Ứng dụng kỹ thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank - Pdf 68


MỤC LỤC
Lời nói đầu..........................................................................................................3
Chương I: Lý luận chung về Marketing Ngân hàng với dịch vụ cho vay tiêu
dùng của ngân hàng thương mại.........................................................................5
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Marketing.............................................5
1.2 Marketing.................................................................................................7
1.2.1 Khái niệm Marketing......................................................................7
1.2.2 Marketing Ngân hàng......................................................................7
1.2.2.1 Khái niệm..............................................................................7
1.2.2.2 Đặc điểm...............................................................................8
1.2.3 Nội dung Marketing Ngân hàng....................................................12
1.2.3.1 Tổ chức nghiên cứu môi trường kinh doanh ngân hàng.....12
1.2.3.2 Hệ thống thông tin nghiên cứu môi trường kinh doanh......13
1.2.4 Công cụ Marketing ứng dụng cho phân tích dịch vụ ngân hàng..14
1.2.4.1 Phân tích PEST....................................................................14
1.2.4.2 Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu và xác
định chiến lược Marketing..................................................16
1.2.4.3 Phân tích SWOT...............................................................18
Chương II: Phân tích thực trạng cho vay tiêu dùng tại Techcombank.............29
2.1 Giới thiệu về Techcombank.................................................................29
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển...................................................29
2.1.2 Công nghệ ứng dụng....................................................................30
2.1.3 Cơ cấu tổ chức.............................................................................32
2.2 Tình hình kinh doanh của Techcombank............................................36
2.2.1 Các chỉ tiêu chung........................................................................36
2.2.1.1 Tổng tài sản..........................................................................36
2.2.1.2 Vốn điều lệ............................................................................37
2.2.1.3 Lợi nhuận trước thuế.............................................................37
2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh Techcombank..............................38
2.2.2.1 Huy động vốn.......................................................................38

chính mới ra đời và phát triển, trong đó không thể không kể tới dịch vụ cho vay
tiêu dùng. Khởi nguồn từ các ngân hàng thương mại cổ phần vừa và nhỏ, đến
nay hầu hết các ngân hàng thương mại đều đã triển khai dịch vụ này với nhiều
hình thức và cách thức khác nhau và thực tế cho thấy tỷ trọng cho vay tiêu dùng
trong tổng dư nợ tín dụng của các ngân hàng. Mặc dù có điều kiện phát triển
nhanh nhưng dịch vụ cho vay tiêu dùng ở Việt Nam vẫn chưa có định hướng
phát triển phù hợp và được khai thác triệt để. Số lượng các ngân hàng tăng
nhanh và ngày càng có nhiều ngân hàng tập trung vào các dịch vụ khách hàng cá
nhân, trong đó có dịch vụ cho vay tiêu dùng. Mặc dù số lượng các ngân hàng
phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng tăng lên nhanh chóng nhưng điều đó không
đồng nghĩa với việc đa dạng hóa dịch vụ này cũng như cải thiện lớn về chất
lượng phục vụ. Các ngân hàng quá tập trung vào địa bàn các thành phố lớn, vào
đối tượng khách hàng có thu nhập cao và vào một số dịch vụ cho vay tiêu dùng
truyền thống như cho vay mua, sửa chữa nhà cửa, cho vay đầu tư chứng
khoán…dẫn đến hệ quả là cạnh tranh giữa các ngân hàng cực kỳ gay gắt, chi phí
ngân hàng tăng cao, nhiều mảng thị trường nhỏ còn bị bỏ ngỏ trong khi các
khoản cho vay tiêu dùng truyền thống đã bộc lộ rõ những yếu tố rủi ro tín dụng.
Không nằm ngoài xu hướng trên, Techcombank là một ngân hàng thương mại
cổ phần phát triển mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng trên hai địa bàn chính là
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù luôn được đánh giá là ngân hàng có
chất lượng phục vụ ổn định, chuyên nghiệp, có nhiều loại hình dịch vụ đa dạng,
Techcombank cũng phải đối mặt với những khó khăn mà các ngân hàng khác
cũng gặp phải như trên.
Với mục định giúp Techcombank nhận định được những yếu tố tác động đến
hoạt động cho vay tiêu dùng, từ đó tìm ra được phân khúc thị trường mục tiêu
và các chiến lược kinh doanh phù hợp, em đã chọn lựa đề tài “Ứng dụng kỹ
thuật Marketing phân tích dịch vụ cho vay tiêu dùng của Techcombank”.
Trong đó, các kỹ thuật Marketing mà em sử dụng là: Phân tích Môi trường
ngành ( gồm mô hình phân tích PEST và mô hình phân tích đối thủ cạnh tranh)
Kỹ thuật phân đoạn thị trường và phân tích SWOT

