Người bị hại trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam : Luận văn ThS. Luật: 60 38 40 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

THỊNH QUANG THẮNG

NGƯỜI BỊ HẠI
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

THỊNH QUANG THẮNG

NGƯỜI BỊ HẠI
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Chí

HÀ NỘI – 2010

thực tiễn áp dụng còn rất nhiều lúng túng và có nhiều quan điểm khác nhau… Từ
những vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng cũng như trong lý luận về
những người bị hại thì việc nghiên cứu làm rõ những quy định cụ thể về người bị
hại trong BLTTHS có vai trò ý nghĩa rất quan trọng trong cách hiểu và áp dụng
thống nhất, hơn nữa là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của họ. Vì vậy, đây là lý
do tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài “Người bị hại trong luật TTHS Việt
Nam”
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đề cập đến vấn
đề tranh tụng trong TTHS như: "Người bị hại trong TTHS" của tác giả Lê Tiến
Châu trong tạp chí khoa học pháp lý, trường Đại học luật; bài “người bị hại đã
yêu cầu khởi tố trình bày lời buộc tôi theo thủ tục nào?" của tác giả Hoàng Thị
Liên trong Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8/2006; bài "Một số vấn đề cần chú ý
khi xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án hình sự " đăng trong Tạp chí
Toà án nhân dân số 07/2009 của tác giả Đinh Văn Quế; Trong luận văn thạc sỹ
về đề tài: “Phân biệt các loại người tham gia tố tụng trong TTHS Việt Nam”của
tác giả Nguyễn Thị Phong - Đại học Luật Hà Nội... Nhưng những bài viết đó chỉ
đề cập đến một số vấn đề nhất định liên quan đến chế định người bị hại và còn
khá nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh ý kiến, quan điểm khái niệm, các
quyền và nghĩa vụ về người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại.
Như vậy, có thể nói rằng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện và sâu sắc về người bị hại trong TTHS với quy mô là một đề tài độc
lập, chuyên biệt về vấn đề này. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về người bị hại
trong Luật TTHS Việt Nam là cần thiết.

2


3. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
của luận văn

tổng thể trong phạm vi chung của tất cả các giai đoạn tố tụng: điều tra, truy tố,
xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam, chủ yếu tập trung trong phạm vi khoa học và
thực tiễn luật TTHS. Ngoài ra ở chừng mực nhất định có liên quan đến khoa học
luật hình sự, tội phạm học. Nghiên cứu quy định của BLTTHS Việt Nam,
BLTTHS Liên bang Nga, BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, BLTTHS
Cộng hoà Pháp, BLTTHS Cộng hoà Đức về người bị hại. Đánh giá thực trạng
hoạt động và vướng mắc của các Cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan
đến người bị hại trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các khoa
học: triết học, luật hình sự, luật TTHS, lôgic học, tội phạm học, điều tra hình sự
và các học thuyết chính trị pháp lý.
- Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật TTHS
thực định và hoạt động giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan THTT cũng như
các văn bản hướng dẫn về hoạt động TTHS khi giải quyết vụ án.
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Kết hợp với một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: hệ thống, lôgic, phân tích,
tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm

4


thực tiễn liên quan đến những vấn đề người bị hại trong TTHS, từ đó làm sáng
tỏ nội dung của luận văn.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về người bị
hại trong TTHS.

nguyên cáo”. Việc sử dụng thuật ngữ như thế nào phải thể hiện được bản chất,
nội dung, các điều kiện và sự chặt chẽ của thuật ngữ, theo quan điểm của chúng
tôi cho rằng trong mối quan hệ mà luật TTHS Việt Nam điều chỉnh thì dùng
thuật ngữ “Người bị hại” là phù hợp hơn cả.
Theo Từ điển tiếng việt có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong
xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của việc, hành vi hoặc sự bất kỳ sự tác động
nào khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất
nhiên là sự tác động trái ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một các thụ
động. Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật
chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại [34].
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người bị hại là người bị
thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị
hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần
hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân [14, tr 98].

