SỰ RA HOA VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ RA HOA
XOÀI
Trong điều kiện tự nhiên ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cây xoài thường ra hoa tự
nhiên vào tháng 12-1 và thu hoạch tập trung từ tháng 4-5 (Trần Văn Hâu, 1997). Mặc dù
cơ chế sự ra hoa xoài cho tới nay vẫn là điều bí ẩn! (Chacko, 1991), tuy nhiên những
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa xoài như giống, biện pháp canh tác,
khí hậu, đặc điểm sinh lý của cây, đặc biệt là các chất điều hòa sinh trưởng rất được quan
tâm nhằm có thể có tìm ra những biện pháp thích hợp để kiểm soát sự ra hoa và sản suất
xoài một cách hiệu quả ở những thời điểm thích hợp trong năm.
1. Đặc điểm ra hoa của cây xoài
Cây xoài ra hoa trên chồi tận ngọn. Hoa xoài có hai loại là hoa đực và hoa lưỡng tính
(Hình 6.1 ). Mỗi hoa mang từ 0-2 bao phấn hữu thụ và 0-6 bao phấn bất thụ. Tỉ lệ hoa
lưỡng tính thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết.
Khảo sát đặc tính thái hoa và sự mở bao phấn của 8 giống xoài Bưởi, cát Hòa Lộc,
Châu Hạng Võ, Falun, Nam Dok Mai, Thơm, và Thanh Ca, Lê Thanh Tâm (2002) nhận
thấy 100% hoa lưỡng tính của hai giống Bưởi và Falun đều có bao phấn hữu thụ, trong
khi xoài cát Hòa Lộc và xoài Thơm có 15% số hoa lưỡng tính không có bao phấn hữu
thụ. Tỉ lệ bao phấn mở thấp nhất là xoài cát Hòa Lộc (20%) và cao nhất là xoài Nam Dok
Mai (92,5%).
Khảo sát đặc điểm ra hoa và đậu trái của bốn giống xoài cát Hòa Lộc, Thanh Ca, Thơm
và Nam Dok Mai (Đặng Thanh Hải, 2000) nhận thấy phát hoa dài trung bình từ 23 cm
(Nam Dok Mai) đến 55, 2 cm (Cát Hòa Lộc), mang từ 2.658 – 38.216 hoa/phát hoa. Xòai
cát Hòa Lộc có tỉ lệ hoa lưỡng tính cao nhất (71,0%) và thấp nhất là xòai Thơm (19,0%).
Có sự lệch pha giữa thời gian nhận phấn của hoa lưỡng tính và tung phấn của hoa đực.
Hoa lưỡng tính nhận phấn từ 6 giờ 30 đến 9 giờ trong khi hoa đực tung phấn từ 8 giờ 45
đến 11 giờ. Đây có lẽ là nguyên nhân gây ra sự đậu trái thấp. Chaikiattiyos và ctv. (1997)
cho biết giống xoài Kiew Savoey có tỉ lệ hoa lưỡng tính trồng ở vùng có khí hậu nhiệt đới
cũng như vùng có khí hậu ôn đới đều thấp hơn so với giống xoài Nam Dok Mai (10,7-
17,8% so với 20,9-43,5%). Thông thường có 5 bao phấn trên mỗi hoa nhưng thường chỉ
có 1-2 bao phấn phát triển và có mang hạt phấn, số còn lại không phát triển. Số hạt phấn
khi chồi được 16 ngày tuổi, như vậy mầm hoa vẫn chưa hình thành khi chồi được 4 tháng
tuổi. Nghiên cứu một số giống xoài của Philippines, Bugante (1995) cho rằng sự khởi
phát hoa xuất hiện từ 4-9 tháng sau khi chồi xuất hiện.
Khảo sát sự biến đổi của đỉnh sinh trưởng khi cây xoài ra hoa trong điều kiện tự nhiên,
Mustard và Lynch (1946) cho rằng khi thấy xuất hiện sự nhô lên ở đỉnh sinh trưởng là
dấu hiệu của sự ra hoa. Tuy nhiên, qua kết quả thí nghiệm, Samala (1979) nhận thấy chỗ
nhô nầy bất động trong 15 tháng và sau đó phát triển thành chồi lá và tác giả kết luận
rằng đây là những mầm trong tình trạng ngủ và nó có khả năng phát triển thành chồi lá
hay chồi hoa. Khi xử lý Nitrate kali, tác giả nhận thấy sau 4 ngày đỉnh sinh trưởng bắt
đầu nhô lên, sự hoạt động của hoa đã hình thành sau 6 ngày và các bộ phận của phát hoa
kéo dài và có thể thấy được sau 8 ngày. Từ kết quả quan sát nầy, Samala (1979) kết luận
rằng Nitrate kali tác động như một tác nhân kích thích, phá vỡ sự ngủ nghỉ của mầm đã
hiện diện trước và thúc đẩy sự phân hóa thành hoa.