giảm giá thành sản phẩm thay vì để ý đến chất lượng hàng hóa và sự hài lòng
của khách hàng.
Hay quan điểm về hoàn thiện hàng hóa: “Người tiêu dùng ưa dùng sản
phẩm, hàng hóa có chất lượng cao nhất, tính năng sử dụng tốt nhất”. Quan điểm
này lại đề cao chất lượng hàng hóa hơn là giá cả, và do vậy, các nhà sản xuất
phải tập trung chủ yếu vào việc nâng cao chất lượng của hàng hóa. Mặc dù việc
nâng cao chất lượng hàng hóa là rất cần thiết, nhưng nếu giá cả quá cao cũng
không thể thu hút được số lượng lớn khác hàng, ngoài ra còn ảnh hưởng đến
mục tiêu lợi nhuận của nhà sản xuất
Quan điểm về tăng cường các nỗ lực thương mại lại cho rằng : người tiêu dùng
sẽ không mua hàng hóa với số lượng lớn nếu doanh nghiệp không có nỗ lực
đáng kể trong tiêu thụ và khuyến mãi. Như vậy, việc quản trị Marketing theo
hướng này sẽ tập trung vào các phương pháp kích cầu như: khuyến mãi, quảng
cáo…Để thu hút khách hàng thì những biện pháp trên là không thể thiếu, tuy
nhiên, để duy trì và phát triển việc kinh doanh thì các doanh nghiệp không thể
chỉ dựa vào các biện pháp trên vì nếu hàng hóa không đáp ứng được đúng mong
muốn của khách hàng thì nó rất dễ bị lãng quên trên thị trường.
Theo quan điểm Marketing hiện đại thì : “ Điều kiện để đạt được mục tiêu của
doanh nghiệp là xác định được nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu
và đảm bảo mức độ thỏa mãn mong muốn bằng những phương thức có hiệu quả
mạnh mẽ hơn so với đối thủ cạnh tranh”. Quan điểm này đã mang tính bao quát
hơn nhiều so với 3 quan điểm trên ở chỗ: nó chỉ ra một cách bản chất mục tiêu
và phương thức để mỗi doanh nghiệp có thể kinh doanh thành công. Doanh
nghiệp chị nên sản xuất và cung cấp những gì mà thị trường cần, xác định mục
tiêu thỏa mãn là mong muốn của khác hàng chứ không phải là mục tiêu về chi
phí hay giá thành sản phẩm theo chủ quan từ phía doanh nghiệp. Ngoài ra,
doanh nghiệp cũng cần cân nhắc đến các đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm thứ năm, cũng là quan điểm về quản trị Marketing tân tiến nhất
hiện nay do Philip Kotler phát triển : Quan điểm Marketing đạo đức xã hội.
Quan điểm này cho rằng : “ Nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác định nhu cầu,