6


Luật TTHS Việt nam coi người bị hại là con người cụ thể bị hành vi trực
tiếp xâm hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản [18, tr 127].
Pháp luật một số nước cũng có quy định chỉ coi người bị hại là con người
cụ thể bị tội phạm gây thiệt hại về thể chất, tinh thần tài sản, chẳng hạn khoản 1
điều 43 BLTTHS của Tiệp Khắc trước đây quy định: “người bị hại là người bị
tội phạm gây thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại
khác”. BLTTHS Rumani cũng có quy định tương tự. Như vậy, Luật TTHS Việt
Nam và một số nước đều có định nghĩa người bị hại là con người cụ thể bị tội
phạm xâm hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm
cho rằng nên coi cơ quan tổ chức cũng là người bị hại vì nên hiểu “người bị hại”
theo nghĩa rộng [12, tr 77-78] và một số nước cũng quy định người bị hại là cá
nhân, hoặc pháp nhân, tổ chức mà quyền mà lợi ích hợp pháp bị xâm hại như tại

với tư cách gì?
Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp mà tài sản thuộc sở hữu cá nhân, của
một nhóm người cùng góp vốn vào kinh doanh trong quá trình hoạt động lại bị
kẻ phạm tội gây thiệt hại, vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình
chủ sở hữu tài sản đó chỉ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự, liệu
có hợp lý? Liệu có đảm bảo sự bình đẳng trong khi về thực chất tài sản đó đều
của cá nhân.
Thứ ba: Nếu cho rằng tổ chức, pháp nhân bị người phạm tội trực tiếp xâm
hại về tài sản sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự thì sẽ không
có sự phân biệt thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gián tiếp gây ra

8


Thứ tư: Nếu quan niệm rằng hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức
là thiệt hại về tài sản như định tại điều 51 BLTTHS Việt Nam thì chúng ta giải
thích như thế nào khi thiệt hại do tội phạm gây ra cho tổ chức, pháp nhân là thiệt
hại về thương hiệu, về uy tín trong kinh doanh
Từ các quan điểm trên cho thấy Luật TTHS Việt Nam và một số nước đều
có quan điểm người bị hại phải là đối tượng bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại hay phải xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp
được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về sức khoẻ (do bị gây
thương tích, gây tai nạn hay bị người phạm tội vi phạm quy tắc nghề nghiệp gây
ra…), cũng có thể thiệt hại về tính mạng (bị giết, bị gây tai nạn…), thiệt hại về
tinh thần (như bị lăng nhục, bị xúc phạm đến danh dự nhân phẩm…). Do đó,
trong khoa học luật hình sự coi người bị hại là đối tượng tác động của tội phạm.
Người bị hại không những bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân
phẩm mà còn bị thiệt hại về tài sản như bị đánh cắp, bị chiếm đoạt tài sản… cũng
là thiệt hại về tài sản nhưng nếu người bị thiệt hại về tài sản là cá nhân thì họ
được coi là người bị hại.

bị hại. Còn nếu người bị hại thiệt hại trực tiếp không được CQTHTT xác định là
người bị hại thì người đó chỉ là nguyên đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án. Từ việc được xác định là người bị hại thì họ có quyền và
nghĩa vụ tố tụng như họ có đưa ra yêu cầu, cung cấp các tài liệu chứng cứ để
giúp CQTHTT xác định sự thật của vụ án để xác định đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật hay họ có quyền thuê luật sư để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình, hay được kháng cáo bản án của Toà án nếu họ không

10


nhất trí với một phần hay bản án về các vấn đề như dân sự, hình phạt đố với bị
cáo...
Từ những phân tích trên theo quan điểm của tôi có thể đưa ra khái niệm về
người bị hại là: “Người bị hại là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về
thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra được CQTHTT công nhận”
Khái niệm này bao hàm các đặc điểm của người bị hại như sau:
- Thứ nhất, về chủ thể, người bị hại là cá nhân, pháp nhân, cơ quan Nhà
nước hoặc tổ chức khác;
- Thứ hai, thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về vật chất, thiệt
hại về tinh thần, thiệt hại về vật chất. Tuy nhiên, cần lưu ý hậu quả của sự thiệt
hại không phải là điều kiện bắt buộc trong các trường hợp.
- Thứ ba, thiệt hại của người bị hại phải là đối tượng tác động của tội
phạm, tức là phải có liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra
cho người bị hại.
- Thứ tư, người bị thiệt hại chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là người
bị hại khi và chỉ khi được CQTHTT công nhận.
1.2. Phân biệt khái niệm người bị hại với một số khái niệm có liên quan.
12.1. Phân biệt khái niệm người bị hại với khái niệm nạn nhân.
Có quan điểm cho rằng người bị hại chính là nạn nhận của tội phạm. Theo

nhưng về bản chất, đặc trưng của chúng là hoàn toàn khác nhau. Khái niệm đối
tượng tác động của tội phạm rộng hơn khái niệm về người bị hại.

