Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em: Luận văn ThS. Pháp luật và quyền con người (Chương trình đào tạo thí điểm) - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

PH¸P LUËT QUèC TÕ Vµ PH¸P LUËT VIÖT NAM
VÒ NG¡N NGõA Vµ XãA Bá LAO §éNG TRÎ EM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Vân Anh


Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ..................................................... 21

1.2.

THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU
CỰC CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI .......................... 22

1.2.1.

Thực trạng ................................................................................................... 22

1.2.2.

Nguyên nhân .............................................................................................. 26

1.2.3.

Tác động tiêu cực ....................................................................................... 28

1.3.

MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGĂN NGỪA VÀ XÓA
BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ....................................................................... 30

1.3.1.

Mục đích ..................................................................................................... 30

1.3.2.


bỏ lao động trẻ em ...................................................................................... 58

2.2.2.

Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em .............. 63

2.3.

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƢƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA
VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM ..................................................... 79

Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VÀ
PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO
ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM ........................................................... 81
3.1.

THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM .......................... 81

3.1.1.

Khái quát thực trạng, nguyên nhân và tác động tiêu cực của lao
động trẻ em ở Việt Nam ............................................................................ 81

3.1.2.

Thực trạng thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động
trẻ em ở Việt Nam ...................................................................................... 84



DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công ƣớc số 138

Công ƣớc số 138 của ILO về tuổi lao động tối thiểu
(Minimum Age Convention), 1973

Công ƣớc số 182

Công ƣớc số 182 của ILO về cấm và hành động ngay lập
tức nhằm xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ
nhất (Worst Forms of Child Labour Convention), 1999

ILO

Tổ chức Lao động Quốc tế (the International Labour
Organization)

IPEC

Chƣơng trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của
ILO (International Programme on the Elimination of
Child Labour)

Khuyến nghị số 146

Khuyến nghị số 146 của ILO về tuổi lao động tối thiểu
(Minimum Age Recommendation), 1973

Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations Children’s
Fund)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1.1: Phân loại lao động trẻ em dựa theo tính chất nguy hại

17

Bảng 1.2: Phân loại lao động trẻ em theo tình trạng công việc

19

Bảng 1.3: Phân loại lao động trẻ em theo lĩnh vực ngành nghề

21

Bảng 1.4: Thống kê tỷ lệ lao động trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17,
năm 2000-2012

24

Bảng 2.1: Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo Công ƣớc số 138
của ILO

Nhà nƣớc Việt Nam đã rất tích cực trong vấn đề đảm bảo thực hiện quyền
trẻ em. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê
chuẩn Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Việt Nam cũng đã phê
chuẩn và gia nhập cả hai điều ƣớc chủ chốt của ILO về lao động trẻ em, bao gồm
Công ƣớc số 182 và Công ƣớc số 138 về tuổi lao động tối thiểu. Đây là những
bằng chứng cho thấy cam kết mạnh mẽ của nhà nƣớc Việt Nam trong việc bảo
vệ quyền trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng.
Mặc dù vậy, Việt Nam hiện vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn
trong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến

1


tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam gồm có: do nghèo đói, do ngƣời sử
dụng lao động muốn tiết kiệm chi phí sản xuất đã sử dụng lao động trẻ em với
tiền công rẻ mạt, do sự thiếu hiểu biết của một bộ phận dân cƣ về điều kiện
làm việc, về nguy cơ tiềm ẩn khi trẻ em tham gia lao động… Tuy nhiên,
không thể kể đến nguyên nhân quan trọng là pháp luật về lao động trẻ em còn
bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định: quy định hiện hành liên quan trực
tiếp đến lao động trẻ em còn ít, đặc biệt là chƣa xây dựng hoàn thiện khung
pháp lý quy định các vấn đề cơ bản về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
còn kém hiệu quả, công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật lao
động trẻ em vẫn hạn chế và bị coi nhẹ, việc tuyên truyền và phổ biến pháp
luật trong lĩnh vực này chƣa thƣờng xuyên và chƣa sâu rộng. Điều này đòi hỏi
một số quy định pháp luật lao động, pháp luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em cần đƣợc sửa đổi, bổ sung nhằm điều chỉnh và phù hợp với tình trạng
lao động trẻ em đang ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp.
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật quốc tế và
pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em” làm đề tài