Trên thế giới hiện nay,có rất nhiều những quan điểm khác nhau về Marketing
ngân hàng.Tuy nhiên, về cơ bản, các khái niệm về Marketing trong
trong ngân hàng được phân chia theo hai loại chính:
+ Loại 1 định nghĩa Marketing trên cơ sở bản chất và mục đích của nó
Xuất phát từ khái niệm được coi là tổng quát nhất về bản chất Marketing của
Philip Kotler : “ Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa
mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”, Marketing ngân
hàng có thể được định nghĩa là:
“Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của ngân hàng nhằm thỏa mãn
nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận”
Hoặc : “Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của ngân hàng nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận”
+ Loại 2 định nghĩa Marketing ngân hàng trên cơ sở coi Marketing là một
quá trình tổng hợp nhiều hoạt động với các phương thức khác nhau, với các mục
tiêu cụ thể.
“ Marketing ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý của một ngân
hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu của các nhóm khách hàng đã chọn và thỏa
mãn nhu cầu của họ bằng hện thống các chính sách nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận
như dự kiến”
“Marketing Ngân hàng dùng để chỉ hệ thống các chiến lược, biện pháp
chương trình hoạt động tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức cung ứng dịch vụ
ngân hàng, nhằm sử dụng các nguồn lực ngân hàng một cách tốt nhất trong việc
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu”
Cho dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Marketing ngân hàng, nhưng về
cơ bản đều bao gồm những ý chính sau đây :
+ Marketing ngân hàng được xây dựng dựa trên quan điểm về Marketing
hiện đại, do đó:
+ Marketing ngân hàng có mục tiêu quan trọng nhất là xác định được nhu
cầu, mong muốn của khách hàng và tìm cách đáp ứng nó một cách hiệu
quả hơn các đối thủ cạnh tranh.

tuyên truyền về dịch vụ của mình, mô tả các bước tiến hành dịch vụ một cách
tỉ mỉ thông qua các phương tiện thông tin…nhưng đối với riêng dịch vụ ngân
hàng, việc quan trọng nhất để tăng tính hữu hình của nó là việc nhấn mạnh
vào lợi ích của việc sử dụng dịch vụ này cho tất cả các khách hàng. Ví dụ
như: với hoạt động huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân, ngân hàng công
bố rõ ràng các mức lãi suất cho từng kỳ hạn, các hình thức khuyến mãi cho
khách hàng.
• Thứ hai là tính không thể tách rời: dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân
hàng nói riêng không thể tách rời nguồn gốc của nó. Quá trình cung ứng dịch
vụ của ngân hàng thường là các quy trình, gắn liền với việc tiêu thụ của
khách hàng. Ví dụ, khi khách hàng muốn thực hiện chuyển tiền từ tài khoản
của mình đến tài khoản của tài khoản của khách hàng khác thì họ không thể
tự làm điều đó một mình, mà phải đến ngân hàng, thực hiện các thủ tục cần
thiết thì ngân hàng mới cung cấp dịch vụ này. Các ngân hàng đã tăng tính
linh hoạt cho dịch vụ của mình dựa trên cơ sở những tiến bộ về khoa học
công nghệ, giúp cho khách hàng tiếp cận với dịch vụ đơn giản và hiệu quả
hơn như : phát triển dịch vụ Internet Banking, Home banking cho khách hàng
có thể sử dụng dịch vụ từ nhiều nơi khác nhau mà không cần trực tiếp đến
ngân hàng, hoặc có cán bộ ngân hàng.
• Thứ ba, tính không ổn định về mặt chất lượng: do tính chất không tách rời
của dịch vụ nên chất lượng của dịch vụ ngân hàng bị phụ thuộc rất lớn vào
trình độ, kinh nghiệm của cán bộ ngân hàng, mối quan hệ giữa khách hàng và
ngân hàng, thậm chí thời điểm và hoàn cảnh diễn ra giao dịch. Do vậy, các
ngân hàng thường rất quan tâm đến việc đào tào các nhân viên của mình
trong việc phục vụ khách hàng cũng như hoàn thiện những quy trình dịch vụ,
làm sao để giản tiện và phù hợp nhất với từng khách hàng.
• Thứ tư, tính không thể lưu trữ: Do tính chất không thể tách rời của dịch vụ
nên không thể lưu trữ được chúng. Trong trường hợp cầu không thay đổi thì
tính chất này không thực sự gây khó khăn cho các ngân hàng, nhưng trong
trường hợp khi cầu tăng đột biến, vượt quá khả năng đáp ứng hiện có của