12


1.2.3. Phân biệt khái niệm người bị hại với khái niệm người có quyền,
nghĩa vụ liên quan.
Từ khái niệm phân tích ở trên, người bị hại là người bị thiệt hại về thể
chất, tinh thần tài sản do tội phạm gây ra. Song xét về hình thức, người bị thiệt
hại về thể chất, tinh thần tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại
trong TTHS khi họ được cơ quan có thẩm quyền công nhận và thông qua việc
triệu tập họ đến khai báo với tư cách là người bị hại. Trong trường hợp hành vi
phạm tội không bị phát hiện xử lý hoặc không xác định được người bị thiệt hại
mặc dù trên thực tế có người thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi
phạm tội gây ra thì người đó cũng không trở thành người bị hại trong vụ án hình sự.
Đối với tội xâm phạm tình mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con
người thì khi có vụ án xảy ra, việc xác định người bị hại không gặp mấy khó
khăn. Nếu người bị hại chết, người đại diện hợp pháp của họ được tham gia tố
tụng. Người đại diện hợp pháp của họ có đủ các quyền và nghĩa mà pháp luật
quy định cho người bị hại. Đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu. Nếu tài sản bị
chiếm đoạt, bị hư hỏng thì chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản
đương nhiên được xác định là người bị hại. Nhưng không phải vụ án nào cũng có
đối tượng tác động là con người, là tài sản. Mà đối tượng tác động có thể là hoạt
động bình thường của chủ thể, là trật tự nơi công cộng, trật tự quản lý hành
chính.
Việc xác định tư cách người bị hại đối với những tội danh mà tên tội đã
thể hiện đối tượng tác động không gặp mấy khó khăn. Trong thực tế, thường nảy
sinh bất cập trong việc xác định tư cách người bị hại và người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đến vụ án trong các vụ án liên quan đến các tội danh như: tội “Gây



Những người bảo vệ quan điểm này cho rằng: vận dụng lý luận về người
bị hại tại khoản 1 Điều 51 BLTTHS quy định “người bị hại là người bị thiệt hại
về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra”. Mặc dù hành vi gây
thiệt hại đó không cấu thành một tội riêng biệt, độc lập với tội danh mà người
phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng rõ ràng hành vi của người bị truy
tố về một tội phạm khác cũng đã gây thiệt hại về thể chất, về tinh thần về tài sản
cho người bị thiệt hại. Nếu không xác định họ là người bị hại mà chỉ coi họ là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì sẽ dẫn tới không công bằng trong xử
lý, bởi họ không có quyền kháng cáo về hình phạt đối với người đã gây ra các
thiệt hại cho họ.
Không phải bất cứ người nào bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản
cũng trở thành người bị hại. Họ có thể là người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan
đến vụ án. Khi những thiệt hại mà người phạm tội gây ra cho họ không phải là
kết quả trực tiếp của hành bi phạm tội đó.
Ví dụ: trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng” người phạm tội ngoài việc
xâm hại khách thề là an toàn nơi công cộng đã gây thiệt hại tới sức khỏe, tài sản
của một công dân. Nhưng những thiệt hại này chưa đủ yếu tố cấu thành một tội
độc lập, riêng biệt. Do vậy, người bị thiệt hại chỉ được coi là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án”.
Các văn bản pháp luật trước đây cũng đã chỉ rõ. Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm.
Song các CQTHTT vẫn triệu tập họ để giải quyết các vấn đề có liên quan đến vụ
án bao gồm:

15


- Người mà tài sản của họ bị người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương

sản…) thì người bị thiệt hại được xác định là người bị hại.
Còn đối với những tội danh khác, để tránh sự nhầm lẫn trong việc xác định
tư cách của người bị hại với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
thường căn cứ vào mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại với hành vi mà người
phạm tội đã thực hiện.
- Nếu thiệt hại là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, phù hợp với mục
đích của người phạm tội thì người bị thiệt hại được xác định là người bị hại.
- Nếu thiệt hại không phải là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, không
có mối liên hệ mật thiết với hành vi phạm tội, không phù hợp với mục đíchcủa
người phạm tội thì người bị thiệt hại được xác định là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án.
Có thể khái quát bằng sơ đồ sau:

Hậu
quả

- Có mối quan hệ
nhân quả với hành
vi phạm tội.
- Phù hợp với mục
đích của người
phạm
tội.có mối
- Không
quan hệ nhân quả
với hành vi phạm
tội.
- Không phù hợp
với mục đích của
người phạm tội.

