ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN XUYỀN
THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN
LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN
TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hµ Néi - 2012
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn
đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Xuyền
3
MỤC LỤC
Vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện
trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước............................ 29
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG........................... 31
2.1.
Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nƣớc đối với đất đai của chính
quyền cấp huyện........................... ........................... ................................ 31
2.1.1. Quy định quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
31
2.1.2. Quy định quản lý nhà nước về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất.......................................................................... ........................ 35
2.1.3. Quy định quản lý nhà nước về thu hồi đất........................... ...................... 39
2.1.4. Quy định quản lý nhà nước về đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản
lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...................... 48
2.1.5. Quy định về quản lý tài chính đất đai........................... .............................
54
2.1.6. Quy định về quản lý thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản ........................... ........................... ........................... .................. 57
2.1.7. Quy định về quản lý các dịch vụ công đất đai........................... ................ 58
2.1.8. Quy định về thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai; xử lý
2.4.7. Thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại,
tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất.............................
81
2.5.
Đánh giá thực tiễn thi hành Pháp luật về quản lý nhà nƣớc đối với
đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ........................... ............... 83
2.5.1. Đánh giá chung thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với
đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang........................... ..................... 83
2.5.2. Nguyên nhân hạn chế của phương thức thi hành pháp luật về quản lý
nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.................... 86
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI
CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG
93
3.1.
Giải pháp hoàn thiện phƣơng thức thi hành pháp luật, nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với đất đai của chính quyền huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang........................... ........................... ................. 93
3.1.1. Giải pháp hoàn thiện nội dung, phương thức thi hành pháp luật về quản lý nhà
nước đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang............... 93
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện công cụ bổ trợ cho hoạt động quản lý nhà nước đối
với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang................... 99
3.2.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
về quản lý nhà nƣớc đối với đất đai của chính quyền cấp huyện........... 102
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.
BĐS
Bất động sản
2.
CNQSD
Chứng nhận quyền sử dụng
3.
ĐKĐĐ
Đăng ký đất đai
4.
DN
Doanh nghiệp
5.
GPMB
Giải phóng mặt bằng
15. QLĐĐ
16. QLNN
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004
của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009
của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004
của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái đinh cư khi nhà
nước, thu hồi đất
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009
của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất,
giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của
Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng
đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Quản lý đất đai
Quản lý nhà nước
17. QSD
18. QSDĐ
Quyền sử dụng
19. TN&MT
20. TT 30
70
Bảng 2.3.1.
Mô tả điều tra nghiên cứu bằng phiếu hỏi......................................
71
Bảng 2.2.1.
Bảng 2.2.2 .
8
68
69
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con
người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp. Đất đai gắn liền với chủ
quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Quản lý đất đai là yêu cầu và là nhiệm
vụ hàng đầu của mỗi nhà nước trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào. Ngày nay khi xã hội
phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất…
ngày càng lớn thì đất đai lại càng trở lên quí hiếm hơn bao giờ hết. Do vậy, yêu cầu
quản lý để sử dụng đất một cách tiết kiệm, hiệu quả là là vô cùng cần thiết.
Là một cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước, chính quyền cấp huyện quản
lý một vùng miền nhất định với những nét đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên và xã
hội, có vai trò hết sức quan trọng trong quản lý đất đai theo mục đích yêu cầu đặt ra.
Tuy nhiên, QLNN về đất đai ở cấp huyện những năm gần đây bộc lộ nhiều vấn đề bất
Ngọc(1997) “ Chiến lược quản lý đất đai Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 ” với
nội dung nghiên cứu chủ yếu về công tác lập và quản lý quy hoạch sử dụng đất của
Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn tiến sỹ Luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003)
“ Địa vị pháp lý của người SDĐ trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai”,
nghiên cứu các quy định của pháp luật về địa vị của người SDĐ ảnh hưởng đến các
giao dịch đất đai cũng như việc quản lý, thúc đẩy sự phát triển của thị trường BĐS và
hoàn thiện pháp luật đất đai; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước của PGS-TS
Phạm Hữu Nghị (2000) “Những quy định về chuyển QSD đất”. Ngoài ra còn một số
đề tài khoa học cấp Bộ do Viện nghiên cứu Địa chính thực hiện; các bài báo viết về
các vấn đề cụ thể như: Thị trường BĐS, công tác GPMB, công tác cấp giấy chứng
nhận QSD đất ….[33].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về QLNN đối với đất đai của các nhà
khoa học đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong QLNN đối với đất đai nói chung
nhưng chưa mang tính chuyên sâu, chuyên đề về QLNN đối với đất đai của chính
quyền cấp huyện.