quan hệ, trong đó bộ phận Marketing phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, cùng
có lợi giữa khách hàng và ngân hàng bằng việc luôn thực hiện tốt những cam kết
cung cấp cho nhau những dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp lý.
Để phát triển tốt các mối quan hệ, bộ phận Marketing ngân hàng phải tiến hành
phân loại các mối quan hệ theo mức độ quan trọng khách nhau, tùy vào từng
mối quan hệ, dành cho các cán bộ có năng lực phụ trách, theo dõi và có biện
pháp để duy trì và phát triển cho phù hợp. Ngoài ra, ngân hàng cũng phải có kế
hoạch để phát triển các mối quan hệ mới, dài hạn phù hợp với mục tiêu của
mình
1.2.3 Nội dung của Marketing ngân hàng
1.2.3.1 Tổ chức nghiên cứu môi trường kinh doanh ngân hàng
1.2.3.1.1 Nội dung nghiên cứu môi trường kinh doanh của ngân hàng
Nghiên cứu môi trường kinh doanh là công việc không thể thiếu với bất kỳ
ngân hàng nào. Thông qua nghiên cứu môi trường kinh doanh, ngân hàng mới
có thể hiểu rõ được về môi trường xung quanh (về luật pháp, công nghệ, các đối
thủ cạnh tranh…) cũng như về tâm lý của khách hàng, qua đó giúp cho bộ phận
Marketing có thể đưa ra được những chiến lược, biện pháp phù hợp cho từng
thời kỳ, thời điểm của ngân hàng.
a>Nghiên cứ môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm những tác nhân lớn nằm ngoài khả năng kiểm soát
của ngân hàng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của
hệ thống Marketing.
Môi trường vĩ mô bào gồm:
• Môi trường địa lý (tự nhiên)
• Môi trường dân số
• Môi trường kinh tế
• Môi trường văn hóa xã hội
• Môi trường chính trị- pháp luật
• Môi trường kĩ thuật công nghệ
Những thay đổi trong môi trường vĩ mô tạo ra những cơ hội và thách thức cho

đó là:
• Phát hiện vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu
• Lựa chọn nguồn thông tin
• Thu thập thông tin
• Phân tích thông tin
• Tổng hợp kết quả nghiên cứu
1.2.4 Các công cụ Marketing ứng dụng cho phân tích dịch vụ cho vay
tiêu dùng
1.2.4.1 Phân tích môi trường xung quanh
Để đề ra được những chiến lược Marketing phù hợp cho đoạn thị trường đã chọn
thì việc phân tích liên tục và xuyên suốt môi trường xung quanh ngân hàng là
điều vô cùng quan trọng. Việc phân tích này được cụ thể hóa qua mô hình :
Phân tích môi trường vĩ mô ( Mô hình phân tích PEST)
Mô hình phân tích PEST (Political Factors, Economic Factors, Social
Factors, Technological Factors – những yếu tố mang tính chính trị, kinh tế, xã
hội, công nghệ) giúp ngân hàng có được cái nhìn tổng quan về thị trường và qua
đó đánh giá được tác động của những yếu tố này lên cầu về dịch vụ của khách
hàng trên thị trường.
 Các yếu tố mang tính chính trị (bộ máy quản lý Nhà nước, hệ thống luật
pháp…) có tầm ảnh hưởng bao trùm lên cả ngành ngân hàng trên một lãnh thổ.
Khi kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng tại một quốc gia nào thì phải tuân thủ
theo luật pháp của quốc gia đó. Tính ổn định của nền chính trị, các đạo luật về
thuế, đầu tư, luật doanh nghiệp, quy định trong ngành ngân hàng, luật cạnh
tranh…ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chung của ngân hàng và định hướng
chiến lược Marketing
 Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế kể cả trong ngắn hạn hay dài hạn đề có
ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng. Chúng bao gồm :
 Tình trạng hiện tai của nền kinh tế (do nền kinh tế phát triển mang tính
chu kỳ nên ngân hàng rất cần hoạch định chiến lược Marketing phù hợp
với từng giai đoạn) như lạm phát, mức tăng trưởng GDP, mức độ phát