trẻ em giai đoạn 2010-2015.
Bài viết “Giúp trẻ thoát khỏi các hình thức lao động tồi tệ: cần sự
chung tay của toàn xã hội” của tác giả Anh Nguyễn đăng trên Báo Giáo dục
và Thời đại số 22 ra ngày 30.5.2010; bài viết “Xóa bỏ lao động trẻ em - một
việc làm cấp bách” của tác giả Lan Hƣơng đăng trên Tạp chí Cộng sản số 844
ra ngày 01-4-2013; bài viết “Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang
thang trong Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” của tác giả
Quách Thị Quế đăng trên Tạp chí Cộng sản số 846 ra ngày 01-06-2013... và
một số bài báo, tạp chí khác. Tuy nhiên, các bài viết, công trình này chủ yếu
tập trung vào đối tƣợng trẻ em và lao động trẻ em mà không đi sâu vào nghiên
cứu vấn đề ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em hoặc nếu có đề cập tới vấn

3


đề xóa bỏ lao động trẻ em thì mới chỉ đƣợc thực hiện dƣới góc độ kinh tế, xã
hội mà chƣa đề cập nhiều dƣới góc độ luật học.
Tóm lại, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dƣới các dạng khác nhau
về vấn đề lao động trẻ em nhƣng các công trình nghiên cứu này hầu nhƣ chƣa đề
cập tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em - mục tiêu chung mà cộng đồng
quốc tế đang hƣớng tới cũng nhƣ chƣa đƣa ra đƣợc những bất cập của thực trạng
pháp luật về vấn đề này. Cho nên, có thể nói đề tài “Pháp luật quốc tế và pháp
luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là công trình đầu tiên
nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và cập nhật về pháp luật quốc tế và
thực tiễn pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đồng thời đƣa ra các
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.

Chí Minh, các quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam về pháp
luật và xây dựng pháp luật.
Trong Chƣơng 1, để làm sáng tỏ vấn đề lý luận về lao động trẻ em, luâ ̣n
văn sƣ̉ du ̣ng phƣơng pháp hê ̣ thố ng , phân tić h, so sánh để làm rõ khái niê ̣m
“trẻ em”, “lao động trẻ em”, “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”. Phƣơng
pháp phân tích cũng đƣợc vận dụng để đề cập tới nguyên nhân, tác động tiêu
cực, mục đích và ý nghĩa của ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Tại Chƣơng 2 của luận văn, các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sƣ̉ du ̣ng
là thống kê , so sánh, phân tić h để làm rõ mƣ́c đô ̣ tƣơng thić h giƣ̃a pháp luâ ̣t
quố c tế và pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Với Chƣơng 3, phƣơng pháp thống kê , phân tích , tổ ng hơ ̣p đƣơ ̣c sƣ̉
dụng để nghiên cứu thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam

, tính cấp thiết

của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa , xóa bỏ lao
động trẻ em và đƣa ra các giải pháp nhằ m hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về
vấn đề này.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Lao động trẻ em là một thực tế đã có từ rất lâu. Vấn đề bảo vệ lao động
trẻ em cũng đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm. Các nghiên cứu và nhận
thức từ trƣớc tới nay luôn cho rằng, lao động trẻ em vẫn cần đƣợc duy trì để

5


đáp ứng nhu cầu của xã hội và của chính bản thân, gia đình các em. Tuy
nhiên, nhìn nhận dƣới góc độ quyền con ngƣời, lao động trẻ em cần phải đƣợc
ngăn ngừa và xóa bỏ, đặc biệt là các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
Yêu cầu này cũng đặt ra việc xác định một cách rõ ràng khái niệm “lao động