Những nghiên cứu chuyên sâu hơn về QLNN đối đất đai của chính quyền cấp
huyện có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Đánh giá thực trạng và những giải
pháp tăng cường công tác QLNN về đất đai tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
(2006) của tác giả TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn, trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên [31]; Luận án tiến sỹ kinh tế: “ Hoàn thiện QLNN về đất đai của chính quyền
quận Tây Hồ”(2007) của tác giả Nguyễn Thế Vinh [33].
10
Tuy nhiên các tác giả Nguyễn Khắc Thái Sơn và Nguyễn Thế Vinh quan tâm
nghiên cứu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp về tổ chức, hành chính nhằm tăng
cường hiệu quả QLNN về đất đai của chính quyền cấp huyện, chưa có những nghiên
cứu sâu sắc yếu tố pháp luật tác động đến hiệu lực, hiệu quả quản lý đất đai.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, Tác giả sử dụng phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác – Lê Nin về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; sử dụng phương pháp
thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp; sử dụng nguồn số liệu từ phương pháp thu thập
qua sách báo, các báo cáo của chính quyền huyện Tân Yên và số liệu thu thập từ điều
tra, phỏng vấn; kết hợp nghiên cứu lý luận với phân tích thực tiễn thi hành pháp luật
về QLNN đối với đất đai của chính quyền huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang để chứng
minh đề xuất giải pháp và kiến nghị liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận văn: Luận văn là công trình nghiên cứu
toàn diện, chi tiết những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai
của chính quyền cấp huyện và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với
đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Về mặt lý luận: Luận văn phân tích, bổ sung những lý luận cơ bản về quản lý
nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện; phân tích các vấn đề pháp lý về
quản lý nhà nước đối với đất đai trên cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước đối với đất đai
tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Về mặt thực tiễn: Luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp thích hợp hoàn
thiện phương thức thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với đất đai tại huyện Tân
Yên, góp phần thúc đẩy KT-XH huyện Tân Yên phát triển. Bên cạnh đó, những lý
luận mà Luận văn đưa ra có thể sử dụng cho chính quyền cấp huyện sử dụng trong
hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; hoàn thiện chính sách pháp luật về QLNN đối
với đất đai.
So với những công trình đã nghiên cứu, Luận văn kế thừa kết quả nghiên cứu
của những công trình nghiên cứu trước, bên cạnh đó, Luận văn đã có những nghiên
cứu, đóng góp cho hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai tại huyện Tân Yên nói
riêng và chính quyền cấp huyện nói chung. Luận văn có giá trị tham khảo đối với
những người quan tâm đến lĩnh vực quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung.
12
toàn dân về đất đai tại địa bàn theo quy định của pháp luật. Nhà nước thể hiện vai trò
chủ sở hữu đối với đất đai thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện và giám sát thực
hiện các chính sách về đất đai [34].
Cấp huyện là cấp chính quyền được thành lập để thực hiện chức năng QLNN
theo địa bàn. Trên thực tế, QLNN đối với đất đai là lĩnh vực quản lý chủ yếu của chính
quyền cấp huyện; những biến động về đất đai trong nền kinh tế thị trường diễn ra hàng
ngày, hàng giờ và chỉ có chính quyền địa phương mới có thể nắm bắt, giải quyết được
kịp thời, do vậy việc phân cấp cho chính quyền địa phương theo một thể thống nhất
trong quản lý là một xu thế của QLNN về đất đai [28].
Từ những vấn đề trên, tác giả đề xuất khái niệm: QLNN đối với đất đai trên địa
bàn cấp huyện là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực hiện và bảo vệ quyền đại
diện sở hữu đối với đất đai của Nhà nước trong phạm vi địa bàn huyện; là sự phối
hợp để thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý được giao của chính quyền cấp huyện với
các đơn vị khác thuộc hệ thống QLNN về đất đai theo pháp luật quy định, nhằm mang
lại môi trường thuận lợi nhất cho người SDĐ trong việc thực hiện các quyền và nghĩa
14
vụ của mình đối với đất đai; đảm bảo đất đai được sử dụng hiệu quả cao cho các mục
tiêu phát triển KT- XH vì con người, cộng đồng, xã hội cũng như bảo vệ môi trường
sống bền vững trên địa bàn huyện [33].