trên cơ sở phân đoạn thị trường, các nhà ngân hàng có điều kiện xây dựng
được chương trình Marketing theo cách tối ưu hơn các đối thủ và kiểm soát
một cách hiệu quả hơn kết quả hoạt động trên từng đoạn thị trường
• Quá trình phân đoạn thị trường ngân hàng bao gồm:
- Xác định các tiêu thức phân đoạn
- Đánh giá các tiêu thức và lựa chọn tiêu thức để phân đoạn
- Xác định các đoạn thị trường riêng biệt, đánh giá sự hấp dẫn của từng đoạn thị
trường
- Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu
1.2.4.2.2 Tiêu thức phân đoạn thị trường của ngân hàng
Theo nhóm khách hàng : Khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp
Theo sản phẩm, dịch vụ: Hoạt động kinh doanh tiền tệ, hoạt động dịch vụ ngân
hàng
Tiêu thức phân đoạn thị trường của khách hàng cá nhân :
1. Độ tuổi: là một trong các tiêu thức được sử dụng phổ biến trong phân
đoạn thị trường khách hàng cá nhân hiện nay của ngân hàng. Tuổi tác có ảnh
hưởng rất lớn đến nhu cầu,kết cấu nhu cầu và cách thức sử dụng dịch vụ ngân
hàng của khách hàng cá nhân. Nhìn chung giới trẻ có nhu càu cao hơn về gửi và
vay ngân hàng so với những người lớn tuổi – thường có xu hướng gửi tiền là chủ
yếu
2.Tầng lớp xã hội và thu nhập : Tầng lớp xã hội và thu nhập có thể coi là
những nhân tố chính ảnh hưởng đến cầu và cung dịch vụ ngân hàng. Bởi các
dịch vụ tài chính gây tác động trực tiếp tới tình hình tài chính của mỗi khách
hàng cá nhân nê
3. Giới tính : Trước đây, việc phân đoạn thị trường dựa trên giới tính vốn
không được coi trọng. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều phụ nữ đi làm và giữ
những vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực đồng nghĩa với việc phụ nữ có điều
kiện tiếp xúc và sử dụng nhiều dịch vụ tài chính hơn. Điều này, đã làm thay đổi
cách thức phân đoạn thị trường của ngân hàng
4 Cơ cấu vùng dân cư: Dân cư ở các vùng miền khác nhau sẽ có lối sống,