chất mà cá nhân có thể bị thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Cơ quan, tổ
chức cũng có thể bị thiệt hại về uy tín do tội phạm gây nên. Như vậy, nguyên
đơn dân sự bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức; còn người bị hại chỉ là những
con người cụ thể.
Một tiêu chí khác để phân biệt hai chủ thể này là hành vi đưa đơn yêu cầu
bồi thường thiệt hại. Người bị hại đương nhiên được tham gia tố tụng vì hậu quả
đối với họ trong một số trường hợp được coi là một trong những yếu tố cấu
thành tội phạm, trong trường hợp khác lại được coi là tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hậu quả này chính là đối tượng cần chứng
minh trong vụ án. Hơn nữa họ có thể là người chứng kiến hành vi phạm tội (như
người bị gây thương tích, bị cướp tài sản…) Họ tham gia tố tụng không chỉ giúp
CQTHTT làm rõ hành vi của người phạm tội mà còn tham gia vì quyền lợi của
chính họ. Khác với điều đó, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có đơn

18


yêu cầu bồi thường. Hậu quả đối với nguyên đơn dân sự không phải là tình tiết
định tội, không có ý nghĩa với việc xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo,
Phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự là phân biệt hai loại người
tham gia tố tụng với hai tư cách khác nhau. Cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không
thuộc phạm vi để xem xét trong luận văn, vì trong thực tế không có sự nhầm lẫn
đối với trường hợp này mà chỉ nhầm lẫn khi họ là cá nhân.
Người bị hại, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có thiệt hại xảy
ra. Thiệt hại của người bị hại là thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần, tài sản từ
hành vi phạm tội.
Ví dụ: Do có mâu thuẫn với nhau từ trước A đã dùng dao để chém B. Anh
C là người có mặt tại đó đã vào can ngăn. Trong lúc vật lộn với A để tước đoạt
con dao anh C đã vị vỡ chiếc đồng hồ. A bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích”
anh B tham gia với tư cách người bị hại. Anh C có đơn yêu cầu bồi thường chiếc

định tội hoặc là tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo
- là hậu quả tiếptheo mà
người bị hại cần phải khắc
phục

Người bị thiệt hại
được xác định là

Người bị
hại

Người bị thiệt hại

Nguyên đơn
dân sự.

được xác định là

Sơ đồ 2: Phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự.
1.3. Vị trí, quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong luật TTHS.
Theo tinh thần cải cải cách tư pháp của Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của
Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: “xác định rõ
hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng theo hướng đảm bảo công khai, dân chủ, nghiêm minh”. Từ đó cho thấy
việc xác định người tham gia tố tụng trong đó có người bị hại có vị trí rất quan

20


thay đổi người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội
thẩm nhân dân, thư ký phiên toà), người giám định, người phiên dịch; đề nghị
mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; được tham gia phiên toà;
được kháng cáo bản án và quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như
về phần hình phạt đối với bị cáo.
Theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLTTHS Việt Nam thì người bị hại
hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của họ có quyền đưa ra những tài liệu, chứng cứ, đồ vật để chứng minh
hành vi phạm tội đã gây ra cho họ chẳng hạn như người thực hiên hành vi tội
phạm đã có hành vi cưỡng ép, dùng các phương tiện công cụ như dao, búa để tấn
công họ nhằm tước đoạt sinh mạng hay chiếm đoạt tài sản của họ.., chứng minh
và đưa ra những chứng cứ để chứng minh những thiệt hại mà họ phải chịu do
hành vi phạm tội gây ra như bị thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng, tinh thần (như bị
nhục mạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm…) hay về tài sản. Người bị hại cũng
có quyền đưa ra những yêu cầu để chứng minh tội phạm như triệu tập thêm
người làm chứng, yêu cầu giám định mức độ tỷ lệ thương tật, yêu cầu người
phiên dịch trong trường hợp người bị hại là người không sử dụng được ngôn ngữ
tiếng việt… để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
- Được thông báo về kết quả điều tra: người bị hại có quyền được thông
báo kết quả điều tra của cơ quan điều tra để họ biết những vấn đề thuộc nội dung
vụ án, trên cơ sơ đó để họ chuẩn bị những chứng cứ, lý lẽ hoặc yêu cầu để buộc
tội bị cáo hoặc để chứng minh những thiệt hại mà bị can, bị cáo gây ra cho mình.

22


- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của BLTTHS. Chẳng hạn như theo quy định tại điều 42
BLTTHS thì khi tham gia phiên toà thì họ có quyền yêu cầu thay đổi khi họ thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status