1.1.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện
Quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện theo các nguyên
tắc chủ yếu sau:
Một là, Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước đối với đất đai.
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân, vì vậy, chỉ có Nhà
nước, chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc
quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất
của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
đai hiện nay đòi hỏi chính quyền cấp huyện phải giải quyết, xử lý nhiều vấn đề do lịch
sử để lại như việc đòi lại đất cha ông, xử lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
lấn chiếm đất, đất sử dụng do được giao trái thẩm quyền...; việc giải quyết phải đảm
bảo kế thừa các quy định luật pháp của Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử
trong QLĐĐ qua các thời kỳ của cách mạng [33].
1.1.3. Mục đích quản lý nhà nước đối với đất đai của chính quyền cấp huyện
QLNN đối với đất đai nói chung và QLNN đối với đất đai của chính quyền cấp
huyện đều nhằm đảm bảo 3 mục đích cơ bản sau:
Một là, Đảm bảo SDĐ hợp lý, hiệu quả. Đất đai là một tài nguyên quý giá, tài
sản, tư liệu sản xuất đặc biệt, không tái tạo được, do vậy đất đai cần được sử dụng một
cách khoa học, tiết kiệm, nhằm mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và
tinh thần cho mọi người, đảm bảo đất đai được sử dụng lâu dài theo đúng mục đích,
đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ được phê duyệt. Ngoài ra, sự can thiệp của chính
quyền cấp huyện còn nhằm phát huy những tích cực và hạn chế tiêu cực. Trong thực
tế, xẩy ra nhiều trường hợp mâu thuẫn về lợi ích, mà tự bản thân nó không giải quyết
được, những mâu thuẫn đó thường là mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng
đồng, mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Để giải quyết được cần phải
có được sự tác động, hỗ trợ của chính quyền để bảo vệ lợi ích công cộng [32]; [33].
Hai là, Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và SDĐ. Các chính sách quản lý
của Nhà nước, nhằm bảo đảm sự phân bổ hợp lý giữa lợi ích thu được với chi phí phải
bỏ ra tương ứng cho các bộ phận dân cư khác nhau. Về nguyên tắc, Nhà nước không
để cho nhóm dân cư này gây tác hại cho nhóm dân cư khác mà không chịu sự trừng
16
phạt. Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường là tối
đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm
bảo sự công bằng. Ngoài ra chính sách đất đai của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho
mọi tầng lớp dân cư được tiếp cận với việc SDĐ được dễ dàng [33].
quyền cấp huyện nói riêng sử dụng 3 phương pháp chủ yếu sau:
Một là, Phương pháp hành chính. Là phương thức tác động trực tiếp của chính
quyền thông qua các quyết định dứt khoát có tính chất bắt buộc tác động đến đối
tượng quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu QLNN (ví dụ: quyết định giao đất, quyết định
thu hồi đất, quyết định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ...) cũng như các mệnh
lệnh hành chính và kiểm tra việc chấp hành các quy tắc mệnh lệnh hành chính.
Phương pháp hành chính có tác động ngay, có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết
định. Chính vì vậy, phương pháp hành chính rất cần thiết trong các trường hợp chính
quyền cấp huyện sử dụng công cụ hành chính để ban hành các quyết định hành chính
như: phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ, thu hồi đất đai, xử lý các vi phạm trong
quản lý và SDĐ... Khi ra các quyết định hành chính, người ban hành cần có đủ năng
lực quản lý, thu thập và phân tích thông tin nhằm đảm bảo cho quyết định hành chính
được thi hành; phải dự báo được những phát triển chính, tính toán đầy đủ các các lợi
ích, các khía cạnh có liên quan. Khi sử dụng quyết định hành chính cần gắn chặt
quyền hạn và trách nhiệm của người ra quyết định. Mỗi cán bộ, mỗi bộ phận phải có
trách nhiệm đầy đủ về việc sử dụng các quyền đó. Bởi vì, cấp ra quyết định càng cao
thì phạm vi ảnh hưởng của quyết định hành chính khi sai sót xảy ra càng lớn. Phương
pháp hành chính cần được phân biệt với kiểu quản lý hành chính quan liêu bao cấp, do
việc lạm dụng các kỷ luật hành chính, sử dụng các mệnh lệnh hành chính thiếu cơ sở
khoa học, theo ý muốn chủ quan, lạm dụng các quyết định hành chính trong QLNN về
kinh tế. Thường những quyết định, những mệnh lệnh hành chính kiểu đó dễ gây tổn
thất cho hệ thống, tạo cơ hội tốt cho tham nhũng, lãng phí trong QLNN về đất đai, gây
thiệt hại cho Nhà nước, làm giảm khả năng sáng tạo cho người quản lý và SDĐ [32];
[33].