+ Các mục tiêu và khả năng của ngân hàng: Một đoạn thị trường hấp dẫn
vẫn có thể bị các chủ ngân hàng bỏ nếu chúng không phù hợp với mục tiêu và
khả năng của ngân hàng.
1.2.4.3 Phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 công ty có
doanh thu cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện
Nghiên cứu Stanford trong thập niên 60-70 của thế kỷ XX, nhằm mục địch tìm
ra nguyên nhân vì sao nhiều doanh nghiệp thất bại trong việc thực hiện kế
hoạch. Nhóm nghiên cứu gồm Marion Dosher, Ts Otis Benepe, Albert
Humphrey, Robert Stewart và Birger Lie. Khó khăn cơ bản mà các doanh
nghiệp phải đối mặt trong quá trình lập những kế hoạch kinh doanh lâu dài là
làm sao để đội ngũ quản lý có thể đồng thuận với nhau và cùng đưa ra một
chương trình hành động logic, dễ nắm bắt cho các thành viên trong công ty. Sau
quá trình nghiên cứu kéo dài 9 năm, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được mô hình
SWOT
SWOT là từ viết tắt của 4 chữ : Strengths ( điểm mạnh), Weaknesses (điểm
yếu), Opportunities(cơ hội), và Threats (nguy cơ). Điểm mạnh được xem như là
bất cứ một kỹ năng đặc biệt hay khả năng cạnh tranh đặc biệt trong phát triển
sản phẩm, trong hoạt động nghiên cứu và triển khai hoặc Marketing. Nó cũng có
thể là hình ảnh trên thị trường hay văn hóa kinh doanh trong tổ chức đó. Điểm
yếu là những mặt còn hạn chế của một tổ chức để đạt được mục tiêu cụ thể, hoặc
cũng có thể là thiếu kinh nghiệm về một thị trường hay công nghệ ứng dụng nào
đó. Một cơ hội được hiểu là bất cứ đặc điểm của môi trường bên ngoài tạo ra
các điều kiện mang lại lợi thế cho một hãng về một đối tượng hoặc một nhóm
đối tượng cụ thể. Ngược lại, thách thức là bất cứ sự phát triển môi trường nào đó
gây cản trở cho sự thành công của đối tượng cụ thể
Mô hình SWOT được áp dụng trong việc đánh giá một doanh nghiệp, một chiến
lược kinh doanh hay thậm chí chỉ là một ý tưởng, trên cơ sở trình bày những yếu
tố của đối tượng nghiên cứu theo 4 tiêu chí nêu trên. Những điểm mạnh, điểm
yếu xuất phát từ bản chất nội tại của đối tượng nghiên cứu, trong khi cơ hội và

• Nhu cầu khách hàng chưa đáp ứng đủ
• Công nghệ mới xuất hiện
• Luật lệ được nới lỏng
• Rào cản thương mại được rỡ bỏ
4 Thách thức:
• Sự thay đổi về công nghệ vượt quá khả năng của ngân hàng
• Đối thủ cạnh tranh đang thành công trong việc kinh doanh trên đoạn thị
trường này?
• Những thay đổi về chính trị gây ảnh hưởng đến định hướng phát triển kinh
tế, trong đó có ngành ngân hàng
• Những yếu tố kinh tế như lạm phát, tỷ giá thay đổi gây ảnh hưởng đến hoạt
động của ngân hàng
Sau khi đã liệt kê xong những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, ngân
hàng sẽ lập những chiến lược cụ thể dựa trên 4 yếu tố trên, hệ thống các chiến
lược này được trình bày dưới dạng ma trận SWOT như sau

Strengths (điểm mạnh) Weaknesses (điểm yếu)
Opportunities
(Cơ hội)
SO (Các mặt mạnh của ngân
hàng có phát huy khi có những
cơ hội không?)
WO ( Các mặt yếu có làm
mất đi khả năng tận dụng
các cơ hội không?)
Threats
(Thách thức)
ST (Các mặt mạnh có lấn át đi
khó khăn khi thách thức xuất
hiện không?)

