểm có thể thoả thuận về việc doanh
nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho

ra nhằm mục đích giới hạn phạm vi trách
nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, để đảm
bảo kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp bảo
hiểm phải tính toán để giới hạn phạm vi trách
nhiệm của mình trong hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự cụ thể. Đối với một số
trường hợp ngoại lệ, khi doanh nghiệp bảo
hiểm ký hợp đồng với người tham gia bảo
hiểm, trong hợp đồng không xác định số tiền
bảo hiểm cụ thể thì khi rủi ro xảy ra doanh
nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ bảo hiểm đối với
toàn bộ thiệt hại.
1.3. Phân loại hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự.
Căn cứ vào tính ý chí của chủ thể tham gia
hợp đồng bảo hiểm thì bảo hiểm trách nhiệm
dân sự được chia thành hai loại là hợp đồng
bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và hợp
đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự tự nguyện.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh trách nhiệm,
bảo hiểm trách nhiệm dân sự chia thành hai
loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
phát sinh theo hợp đồng và hợp đồng bảo
hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh ngoài hợp
đồng.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm cụ thể, hợp
đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chia thành
các loại là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm của chủ

thông, kéo theo các vụ kiện đòi bồi thường của
nạn nhân hoặc gia đình họ đối với người gây
thiệt hại. Có tai nạn, có kiện đòi bồi thường,
Www.ThoLaw.Wordpress.Com
5
rồi xác định được mức bồi thường thì vấn đề
đặt ra lại là thực tế việc bồi thường được tiến
hành như thế nào? Một vấn đề kéo theo là xã
hội còn phải đối mặt với tình trạng bồi thường
cho nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông.
Có rất nhiều trường hợp nạn nhân không nhận
được tiền bồi thường từ những người gây ra
tai nạn, thậm chí trong những trường hợp
người gây ra tai nạn được xác định rõ ràng. Lý
do rất đơn giản là người gây ra tai nạn không
có đủ nguồn tài chính tối thiểu để thực hiện
nghĩa vụ luật định đối với nạn nhân. Trên thực
tế, không phải trường hợp nào người không
may bị tai nạn cũng được đền bù, bồi thường
nhanh chóng đúng như theo luật định, và
người gây tai nạn không phải lúc nào cũng sẵn
sàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm
tài chính của mình đối với những thiệt hại của
người bị nạn do mình gây ra khi điều kiện tài
chính không đủ để đáp ứng. Tuy nhiên nếu
chủ chiếc xe đó đã tham gia mua bảo hiểm bắt
buộc thì mọi việc sẽ được giải quyết thuận lợi
hơn cho cả đôi bên. Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ
thay mặt chủ xe đền bù cho nạn nhân nếu
được yêu cầu hoặc trong trường hợp chủ xe đã

theo quy định của pháp luật.
2.1. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự.
Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm gồm:
Bên nhận bảo hiểm (bên bán bảo hiểm) và bên
tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm).
Bên nhận bảo hiểm.
Www.ThoLaw.Wordpress.Com
6
Bên nhận bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo
hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết
nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. Theo quy
định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thì
bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức
có tư cách pháp nhân và được phép hoạt động
kinh doanh bảo hiểm, được gọi là doanh
nghiệp bảo hiểm.
Bên tham gia bảo hiểm.
Bên tham gia bảo hiểm là bên đã nộp cho bên
nhận bảo hiểm một khoản tiền là phí bảo
hiểm. Khác với bên nhận bảo hiểm, bên tham
gia bảo hiểm là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào
khi có nhu cầu bảo hiểm về một đối tượng bảo
hiểm nhất định hoặc trong trường hợp pháp
luật buộc phải tham gia bảo hiểm về một trách
nhiệm dân sự nhất định. Nếu bên tham gia bảo
hiểm là cá nhân thì phải có đủ năng lực hành
vi dân sự. Năng lực hành vi dân sự là khả năng
tự có của chủ thể trong việc thực hiện kiểm
soát và làm chủ hành vi của mình. Chủ thể

Đơn bảo hiểm.
Đơn bảo hiểm thường là hình thức của hợp
đồng bảo hiểm tự nguyện, có thể có các dạng
khác nhau và thường bao gồm nhiều trang.
Các thông tin ghi trên đơn chi tiết, cụ thể tất cả
các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm:
tên, địa chỉ của chủ doanh nghiệp bảo hiểm;
bên mua bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; số
tiền bảo hiểm; phạm vi bảo hiểm; điều kiện
bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo
Www.ThoLaw.Wordpress.Com
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status