Hai là, Phương pháp kinh tế. Là phương thức tác động vào đối tượng SDĐ
thông qua các lợi ích kinh tế. Là cách thức tác động gián tiếp của chính quyền cấp
huyện lên đối tượng quản lý nhằm làm cho họ quan tâm đến hiệu quả cuối cùng của
hoạt động, từ đó đối tượng tự giác, chủ động thực hiện theo yêu cầu quản lý. Phương
pháp kinh tế chính là phương pháp tác động thông qua sự vận động của các phạm trù
của chính quyền cấp huyện là tuyên truyền, vận động, giáo dục làm cho người dân và
cán bộ quản lý nâng cao tính tự giác, tính tích cực, nhiệt tình tham gia vào các hoạt
động QLNN về đất đai. Chẳng hạn như: tuyên truyền để người dân tham gia đóng góp
ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch SDĐ, chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước
19
khi thu hồi đất GPMB, tuyên truyền giáo dục Luật đất đai để người dân hiểu về quyền
lợi nghĩa vụ trách nhiệm của họ trong quản lý và SDĐ. Việc thực thi Luật đất đai tại
địa phương nhằm đem lại lợi ích cho đất nước, cho đại đa số nhân dân. Nhưng nếu
người dân không hiểu rõ lợi ích mà Luật pháp và mục đích của các hoạt động QLNN
về đất đai đem lại, thì họ sẽ không ủng hộ và không thực hiện. Khi đã hiểu, họ tự giác
tham gia vào các hoạt động QLNN về đất đai thì hiệu quả của quản lý và SDĐ càng
được nâng cao[32]; [33].
1.1.5. Công cụ quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện
Công cụ quản lý là vật truyền dẫn các tác động quản lý của chủ thể quản lý lên
các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình. Như vậy: công cụ
quản lý của nhà nước là các phương tiện hữu hình hoặc vô hình mà Nhà nước dùng để
tác động lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được các ý đồ, mục tiêu của mình. Công
cụ quản lý KT- XH của Nhà nước là hệ thống rất lớn và phức tạp, với những công cụ
chủ yếu như: luật pháp, kế hoạch, quy hoạch, các chương trình, chính sách, tổ chức bộ
máy... Trong QLNN đối với đất đai, chính quyền cấp huyện cũng sử dụng những công
cụ này, tuy nhiên thấy rõ nhất ở 4 công cụ chính là: pháp luật về QLNN đối với đất
đai, quy hoạch sử dụng đất, chính sách tài chính về đất đai, bộ máy QLNN về đất đai
của chính quyền cấp huyện.
Thứ nhất, Pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai.
Luật pháp là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật trước hết là
một trong những yếu tố đảm bảo và bảo vệ sự ổn định xã hội. QLNN đối với đất đai
của chính quyền cấp huyện dựa trên nền tảng là Luật Đất đai, và các luật khác có liên
Khi được phê duyệt, quy hoạch là cơ sở pháp lý để định đoạt mục đích SDĐ. Đây là
một công việc khó khăn và tốn kém cần được thực hiện bởi các cơ quan chuyên môn
để thể hiện sự tổng hợp trí tuệ của xã hội, cộng đồng [32]; [33].
Thứ ba, Chính sách tài chính đất đai.
Chính sách tài chính đất đai là một công cụ quan trọng trong QLNN đối với đất
đai của Chính quyền cấp huyện. Công cụ tài chính có tác động một cách trực tiếp đến
đầu tư, phát triển và đảm bảo đưa các quy hoạch, kế hoạch SDĐ thành hiện thực.
Công cụ tài chính gồm các quy định về nguồn thu ngân sách từ đất đai do Nhà nước
quy định có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết các nguồn lợi từ đất để thực
hiện mục đích công bằng, hiệu quả trong quản lý, sử dụng đất [32]; [33].
Thứ tƣ, Bộ máy quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện.
21
Chính quyền cấp huyện, gồm HĐND và UBND là chủ thể QLNN đối với đất
đai trên địa bàn, là cấp quản lý trung gian giữa chính quyền tỉnh và chính quyền xã.
Chính quyền huyện có phòng chuyên ngành quản lý đất đai, cấp xã có từ 1 đến 2 công
chức làm công tác quản lý đất đai.
Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trên địa bàn, chính quyền
cấp huyện thực hiện các quyền quản lý đối với đất đai thông qua phòng chuyên ngành
QLNN về đất đai nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng theo đúng pháp luật và quy
hoạch, kế hoạch SDĐ; khai thác và SDĐ ổn định, lâu dài và có hiệu quả cao nhất về
KT- XH trên địa bàn [32]; [33].
1.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với đất đai của chính quyền cấp huyện
Pháp luật đất đai quy định QLNN đối với đất đai gồm 13 nội dung, được áp
dụng cho các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Theo phân cấp quản lý,
chính quyền cấp huyện chủ yếu thực hiện 9 nội dung QLNN đối với đất đai như sau:
1.2.1 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất đai của cấp huyện là sự tính toán, phân bổ đất đai về số lượng,
nguyên ngày càng khan hiếm. Trong quy hoạch cần có những dự đoán về phát triển
KT- XH, và tính đến kết quả phân vùng SDĐ. Quy hoạch SDĐ là bài toán tổng hợp
xem xét toàn bộ các vấn đề về KT- XH nhằm giải quyết hài hoà các lợi ích trước mắt
và lâu dài, cá thể và cộng đồng, cục bộ và lãnh thổ.
1.2.2. Quản lý về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất.
LĐĐ 2003 định nghĩa Nhà nước giao đất, thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục
đích sử dụng đất như sau:
“Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định
hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng
cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý
theo quy định của Luật này.
Chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra
quyết định hành chính cho phép chuyển mục đích sử dụng với những diện tích đất cụ
thể từ mục đích này sang mục đích khác”[36].
Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích
23
sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử
dụng hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích
khác.
Quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích SDĐ là hoạt
động của cơ quan QLNN thực hiện quản lý về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho
phép chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất; thực hiện giao đất, cho thuê đất, cho phép
chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất. Đây là nội dung thể hiện rõ nét vai trò đại diện chủ
đối tượng sử dụng đất chủ yếu ở nước ta... Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền
cấp huyện cần tổ chức hệ thống đăng ký đất đai tại địa phương một cách tập trung,
thống nhất từ thủ tục, biểu mẫu hồ sơ địa chính đến các sổ địa chính, sổ mục kê đất
đai; coi trọng đúng mức việc lập và quản lý các giấy tờ chứng từ của quá trình thực
hiện thủ tục đăng ký (gồm đơn đăng ký, các hợp đồng chuyển quyền, các văn bản về
xác nhận về nguồn gốc quá trình sử dụng đất, xét duyệt của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền trong quá trình thực hiện đăng ký, các tài liệu này được coi như hồ sơ gốc
địa chính); quan tâm đến chất lượng, hiệu quả làm việc của văn phòng đăng ký QSD
đất và đội ngũ công chức địa chính tại các xã.
1.2.4. Quản lý tài chính đất đai
Quản lý tài chính luôn là nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước
đối với đất đai vì nó là quản lý các nguồn tài chính trực tiếp liên quan đến đất đai.
Quản lý tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu ngân
sách từ đất đai. Quản lý các nguồn tài chính trực tiếp liên quan đến đất đai là sự thể
hiện vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước trong việc thực hiện quyền sử
dụng đất đai [34].
Trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp huyện hiện
nay, vấn đề tài chính luôn có tính chất quyết định. Nhiệm vụ của chính quyền cấp
huyện phải thực hiện các khoản thu và chi về đất đai theo quy định của pháp luật.
Nguồn tài chính được giao phải được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Để thực
hiện tốt nội dung quản lý này, chính quyền cấp huyện cần chủ động tạo ra một môi
trường nhằm thu hút sự đa dạng các nguồn vốn để đầu tư hạ tầng làm tăng giá trị đối
với quỹ đất đang quản lý và thực hiện đấu thầu cho các tổ chức, tư nhân thuê đất.
Thông qua việc đầu tư, cho thuê đất sẽ tạo ra hiệu ứng tăng các khoản thu từ đất, cũng
như từ thuế của các hoạt động kinh doanh, tạo nguồn vốn đầu tư cho phát triển KTXH, giải quyết công ăn việc làm và các vấn đề xã hội khác. Các khoản thu từ đất phải
được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả như: xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, xây
dựng khu công nghiệp, khu kinh tế.. và phục vụ công tác QLNN đối với đất đai. Việc
25
huyện cần xây dựng một hệ thống dữ liệu số về BĐS thông qua việc đăng ký giao
dịch BĐS và giá giao dịch BĐS; các thông tin về đặc điểm đất đai, vị trí, hình dáng lô
26