hệ thống điện tử). Vậy cho vay tiêu dùng là gì?
Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thỏa thuận để
khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu
dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Với đối tượng khách hàng vay là cá nhân và hộ gia đình, mục đích vay là phục
vụ tiêu dùng nên loại hình cho vay này có những đặc điểm hết sức riêng biệt.
1.3.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
-Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn: ngân hàng
cho các cá nhân và hộ gia đình vay các khoản có quy mô tương đối nhỏ so với
tài sản của ngân hàng. Tuy vậy, số lượng các khoản vay lại rất lớn do số lượng
khách hàng đông đảo, nhu cầu đa dạng.
-Cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn: Việc thẩm định với các khoản vay tiêu
dùng là khó khăn vì đối tượng thể nhân thường có nhiều yếu tố không dễ công
khai như các nguồn thu nhập không chính thống, tính ổn định của nguồn thu
nhập, các điều kiện sức khỏe, điều kiện sinh hoạt...Thêm vào đó, ngân hàng
cũng mất một khoản chi phí để quản lý hồ sơ khách hàng vì số lượng hồ sơ
thường rất lớn.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao: Điều này có thể được chứng
mình qua việc khó công khai các thông tin tài chính. Việc trả nợ của khách hàng
không chỉ liên quan đến thu nhập, tiết kiệm mà còn liên quan đến tình hình sức
khỏe, tình hình việc làm của họ. Nếu khách hàng ốm đau hoặc đột ngột mất việc
thì ngân hàng cũng khó có thể thu hồi món vay được. Ngoài ra, rủi ro đạo dức là
rất cao khi rất nhiều khách hàng, mặc dù đủ khả năng trả nợ, vẫn tìm cách lẩn
tránh trách nhiệm này. Khả năng trả nợ của khách hàng cũng chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ tình hình kinh tế. Khi kinh tế suy thoái, lạm phát tăng cao, thì khả
năng trả nợ của khách hàng càng khó hơn
Không chỉ có rủi ro về tín dụng, rủi ro lãi suất của các khoản vay này cũng rất
lớn. Ngân hàng không thể đặt lãi suất thả nổi cho mỗi hợp đồng, thời hạn cho
vay dài và lãi suất ít khi thay đổi là các yếu tố tạo nên tính rủi ro lớn cho hoạt
động cho vay tiêu dùng

trực tiếp với khách hàng để tiến hành cấp vốn hoặc thu nợ.
Ưu điểm:
- Ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của cán
bộ tín dụng trong quá trình thẩm định món vay, do đó những khoản vay
theo cách thức này thường có tính đảm bảo cao hơn so với cho vay tiêu
dùng gián tiếp
- Đảm bảo được sự kiểm soát của ngân hàng trong suốt quá trình từ lúc
thẩm định đến khi thu nợ, giúp ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng
hơn.
Nhược điểm:
- Thủ tục đối với khách hàng khi muốn vay tiền ngân hàng để mua sắm và
sử dụng dịch vụ sẽ phức tạp hơn, do đó, số lượng khách hàng cũng giảm
hơn so với cách cho vay gián tiếp.
- Mâu thuẫn phát sinh giữa mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp và ngân
hàng. Trong khi ngân hàng coi trọng đến mức độ rủi ro của các khoản
vay thì các doanh nghiệp có mục tiêu hàng đầu là nâng cao doanh số bán
hàng, cung cấp dịch vụ. Mâu thuẫn này có thể dẫn đến việc có những
khoản cho vay tiêu dùng có chất lượng chưa cao hoặc nhiều khách hàng
có khả năng mua hàng, sử dụng dịch vụ với số lượng lớn bị từ chối cho
vay.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng
1.3.4.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Định hướng phát triển của một ngân hàng là yếu tố đầu tiên để quyết định việc
phát triển cho vay tiêu dùng. Với các ngân hàng khác nhau thì việc xác định đối
tượng khách hàng chính là khác nhau, điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến
cách thức và các dạng dịch vụ cho vay tiêu dùng mà họ cung cấp. Tại Việt
Nam, một loạt các ngân hàng thương mại cổ phần như Techcombank
Điều này được chứng minh rõ ràng qua thực tế là các ngân hàng thương mại
Nhà Nước, trong giai đoạn 2000-2002 không thực sự quan tâm đến việc mở
rộng dịch vụ cho vay tiêu dùng bởi định hướng phát triển dịch vụ của các ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status