Dựa vào vị trí ra hoa, cây xoài được xếp vào nhóm ra hoa ở chồi tận ngọn cùng nhóm
với vải, nhãn và bơ (Hình 6.3). Trong nhóm nầy, cây xoài có đặc điểm khác hơn các loại
cây khác là trong thời kỳ mang trái cây xoài không ra đọt (trên chồi mang trái). Đặc tính
nầy làm cho cây xoài không phát triển được tán cây trong giai đoạn mang trái và gây ra
tình trạng ra trái cách năm (Cull, 1991). Xoài ra hoa theo mùa và cách năm (Bondad,
1980) mà nguyên do có thể do đặc tính sinh trưởng của cây xoài. Cây xoài sinh trưởng do
những đợt ra đọt từ chồi ngọn mà sự xuất hiện những đợt đọt mới phụ thuộc vào yếu tố
khí hậu, điều kiện môi trường, tuổi cây và lượng trái mà cây xoài mang ở mùa trước
(Nakasone và ctv., 1955). Ở Philippines, Bugante (1995) cho biết rằng xoài
“Kachamitha”, là một giống xoài cho trái đều hàng năm, ra đọt 2 lần/năm, đợt đầu tiên
xuất hiện vào tháng Giêng, sau khi thu hoạch và đợt thứ hai xuất hiện vào tháng 6 hoặc
tháng 7 và ra hoa tự nhiên vào tháng 10.
Hình 6.3 Xoài ra hoa-đậu trái ở chồi tận cùng
Bảng 3
Thời gian từ lúc phân hóa mầm hoa đến thu hoạch có ý nghĩa quan trọng trong việc
già, 20-30 năm tuổi, mỗi năm chỉ ra một đợt đọt hoặc đôi khi không ra đọt non. Cây xoài
thường ra đọt non sau các đợt bị “sốc” như nhiệt độ thấp, ngập úng hoặc kích thích bởi
nitrat kali hay thiourê nhưng các mầm hoa chưa hình thành hay gặp các điều kiện bất lợi
cho sự phân hóa mầm hoa.
(2) Giai đoạn tích lũy chất dinh dưỡng
Sau khi ra đọt, chồi sẽ tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa, đậu trái
và nuôi trái tiếp theo. Nếu các chồi non không tích lũy được chất dinh dưỡng trong giai
đoạn nầy, nghĩa là chồi ốm yếu, ngắn, số lá trên chồi ít, khả năng đậu trái và giữ trái của
cây sẽ kém.
(3) Giai đoạn phát triển rễ
Bởi vì sự sinh trưởng của cây xoài không liên tục nên sau khi chồi phát triển, rễ sẽ hoạt
động để hấp thu chất dinh dưỡng. Đây là giai đoạn thích hợp để bón phân bổ sung cho
cây nếu nhận thấy đọt xoài nhỏ, mỏng hoặc ngắn không đủ khả năng cho ra hoa.
(4) Giai đoạn nghỉ ngắn
Nếu chồi trưởng thành có thể kích thích cho chồi ra hoa. Tuy nhiên, kích thích ra hoa
trong giai đoạn nầy xoài sẽ ra bông “lá”, nghĩa là trên phát hoa xuất hiện theo sau chồi
non.
(5) và (6) Giai đoạn đủ khả năng ra hoa và bắt đầu tượng hoa
Từ lúc đâm chồi (1) đến khi chồi đủ khả năng ra hoa (5) tùy theo giống, biến động từ 3-
4 tháng. Tuy nhiên, mầm hoa có thể hình thành trong thời gian từ 3-9 tháng tùy thuộc vào
tháng đâm chồi. Sau khi tượng hoa cây xoài sẽ sẵn sàng để kích thích ra hoa. Do đó, đây
là giai đoạn thích hợp để áp dụng các biện pháp kích thích cho xoài ra hoa. Giống xoài
Carabao của Philippines thường đạt năng suất cao khi kích thích ra hoa ở giai đoạn chồi
được 6 tháng tuổi. Xoài cát Hòa Lộc có thể kích thích ra hoa khi đọt được 3-4 tháng tuổi,
đọt già khó ra hoa hơn. Trong khi các giống xoài khác như xoài Thanh Ca, Chu, Bưởi hay
Châu Hạng Võ có thể kích thích cho chồi ra hoa trễ hơn 3-4 tháng. Nếu kích thích xoài ra
hoa sớm tỉ lệ đậu trái sẽ thấp và tỉ lệ rụng trái non sẽ rất cao có lẽ do cây không tích lũy
đủ chất dinh dưỡng cần thiết.
(7) Giai đoạn miên trạng
Sau khi hình thành, mầm hoa sẽ đi vào thời kỳ miên trạng nếu không có điều kiện thích
xòai ở Thái Lan, Jutamanee và ctv. (2000) cho biết giống xòai Kiew-Savoey có tỉ lệ đậu
trái thấp, giồng Nam Dok Mai thuộc nhóm trung bình và giống Chok-Anan được xem là
giống có tỉ lệ đậu trái cao. Nghiên cứu nguyên nhân sâu xa gây ra hiện tượng đậu trái
thấp ỏ các giống nầy các tác giả nầy cho biết rằng khả năng sống của hạt phấn và sự nẩy
mầm của hạt phấn đều đạt trên 80% trong khi sự mở của bao phấn chỉ đạt từ 15-20%. Sự
mở của bao phấn bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhiệt độ. Phạm Thị Thanh Hương và ctv.