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA
NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG
1.1.1. Trẻ em
Về phƣơng diện khoa học, trẻ em đƣợc định nghĩa tùy theo góc độ tiếp
cận của từng khoa học cụ thể. Trong triết học, trẻ em đƣợc xem xét trong mối
quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tƣơng lai của
quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em đƣợc xác định là ngƣời có vị thế, vai
trò xã hội khác với ngƣời lớn, vì vậy, cần đƣợc xã hội quan tâm, tạo điều kiện
sinh trƣởng, nuôi dƣỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển. Trong tâm lý học, khái
niệm trẻ em đƣợc dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân
cách con ngƣời. Dƣới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thƣờng đƣợc tiếp
cận theo độ tuổi.
Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù do chƣa phát triển
đầy đủ về thể chất và trí tuệ, dễ thay đổi, dễ thích nghi, dễ uốn nắn và đặc biệt
là dễ bị tổn thƣơng. Chính vì vậy, việc xác định trẻ em theo độ tuổi là điều
cần thiết nhằm bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất khỏi những nguy cơ từ xã hội
ảnh hƣởng tới sự phát triển của trẻ.
Theo Điều 1 Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em là
những người dưới 18 tuổi” [18]. Đây là một quy định mở, trong đó mức trần
18 tuổi đƣợc coi là mức tiêu chuẩn nhƣng không phải là cố định, bắt buộc đối
với mọi quốc gia, nói cách khác, điều này cho phép các quốc gia thành viên xác
định độ tuổi đƣợc coi là trẻ em thấp hơn so với quy định kể trên. Công ƣớc số
182 cũng quy định “Trong phạm vi Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” được áp

7


dụng để chỉ tất cả những người dưới 18 tuổi” [33, Điều 1] và không quy định

hoặc nhờ cha mẹ quản lý (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ
sung năm 2014); trẻ em từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi đƣợc lấy ý kiến
bằng văn bản khi thay đổi quốc tịch (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008)…
Ngoài khái niệm trẻ em, luật pháp Việt Nam còn có nhiều quy định đề
cập đến nhóm ngƣời trong độ tuổi từ 16 đến dƣới 18 (hay còn gọi là ngƣời
chƣa thành niên). Theo Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người đủ
mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là
người chưa thành niên” [26]. Điều 161 Bộ luật Lao động 2012 cũng quy
định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [29].
Nhƣ vậy, chúng ta đang sử dụng đồng thời hai thuật ngữ “trẻ em” và
“ngƣời chƣa thành niên”. Điều này gây khá nhiều rắc rối trong việc áp dụng
cũng nhƣ nghiên cứu luật.
1.1.2. Quyền trẻ em
Từ lâu trẻ em luôn đƣợc coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn
thƣơng nhất và đƣợc các nhà nƣớc, các cộng đồng quan tâm bảo vệ. Mặc dù
vậy, trong các thời kỳ trƣớc đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em cơ bản
xuất phát từ góc độ tình thƣơng, lòng nhân đạo, sự che chở chứ không phải
dƣới góc độ nghĩa vụ bảo vệ quyền. Do vậy, việc bảo vệ trẻ em ở thời kỳ
trƣớc về cơ bản chƣa mang tính phổ biến, thống nhất, quy chuẩn và ràng buộc
về nghĩa vụ với mọi đối tƣợng trong xã hội.
Đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới đƣợc đề cập
sau một loạt biến cố quốc tế lớn, nhất là cuộc Chiến tranh thế giới I (19141918). Cuộc chiến tranh này đã khiến rất nhiều trẻ em ở châu Âu bị rơi vào
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhƣ mồ côi không nơi nƣơng tựa, đói khát, bệnh
tật và thƣơng tích… Tình cảnh đó đã thúc đẩy việc thành lập hai tổ chức cứu
trợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thụy Điển vào năm 1919. Vào năm
1923, bà Eglantyne - ngƣời sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ của nƣớc Anh năm 1919