(1999) cho biết nhiệt độ trên 25 oC thì tỉ lệ bao phấn mở đạt từ 90-100% nhưng nhiệt độ
từ 20-25 oC thì tỉ lệ bao phấn mở của hầu hết các giống chỉ đạt khoảng 40% và khi nhiệt
độ từ 15-20 oC thì tỉ lệ bao phấn mở từ 10-15%. Nhiệt độ thấp nhất ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long vào khoảng 19-20 oC rơi vào tháng 12-1 dl. Do đó, để cho xoài đậu trái tốt nên
điều khiển cho xoài ra hoa nên tránh rơi vào thời điểm nầy. Việc trồng xen nhiều giống
xoài trong cùng một vườn có thể gia tăng tỉ lệ đậu trái do gia tăng nguồn phấn từ những
giống xoài có nhiều bao phấn, tỉ lệ bao phấn mở và khả năng sống của hạt phấn cao, vấn
đề nầy cần có nhiều nghiên cứu trong tương tai. Tuy nhiên, Dag và ctv. (1999) cho biết
rằng khi so sánh giữa phần thịt quả và hột của trái xoài thu được do quá trình tự thụ phấn
và thụ phấn chéo thì 3 giống xoài Tommy Atkin, Maya và Kent không có khác biệt
nhưng giống xoài ‘6-6’ thì trọng lượng hột và thịt quả của trái lai với phấn hoa khác lớn
hơn trái do quá trình tự thụ phấn. Nghiên cứu sự thụ phấn chéo của hai giống xoài Maya
và Tommy Atkin, Degani và ctv. (1997) cho biết ở khoảng cách từ 96-108 m xoài Maya
có tỉ lệ thụ phấn chéo từ 34-39% trong khi ở khoảng cách 80 m xoài Tommy Atkin có tỉ
lệ thụ phấn chéo là 24%.
Singh và Agrez (2002) cho rằng ethylen có vai trò quan trọng trong sự đậu trái xoài.
Thí nghiệm trên giống xoài Kensington Pride tác giả thấy rằng việc phun các chất ức chế
quá trình sinh tổng hợp ethylen như aminoethyoxyvinylglycine (AVG), aminooxyacetic
acid (AOA), Cobalt sulphate (CoSO4) và silver thiosulphate (STS) có hiệu quả lên sự
đậu trái, giữ trái và làm tăng năng suất hơn so với việc phun các chất có tác dụng ức chế
sự hoạt động của ethylen, trong khi phun ethrel có thể làm giảm sự đậu trái đến 76%.
Hiệu quả làm tăng năng suất của các chất ức chế quá trình sinh tổng hợp ethylen hoặc ức
chế sự hoạt động của ethylen có thể do hiệu quả cải thiện sự giữ trái. Từ kết quả thí
nghiệm, tác giả thấy rằng phun Cobalt sulphate (CoSO4) ở nồng độ 200 ppm ở giai đoạn
sinh trưởng được Chadha (1993) thể hiện ở Bảng 6.1. Bảng 6.1 Sự liên quan giữa sự rụng trái non và các chất điều hòa sinh trưởng trong
trái (Chadha, 1993)
T
Sốtt
Chất điều hòa sinh
trưởng
Đợt rụng trái 1(0-14
NSKĐT)
Đợt rụng trái 2(14 -
21 NSKĐT)
Đợt rụng trái 3( > 35
NSKĐT)
1 Auxin Thấp hơn Cao hơn Thấp hơn
2 Gibberellin Thấp (7 ngày đầu) Cao hơn Thấp hơn
3 Cytokinin Thấp (7 ngày đầu) Thấp hơn Thấp hơn
4 Abscissic acid Cao hơn Cao hơn Thấp hơn
Bảng 5
Ghi chú: NSKĐT: Ngày sau khi đậu trái
Trong giai đoạn từ 0-21 ngày sau khi đậu trái nếu hàm luợng auxin, GA và Cytokinin
trong trái thấp sẽ gây ra sự rụng trái non nhiều. Trong đợt rụng trái thứ nhất auxin ngọai
sinh có hiệu quả hơn GA và cytokinin trong khi giai đoạn rụng trái thứ ba GA hiệu quả
hơn Auxin. Alar và urê cũng hiệu quả trong việc kiểm soát sự rụng trái non.
Sự biến động của các chất điều hòa sinh trưởng sau khi đậu trái trên giống xoài
Dashehari, Chausa và Langra được Sant Ram (1992) tóm tắt như sau: Gibberellin được
tìm thấy chủ yếu trong hột nên hàm lượng gibberellin tăng rất nhanh trong thời kỳ đầu
phát triển trái và sau đó giảm khi hột trưởng thành. Cytokinin trong hột và cả thịt quả.