9





Bốn nhóm quyền trẻ em theo Công ƣớc quốc tế gồm:
- Nhóm quyền đƣợc sống: nhằm đảm bảo quyền đƣợc sống và đáp ứng
các nhu cầu cơ bản để tồn tại;
- Nhóm quyền đƣợc bảo vệ: nhằm bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bị
bỏ rơi và bị lạm dụng và bóc lột hay phân biệt đối xử;
- Nhóm quyền đƣợc phát triển: nhằm đảm bảo nhu cầu cải thiện chất
lƣợng cuộc sống để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, gồm
các quyền đƣợc học tập, nghỉ ngơi và giải trí, tham gia hoạt động văn hóa…;
- Nhóm quyền đƣợc tham gia: là những quyền cho phép trẻ em tham dự
vào những công việc ảnh hƣởng đến cuộc sống của chúng, nhƣ quyền đƣợc
bày tỏ quan điểm riêng, quyền tiếp cận thông tin…
1.1.3. Lao động trẻ em
1.1.3.1. Khái niệm lao động trẻ em
Cho tới nay, trên phạm vi quốc tế vẫn chƣa có một định nghĩa thống
nhất về lao động trẻ em.
Không phải mọi công việc hàng ngày mà trẻ em làm đều đƣợc coi là
lao động trẻ em. Cần xác định rõ khái niệm lao động trẻ em và lấy đó là căn
cứ để thực hiện ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Khác với khái niệm trẻ em, khái niệm về “lao động trẻ em” đòi hỏi
ngoài góc độ độ tuổi còn phải tiếp cận ở góc độ tính chất công việc mà chủ
thể phải làm.
Về độ tuổi, sau khi Công ƣớc về quyền trẻ em và Công ƣớc số 182 về
cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi
tệ nhất của ILO đƣợc ban hành, trong đó đƣa ra định nghĩa trẻ em là những
ngƣời dƣới 18 tuổi thì độ tuổi này đƣợc cộng đồng quốc tế coi là mốc chuẩn
để xác định phạm vi chủ thể của khái niệm lao động trẻ em.
Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có


hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ;

12


(e) Gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho trẻ em trên các
phƣơng diện thể chất, tinh thần, tâm lý và xã hội [49].
Ở Việt Nam, pháp luật cũng chƣa có định nghĩa nào về lao động trẻ em,
mặc dù thuật ngữ này đã đƣợc đề cập đến trong một số văn bản pháp luật. Ví
dụ, Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định
các điều nghiêm cấm, trong đó có hành vi lạm dụng lao động trẻ em.
Bộ luật Lao động 2012 có quy định khái niệm lao động chƣa thành niên
và định nghĩa lao động chƣa thành niên là ngƣời lao động dƣới 18 tuổi và ít
nhất phải đủ 15 tuổi, trừ một số ngành nghề và công việc do Bộ Lao động thƣơng binh xã hội quy định có thể là ngƣời nhỏ hơn 15 tuổi. Cụ thể, theo
Điều 164 Bộ luật Lao động:
Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời từ đủ 13
tuổi đến dƣới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ
Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định và không đƣợc sử
dụng lao động là ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc
cụ thể do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định [29].
Điều 165 Bộ luật Lao động cũng quy định về các công việc và nơi làm
việc cấm sử dụng lao động là ngƣời chƣa thành niên.
Nhƣ vậy, khái niệm lao động chƣa thành niên trong pháp luật Việt
Nam chƣa hoàn toàn đồng nhất với khái niệm lao động trẻ em trong pháp
luật quốc tế. Lao động chƣa thành niên chỉ bị coi là lao động trẻ em khi làm
một số ngành nghề hoặc trong các điều kiện bị cấm theo quy định của pháp
luật. Trong khi đó, lao động trẻ em luôn bị coi là bất hợp pháp, bao gồm: lao
động dƣới độ tuổi luật cho phép; lao động quá nhiều giờ; không đƣợc trả
công đầy đủ hoặc cản trở việc học hành của các em; lao động trong điều
kiện xấu, công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm hay có hại đến sự phát triển

tuổi) phải làm những công việc có ảnh hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện

14


của trẻ nhƣ: gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo
đức và xã hội của trẻ; hoặc thời gian làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ,
làm ảnh hƣởng đến thời gian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ.
Để hiểu rõ khái niệm lao động trẻ em, cần phân biệt với một số khái
niệm khác có liên quan, cụ thể nhƣ sau:
Trẻ em lao động (child labourer): “Thuật ngữ này đi liền với thuật ngữ
lao động trẻ em (child labour), chỉ những trẻ em bị rơi vào vòng xoáy của lao
động trẻ em, hay nói cách khác là nạn nhân của lao động trẻ em” [37].
Lao động chƣa thành niên (juvenile worker): Thuật ngữ này, nhƣ đã đề
cập ở trên, “thường để chỉ những lao động dưới 18 tuổi và không hoàn toàn
đồng nghĩa với lao động trẻ em. Lao động chưa thành niên có là lao động trẻ
em hay không tùy thuộc vào tính chất công việc, đặc điểm môi trường làm
việc, độ tuổi và thời gian làm việc của trẻ” [37].
Trẻ em làm việc (child work) là thuật ngữ “đề cập đến việc trẻ em tham
gia làm các công việc khác nhau, thông thường là nhẹ nhàng, có thể chấp
nhận được, được đưa ra nhằm mục đích phân biệt với khái niệm lao động trẻ
em mà được coi là chỉ những công việc không thể chấp nhận được đối với trẻ
em” [37]. Cụ thể, theo nhóm công tác khu vực về lao động trẻ em thì trẻ em
tham gia làm việc bao gồm các hoạt động không làm hại tới, và có thể góp
phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ trong khi lao động trẻ em bao gồm
tất cả những loại công việc do trẻ em đến 18 tuổi thực hiện mà có hại cho sức
khỏe, tinh thần, trí tuệ hay sự phát triển về mặt xã hội và ảnh hƣởng tới việc
học tập của trẻ em. Trẻ em làm việc không gây những tác động tiêu cực cho
sự phát triển của trẻ vì đó là những việc làm tự nguyện, phi lợi nhuận hay các
công việc trong gia đình. Những công việc này cũng cho trẻ những kỹ năng,

và theo lĩnh vực ngành nghề mà trẻ em làm việc.
* Phân loại theo tính chất nguy hại là cách thức đƣợc thực hiện trong
các Công ƣớc số 138 và 182 của ILO, trong đó lao động trẻ em đƣợc chia
thành các cấp độ tùy theo ảnh hƣởng tiêu cực của công việc với sự phát triển
của trẻ. Theo cách phân chia này, lao động trẻ em bao gồm: công việc nhẹ

16


nhàng, công việc thông thƣờng, công việc nguy hại và những hình thức lao
động trẻ em tồi tệ nhất [37].
Bảng dƣới đây khái quát những tình huống có thể coi là lao động trẻ em
dựa trên sự phân loại theo tính chất nguy hại từ các quy định có liên quan
trong các Công ƣớc 138 và 182 của ILO.
Bảng 1.1: Phân loại lao động trẻ em dựa theo tính chất nguy hại
Độ tuổi

Dạng công việc
Các công việc không nguy hại
(trong các ngành nghề không nguy
hại, thời giờ làm việc ít hơn 43
giờ/tuần)

Những hình thức lao động
trẻ em tồi tệ nhất

Công việc
nhẹ nhàng
(làm việc ít hơn


trẻ em trong
việc nhiều hơn
xung đột vũ
43 tiếng/tuần)
trang, các hoạt
động khiêu dâm
và bất hợp pháp)

5-11
12-14
15-17

Nguồn: Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em,
(Trong bảng này, phần được coi là lao động trẻ em được đánh dấu đậm)

17


Điều 7 Công ƣớc số 138 của ILO quy định công việc nhẹ là công việc:
(a) Không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát
triển của các em;
(b) Không ảnh hƣởng đến việc học tập, việc tham gia vào
những chƣơng trình hƣớng nghiệp hay đào tạo nghề đã đƣợc các
nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chƣơng trình
mà các em có khả năng tiếp thu [31].
Theo ILO, “công việc nhẹ của trẻ em từ 12 đến 14 là công việc mà
không phải là gây nguy hại và không vượt quá 14 giờ mỗi tuần” [41]. Định
nghĩa này đƣợc ILO đƣa ra dựa trên kết quả nghiên cứu về tác động của lao
động trẻ em đối với việc học tập và phát triển của trẻ.
Cả hai Công ƣớc số 138 và 182 của ILO xác định công việc nguy hại là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status